Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Hoàng Kim Sách, Thiên Kim Phú Câu 1 Đến 39: Dụng Thần, Nhật Nguyệt

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202631 phút đọc6 lượt đọc
Hoàng Kim Sách, Thiên Kim Phú Câu 1 Đến 39: Dụng Thần, Nhật Nguyệt

Hoàng Kim Sách, còn gọi là Thiên Kim Phú, được xem như xương sống lý luận của khoa Lục Hào. Hai mươi sáu câu đầu của bài phú đặt nền cho toàn bộ phép đoán, bàn về Dụng Thần, Nhật Thần, Nguyệt Kiến, Thái Tuế, Quái Thân, Thế Ứng, Tuần Không, Nguyệt Phá cùng các phép sinh khắc, hợp xung. Từ nền tảng ấy, các câu 27 đến 39 đi sâu hơn vào Nhật Thần, Nguyệt Kiến, Phục Thần, Tam Hình, Tam Hợp và trường hợp Quan Quỷ trì Thế. Vì vậy, ba mươi chín câu này vừa định nghĩa các thành phần của quẻ, vừa chỉ ra cách chúng tác động lẫn nhau, khiến không hào nào đứng một mình. Cũng từ những câu phú ấy, sức của ngày và tháng hiện ra như thứ có thể quyết định cả một quẻ.


Hoàng Kim Sách: câu 1–26

Hoàng Kim Sách (Tổng Đoán) do Lưu Bá Ôn soạn, đi cùng Thiên Kim Phú được trực giải theo từng câu.

1.

動靜陰陽反覆遷變

Động tĩnh âm dương phản phúc thiên biến

Âm dương động tĩnh đổi thay thay đổi vô cùng.

Động hào là hào giao 交 và trùng 重, tĩnh hào là hào đơn 單 và sách 拆. Hào Giao và Sách thuộc âm, hào Đơn và Trùng thuộc dương. Nếu hào là Đơn và Sách thì an tĩnh, hào an tĩnh thì không có lý biến hóa. Nếu hào là Giao và Trùng thì phát động, hào phát động thì trước sau cũng có biến đổi. Như Giao Giao Giao vốn là quẻ Khôn thuộc âm, nhân vì động nên biến thành Đơn Đơn Đơn Càn thuộc dương.

Nói chung vật động thì biến. Vì sao Giao biến thành Đơn, Trùng biến thành Sách? Đều do chữ "Động" đã lý giải ý nghĩa của chữ "Cực". Người xưa bảo "Vật cực tắc biến, khí mãn tất khuynh" (Vật đến cùng cực tất biến, vật tràn đầy tất nghiêng). Giả như trời cực nóng thì sẽ nổi gió mây, nếu mưa gió quá mức thì sẽ ngưng tạnh. Cho nên người xưa ví: "Lúa giã thành gạo, gạo nấu thành cơm". Nếu không giã gạo, nấu cơm là không làm nó động thì lúa vẫn nguyên lúa, gạo vẫn nguyên gạo. Không động thì không biến. Trong việc phát động cũng có biến thành tốt, biến thành xấu. Dương cực tất biến Âm, Âm cực tất biến Dương. Đó là ý nghĩa "Động tĩnh Âm dương phản phúc thiên biến".

2.

雖萬象之紛紜須一理而融合

Tuy vạn tượng chi phân vân, tu nhất lý nhi dung hợp

Tuy vạn loại rối rắm, chỉ cần một lý là thông suốt.

Câu này chỉ giảng được một chữ "Lý", chữ "tượng" phải giảng là "ban" (loại). Lý là lý trung dung. Trong những tác dụng hình xung, phục hợp, động tĩnh, sinh khắc, chế hóa có một cái lý chắc chắn không đổi. Cái lý của quẻ này luận đến chỗ cùng cực của trung dung. Tuy vạn loại rối rắm mà một lý ấy có thể thông suốt hết.

3.

夫,人有賢不肖之殊, 卦有過不及之異.
太過者損之斯成, 不及者益之則利

Phù, Nhân hữu hiền bất tiếu chi thù - Quái hữu quá bất cập chi dị.
Thái quá giả tổn chi tắc thành - Bất cập giả ích chi tắc lợi

Này, người đời có hiền ngu khác biệt - Quẻ có thái quá, bất cập chẳng giống nhau. Thái quá thì bớt đi sẽ thành - Bất cập thì thêm vào tất lợi.

Hiền ngu khác nhau là cái chẳng đồng đều của con người, quá và bất cập là cái không đồng đều của hào trong quẻ. Người lấy đức của trung dung làm chủ, quẻ lấy tượng trung hòa làm đẹp. Đức chủ ở trung dung nên nơi nào cũng thiện, tượng đạt trung hòa nên cầu gì cũng được. Cho nên trong quẻ, động tĩnh, sinh khắc, hợp xung, Không phá, vượng suy, Mộ Tuyệt, hiện phục đều mang cái lý thái quá và bất cập trong đó.

Phàm lý của quẻ chỉ luận được đạo trung hòa. Giả như loạn động thì chỉ cần tìm hào độc tĩnh. An tĩnh thì chỉ cần xem ngày phùng xung. Tuần không thì cần xuất Tuần, trị nhật. Nguyệt phá thì đợi hợp. Tĩnh thì đợi xung. Khắc xứ phùng sinh, Tuyệt xứ phùng sinh, Xung trung phùng hợp, Hợp xứ phùng xung. Những phép này thì chỉ là "thái quá bớt đi sẽ thành, bất cập thêm vào thì lợi".

Ngày xưa có nói về chú thích: Thái quá là Dụng thần hiện nhiều. Nếu Dụng thần chỉ ở một vị trí không vượng hoặc được mùa là vô khí, ấy là bất cập. Giải thích này thật nông cạn, không biết rằng trong quẻ không đâu là không có thái quá và bất cập. Động tĩnh, sinh khắc, hợp xung, Tuần không Nguyệt phá, vượng suy, Mộ Tuyệt, phục tàng xuất hiện, mỗi loại cũng có thể là thái quá, cũng có thể là bất cập. Chính trong chỗ linh động này tự có sự huyền diệu. Học giả nên để tâm tham cứu.

4.

生扶拱合時雨滋苗

Sinh phù củng hợp, thời vũ tư miêu

Sinh phù, cùng hợp là mạ được mưa tưới đúng lúc.

Sinh ta và hào Dụng thần là Sinh, Phò ta và Dụng hào là Phù. Củng ta và Dụng hào là Củng, Hợp ta và Dụng hào là Hợp. Sinh là như Kim sinh Thủy chẳng hạn, Ngũ hành tương sinh. Phù là như Hợi phù Tí, Sửu phù Thìn, Dần phù Mão, Thìn phù Mùi, Tị phù Ngọ, Mùi phù Tuất, Thân phù Dậu. Củng tức như Tí củng Hợi, Mão củng Dần, Thìn củng Sửu, Ngọ củng Tị, Mùi củng Thìn, Dậu củng Thân, Tuất củng Mùi. Hợp gồm có Nhị hợp, Tam hợp, Lục hợp. Nhị hợp tức như Tí hợp Sửu chẳng hạn; Tam hợp như Hợi Mão Mùi hợp thành Thủy cục chẳng hạn; Lục hợp tức quẻ Lục hợp.

Câu này cũng nối tiếp với câu trên: "Bất cập thì nên thêm vào" mà thôi. Nếu Dụng thần suy nhược bị xung phá, được sinh phò, cùng hợp như cây mạ gặp hạn được mưa, tức mà đột nhiên đâm chồi. Nếu trong quẻ Kỵ thần suy nhược xung phá, được sinh phò cùng hợp, ấy là giúp Trụ làm việc ác, họa càng nặng. Học giả nên phân biệt.

Ba câu sau đây cũng phỏng theo như thế.

5.

剝害刑冲秋霜殺草

Khắc hại hình xung, thu sương sát thảo

Khắc, Hại, Hình, Xung như sương thu giết cỏ.

Khắc là tương khắc, như Kim khắc Mộc chẳng hạn; Hại là Lục hại tức Tí hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tị, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dậu hại Tuất; Hình là như Dần Tị Thân chẳng hạn; Xung là như Tí Ngọ tương xung chẳng hạn. Đây cũng là nối tiếp câu trên, nếu Dụng thần suy nhược và không được Sinh phù cùng hợp, ngược lại bị Khắc hại hình xung, cho nên ví như sương thu giết cỏ. Nói chung ba loại Hình, Khắc, Xung trong quẻ thường nghiệm, còn Lục hại không ứng nghiệm, cần phải nói rõ.

6.

長生帝旺爭如金谷之園

Trường Sinh, Đế Vượng tranh như Kim Cốc chi viên

Trường Sinh, Đế Vượng dành được vườn Kim Cốc.

Trường Sinh tức như Hỏa có Trường sinh ở Dần chẳng hạn, Đế Vượng tức như Hỏa có Đế Vượng ở Ngọ chẳng hạn. Dụng thần gặp Sinh Vượng, tuy suy nhược cũng luận là hữu khí, cho nên dùng vườn Kim Cốc để ví. Câu này luận Dụng thần được Trường Sinh, Đế Vượng tại Nhật thần. Câu này không nói là Trường Sinh, Đế Vượng tại Biến hào. Nếu nói Sinh, Vượng tại Biến hào là lầm.

Giả như Ngọ hỏa biến thành Ngọ hỏa, đó là quẻ Phục ngâm, có gì mà tốt, làm sao ví với vườn Kim Cốc? Nói chung Dụng thần Đế Vượng ở Nhật thần chủ nhanh chóng; Trường Sinh tại Nhật thần chủ chậm chạp. Vốn Trường sinh giống như người mới sinh, nuôi dưỡng lớn lên dần; Đế Vượng giống như lúc trai tráng, sức đang mạnh, vì thế Trường Sinh thì chậm mà Đế Vượng thì nhanh.

(Kim Cốc là tên vườn hoa của Thạch Sùng thuộc huyện Lạc Dương tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Thạch Sùng là người kinh doanh giàu có đời Tấn.)

7.

死墓絕空乃是泥犁之地

Tử Mộ Tuyệt Không nãi thị nãi lê chi địa

Tử, Mộ, Tuyệt, Không là đất địa ngục.

Tử, Mộ, Tuyệt đều khởi từ Trường Sinh; Không là Tuần không; Tử là chết, giống như người bị bệnh mà chết; Mộ là che lấp, giống như chết đem chôn dưới mồ; Tuyệt là cắt đứt giống như người chết gốc rễ đều đứt; Không là rỗng như ở vực sâu lạnh lẽo, người không thể tới được. Nãi lê là tên địa ngục, ý nói hung hại. Bốn điều trên cùng với Khắc hại hình xung ý nghĩa giống nhau, lại dẫn ý "thái quá và bất cập". Nếu Dụng thần không được sinh phù cùng hợp, ngược lại bị Tử Mộ Tuyệt Không, nên lấy địa ngục mà ví.

Đại khái hào ở trong quẻ chỉ dùng được với 3 yếu tố Trường Sinh, Mộ, Tuyệt, xét Nhật thần, xem Biến hào. Duy Mộc Dục, Quan đới, Lâm quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Thai, Dưỡng không thể xem ở Biến hào, vì ở trường hợp động mà biến thành như thế thì dùng Sinh khắc xung hợp, Tiến thần, Thoái thần, Phản ngâm, Phục ngâm mà luận.

8.

日辰為六爻之主宰喜其滅項安劉

Nhật thần vi lục hào chi chúa tể, hỉ kỳ diệt Hạng nhi an Lưu

Nhật thần là chúa tể của sáu hào, mừng nếu diệt được Hạng Vũ để Lưu Bang yên ổn.

Nhật thần là chúa tể trong Bốc phệ, không xem Nhật thần thì không thể biết tình trạng nặng nhẹ về hung cát của quẻ. Nhật thần vốn có thể xung khởi, xung thực, xung tán. Các hào động Không, tĩnh vượng, có thể hợp điền; các hào bị Nguyệt phá; suy nhược thì có thể trợ giúp, cường vượng thì có thể chế phục, phát động thì có thể chế, phục tàng thì có thể đề bạt, để có thể thành việc, có thể hư việc, cho nên gọi là chúa tể của sáu hào.

Như Kỵ thần vượng động, Dụng thần hưu tù, nếu được Nhật thần khắc chế Kỵ thần, sinh phù Dụng thần thì mọi việc chuyển hung thành cát. Cho nên mới gọi là "diệt Hạng an Lưu".

9.

月建乃萬卦之提綱豈可助紂而為虐

Nguyệt kiến nãi vạn quái chi đề cương, khởi khả trợ Trụ nhi vi ngược

Nguyệt kiến là đề cương của vạn quẻ, há đi giúp Trụ làm ác.

Nguyệt kiến là cương lĩnh của Bốc phệ, Nguyệt kiến có thể cứu giúp mà có thể phá hại. Cho nên mới bảo là đề cương của vạn quẻ. Nếu trong quẻ có Kỵ thần phát động khắc thương Dụng thần, nếu Nguyệt kiến lại sinh phò Kỵ thần đó, đó là giúp Trụ làm ác. Nếu Kỵ thần khắc Dụng thần mà lại bị Nguyệt kiến khắc chế Kỵ thần, sinh phò Dụng thần tất cứ giúp sự việc.

Phàm xem Nguyệt kiến chỉ luận được sinh khắc, giống với Nhật thần. Nói chung quyền tạo họa phúc bởi Nguyệt kiến chỉ trong tháng, không thể từ đầu đến cuối sự việc, nhưng Nhật thần thì bất luận việc dài lâu mấy nữa, cuối cùng cũng tạo ảnh hưởng. Ấy vì 12 giai đoạn Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới… liên quan đến Nhật thần, còn với Nguyệt kiến chẳng qua chỉ luận đến Nguyệt phá, hưu tù, vượng tướng, sinh khắc. Nay có người nói Suy, Bệnh, Tử, Mộ ở Nguyệt kiến là không tốt là những điều truyền lại không thể tin được.

10.

最惡者歲君宜靜不宜動

Tối ác giả Tuế quân, nghi tĩnh nhi bất nghi động

Ác nhất là Tuế quân, nên tĩnh không nên động.

Tuế quân tức Thái tuế của năm, tượng Thiên tử. Đã là quá ác, há không thể là quá thiện sao? Đã nên an tĩnh, há không nên phát động sao? Nếu hào Thái Tuế lâm Kỵ thần phát động đến xung khắc Thế thân, Dụng hào chủ tai ách bất lợi, trong năm thường nhiều lộn xộn. Cho nên bảo là quá ác, nên an tĩnh.

Câu nói này ý nói Tuế quân lâm Kỵ thần thì nên tĩnh không nên động. Nếu hào Thái Tuế động đến sinh hợp hào Thế thân, chủ thường gặp may mắn, trong năm hỉ khánh gia tăng, đáng bảo là "rất thiện", cũng nên phát động. Nếu Dụng thần lâm Thái Tuế tất việc liên quan đến triều đình, nếu Nhật thần, động hào xung Dụng hào là phạm thượng. Bất kể luận công hay tư đều nên thận trọng.

11.

最要者身位喜扶而不喜傷

Tối yếu giả Thân vị, hỉ phù nhi bất hỉ thương

Quan trọng nhất là hào Thân, thích phò trợ mà không thích bị thương khắc.

Thân tức Nguyệt quái thân. Thế ở hào dương thì khởi từ tháng Tí, Thế ở hào âm thì khởi từ tháng Ngọ… Đó là phép an Quái thân. Đại khái sau khi lập quẻ, xem Quái thân có hiện hay không, có sự can thiệp của Nhật thần, Nguyệt kiến, động hào hay không, tất biết hung cát. Bói việc tất sự thể, bói về người tức nhân thân. Chỉ thích được sinh phù cùng hợp, không nên bị khắc hại hình xung. Phàm xem quẻ lấy Thân là chủ việc coi. Cho nên bảo là "Rất quan trọng".

(Đây là chú thích của Vương Hồng Tự trong tác phẩm này, một số tác phẩm khác không coi trọng Quái Thân, cho Thân ở đây chỉ là Thế mà thôi. Và không chỉ ở câu này mà còn ở nhiều câu phú khác nữa.)

12.

世為己應為人大宜契合 - 動為始變為終最怕交爭

Thế vi kỷ, Ứng vi nhân đại nghi khế hợp
Động vi thủy, Biến vi chung tối phạ giao tranh

Thế là mình, Ứng là người, rất cần phối hợp. Động là đầu, Biến là cuối sợ nhất chống nhau.

Giao trùng là động. Động thì dương biến âm, âm biến dương. Trong quẻ gặp như thế phải lấy hào động làm khởi đầu sự việc, biến hào làm kết thúc sự việc. Hào phát động biến thành khắc, biến thành xung ấy là giao tranh. Phàm Thế Ứng nên sinh hợp Dụng thần, sợ biến khắc xung.

13.

應位遭傷不利他人之事 - 世爻受制豈宜自己之謀

Ứng vị tao thương, bất lợi tha nhân chi sự
Thế hào thụ chế khởi nghi tự kỷ chi mưu

Ứng bị thương khắc thì bất lợi việc cho người. Thế hào bị chế, há nên mưu sự cho mình sao?

Vị trí của Ứng phải dựa vào Dụng thần mới biết rõ. Như xem cho người khác, tùy người mà có Dụng thần khác nhau. Như xem cho người sơ giao cùng với người không định được cấp bậc đối với mình thì dùng hào Ứng làm người đó. Nếu xem cho bạn của cha, chủ nhà, thầy dạy thì Phụ Mẫu là Dụng thần; xem cho bạn của con cháu, thì hào Tử Tôn là Dụng thần; xem cho thê thiếp, nô tì thì hào Thê Tài là Dụng thần. Bạn của cha, bạn của mình cho đến bạn của con cháu, tuy là người khác phải phân biệt xưng hô già trẻ ra sao mà dùng, không thể đại khái dùng hào Ứng để khỏi đoán lầm.

Như xem việc lợi hại cho chính mình, lấy hào Thế là chính mình. Thế bị khắc chế, há nên tự mình mưu sự sao?

14.

世應俱空人無准實

Thế Ứng câu không, nhân vô chuẩn thực

Thế Ứng đều Không, ta và người đều không thật lòng.

Câu này cũng nối theo câu trước mà nói đến Thế Ứng. Nhưng phàm mưu sự, thế tất phải nhờ người khác. Thế lâm Không tất tự mình không thật lòng, Ứng lâm Không thì người khác không thật lòng. Nếu Thế và Ứng đều Không thì ta và người chẳng thật lòng với nhau. Thế Ứng hợp mà lâm Không thì hư ước không giữ chữ tín. Nếu nhờ trưởng bối mưu sự mà được hào Phụ Mẫu sinh hợp Thế hào, thì nhờ cậy được ích lợi, nếu Ứng lại lâm Không thì tuy được sức của trưởng bối nhưng một bên không thật lòng, cũng khó thành việc được.

15.

內外兢發事必翻騰

Nội ngoại cạnh phát, sự tất phiên đằng

Trong và ngoại tranh động thì sự việc lộn xộn.

"Cạnh" là xung khắc, "phát" là động. Phàm xem gặp quẻ nội ngoại quái loạn động, xung khắc loạn xạ, nhân tình bất thường, chủ việc tráo trở, lộn xộn.

16.

世或交重兩目顒瞻於馬首 - 應如發動一心似托於猿攀

Thế hoặc giao trùng, lưỡng mục cố chiêm ư mã thủ
Ứng như phát động nhất tâm tự thác ư viên phan

Thế giao hoặc trùng như ngựa ngước hai mắt mà nhìn. Ứng nếu động thì lòng giống như vượn leo cây.

Ngựa ngước nhìn hoặc sang đông hoặc sang tây, vượn leo cây tất trong lòng không định. Thế là lấy mình mà nói, Ứng là lấy người mà nói. Sách có ghi: "Ứng động sợ người khác thay đổi, Thế động tự mình do dự", đều là nói đổi thay chuyển biến, không thể giữ một lòng.

Câu này cũng dẫn từ câu ở trước, Thế Ứng là người và ta, lại dẫn ý tranh cạnh tráo trở để nói, hung cát của sự việc nói chung cũng không ngoài sinh phò cùng hợp, hình xung khắc hại.

17.

用神有氣無他故所作皆成 - 主象徒存更被傷凡謀不遂

Dụng thần hữu khí vô tha cố, sở tác giai thành
Chủ tượng đồ tồn cánh bị thương, phàm mưu bất toại

Dụng thần hữu khí không bị cớ nào khác, việc làm đều thành. Chủ tượng vô ích lại bị thương, mọi mưu sự không xong.

Dụng thần là như xem văn thư, trưởng bối lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần chẳng hạn. Chủ tượng cũng là Dụng thần. Chữ "cố" nên viết là "bệnh". Sao gọi là bệnh? Phàm Dụng thần gặp hình xung khắc hại, ấy là bệnh. Như trong quẻ Dụng thần vượng tướng gặp bệnh, có thể đợi lúc trừ hết bệnh, cũng thành việc. Nếu vượng tướng mà không bị hình xung khắc hại, mưu sự gì cũng theo ý muốn, không gì là không thành.

Nếu Dụng thần suy nhược, vô khí mà lại gặp Nguyệt kiến, Nhật thần hình xung khắc hại, giống như một người không đủ khí tiên thiên, suy nhược quá mức, há có thể tăng thêm bệnh sao? Cho nên hào suy nhược mà bị hình thương khắc hại, mọi việc đều uổng phí tâm lực, cuối cùng chẳng thành tựu.

Vốn hào Dụng tuy xuất hiện mà không được sinh trợ, trong quẻ lại không có Nguyên thần, nếu lại gặp Không, Phá ấy là Chủ tượng "đồ tồn", "đồ tồn" là hiện diện vô ích, mưu sự nào cũng khó toại ý.

18.

有傷須救

Hữu thương tu cứu

Bị thương nên được cứu.

Thương là Thần khắc hại Dụng thần. Cứu là Thần che chở Dụng thần. Như Thân kim là Dụng thần bị Ngọ hỏa phát động khắc, tất hào Thân bị thương, nếu được Nhật thần là Tí, hoặc động hào là Tí thì Tí khử, xung Ngọ hỏa, hoặc ngày Hợi, hào Hợi chế phục Ngọ hỏa tất Ngọ hỏa bị chế, Thân kim há không phải là có cứu tinh sao?

Nếu Nguyệt kiến xung khắc Dụng thần, được Nhật thần sinh hợp Dụng thần, lại hoặc Nhật thần khắc Dụng thần, trong quẻ lại động một hào sinh Dụng, đó là bị thương mà được cứu. Phàm gặp bị thương được cứu thì mọi việc trước khó sau dễ, trước hung sau cát. Dụng thần được cứu vẫn như nhau.

19.

無故勿空

Vô cố vật Không

Vô cố chớ nên Không.

"Cố" có nghĩa "bị thương", "vật" phải có nghĩa là "không". Nói chung hào có Tuần không, an tĩnh mà lại gặp Nguyệt kiến, Nhật thần khắc chế tức bị Không thái quá, tức xuất Tuần gặp trị nhật, cũng không thể cát, không thể hung. Loại Tuần không này cuối cùng là Không vô dụng. Nếu hào có Tuần không mà phát động, hoặc được Nguyệt kiến, Nhật thần sinh phù cùng hợp, hoặc Nhật thần xung khởi nó, hoặc động hào sinh hợp với nó, đó là Không vô cố, đợi xuất Tuần gặp trị thì được việc. Cho nên gọi là hào "Không vô cố" (hào lâm Không không bị thương).

Tuy ở Tuần không mà không bị Nguyệt kiến, Nhật thần khắc thương, không thể luận là Không thật sự. Lại như Dụng thần hóa hồi đầu khắc, lại bị hợp Cục khắc, bị khắc quá nhiều, há không bị thương sao? Nếu Nhật Nguyệt không thương khắc nó, Dụng thần một khi lâm Không tất không chịu khắc, cũng gọi là "vô cố".

Ngày xưa có nói về "tị hung" (tránh hung), cũng gần với lý "vô cố". Xưa chú thích nhầm là "hào không bị thương khắc thì không nên có Không, nếu bị Nhật Nguyệt khắc thì nên có Không" là mất diệu chỉ của tiên thiên, lại làm sai ý của câu văn nữa.

20.

空逢冲而有用

Không phùng xung nhi hữu dụng

Không gặp xung mà hữu dụng.

Nói chung hào trong quẻ gặp Tuần không, người đời nay không kể hung hay cát đều đoán là vô dụng, riêng chẳng biết là nếu bị Nhật thần xung cũng có chỗ dùng được. Vốn xung tất phải động, động thì không phải Không, cho nên "Không gặp xung mà hữu dụng".

21.

合遭破以無功

Hợp tao Phá dĩ vô công

Hợp gặp Phá nên vô ích.

Câu này chỉ nói về "hợp xứ phùng xung" (hợp gặp xung). Vốn hào trong quẻ gặp hợp, như đồng lòng hợp sức, việc tất được trợ giúp. Phàm mưu sự gì muốn thành tựu mà gặp được thế tất không gì mà không thành. Nếu Hợp mà gặp Xung hình phá khắc, sợ gặp gian trá tiểu nhân, phá phách hai bên, tất sinh lòng nghi kỵ. Như Dần hợp với Hợi, nếu gặp ngày Thân, hoặc gặp hào Thân động xung khắc Dần mộc, tất hại Hợi thủy. Cho nên mới bảo: "Hợp gặp Phá thì vô ích".

Hợp thì thành, ý nói hòa hợp. Phá là tan, ý nói là phá mở ra. Phàm việc muốn thành mà gặp "hợp xứ phùng xung", thì việc thành rồi lại tan. Phàm muốn việc tán mà gặp quẻ có "hợp xứ phùng xung" thì toại ý. Nếu "xung trung phùng hợp" (trong xung gặp hợp) thì ngược lại như thế.

22.

自空化空必成凶咎

Tự Không hóa Không tất thành hung cữu

Tự lâm Không hay động hóa Không thì trở thành hung xấu.

Tự Không là Dụng thần lâm Không, hóa Không là Dụng thần động hóa thành Tuần không. "Hung cữu" ý nói không thành việc được. Câu này nối tiếp câu trên về mưu sự, nếu Dụng Không hoặc hóa Không, thì động là có biến đổi mà Không thì nghi hoặc, việc tất không thành. Cho nên mới bảo là "hung cữu".

23.

刑合克合終見乖淫

Hình hợp khắc hợp, chung kiến quai dâm

Hình Hợp, khắc hợp cuối cùng gặp ngang trái.

Hợp ý nói là "hòa hợp", phàm quẻ gặp vậy thì việc gì cũng lợi. Nhưng không biết là trong hợp có hình có khắc. Hợp mà bị khắc, cuối cùng sẽ không hòa hợp, mà bị Hình cuối cùng sẽ ngang trái. Như Dụng thần là Mùi Tài hào, Ngọ là hào Phúc, Ngọ hợp với Mùi, nhưng Ngọ mang tự Hình, thì gọi là "Hình hợp". Lại như Tí là Tài hào, Tí hợp với Sửu, Sửu thổ lại khắc Tí thủy, ấy là "Khắc hợp", như xem về thê thiếp, trước hợp sau phản, mọi việc cuối cùng sẽ ngang trái.

24.

動值合而絆住

Động trị Hợp nhi bạn trú

Động gặp Hợp thì ràng buộc.

Nói chung hào động không gặp hợp, rồi sẽ động. Nếu có hợp thì bị ràng buộc mà không thể động. Đã không thể động thì không thể sinh khắc gì cả. Như hào hợp với Nhật thần, thì phải đợi đến ngày xung với hào này, mới ứng được hung hoặc cát. Như hào khác động đến hợp với hào này thì mới đợi ngày xung hào đến hợp này, mới ứng hung hay cát của sự việc. Giả như Dụng thần Sửu thổ là Tài hào hợp với ngày Tí, đợi ngày Mùi mới ứng việc; nếu hào Tí đến hợp thì đợi ngày Ngọ mới ứng việc. Lại như hào Tử Tôn động mà bị Nhật thần hợp, thì không thể sinh được Tài, đợi đến lúc xung khai làm động Tử Tôn mới có tài được. Ngoài ra cứ phỏng như thế.

25.

靜得冲而暗興

Tĩnh đắc xung nhi ám hưng

Tĩnh gặp xung thì ám động.

Nói chung hào không động, không thể bảo là an tĩnh. Nếu bị Nhật thần xung thì tuy tĩnh rồi cũng động, gọi là ám động. Giống như người nằm ngủ bị kêu dậy, không thể an tĩnh mà ngủ được. Ở trong quẻ hào động có thể xung hào an tĩnh. Và lại hào ám động giống như làm việc riêng tư, hào ám động sinh phò ta, như có người âm thầm trợ giúp, còn nếu khắc hại ta thì như bị người ngầm hại. Lý lẽ tham sâu, việc ứng vào ngày hợp.

26.

入墓難克
帶旺匪空

Nhập Mộ nan khắc
Đới vượng phi Không

Nhập Mộ khó khắc, đang vượng chẳng Không.

Nhập Mộ khó khắc là nói hào động nhập Mộ không thể khắc hào khác, lại nói hào nhập Mộ không bị động hào khắc. Giả như Dần mộc phát động vốn khắc Thổ, nếu gặp ngày Mùi xem quẻ, hào Mộc này nhập Mộ ở ngày Mùi, hoặc hóa ra Mùi, thì nhập Mộ tại Mùi, tất không thể khắc Thổ được. Lại như Dần động khắc Thổ, mà hào Thổ gặp ngày Thìn tất nhập Mộ tại Thìn, hoặc hóa ra Thìn thì nhập Mộ ở biến hào, đều chẳng bị Dần mộc khắc. Cho nên gọi là "nhập Mộ khó khắc".

Vượng tướng tức như mùa Xuân thì Mộc vượng, Hỏa tướng; mùa Hạ thì Hỏa vượng, Thổ tướng; mùa Thu Kim vượng Thủy tướng; mùa Đông Thủy vượng Mộc tướng; bốn tháng Quí Thổ vượng Kim tướng.

Xưa bảo đang sinh là Vượng, được sinh là Tướng. Hào Không vong không thể luận là Không. Lại bảo hào vượng tướng qua khỏi Tuần vẫn hữu dụng, cho nên gọi là "chẳng Không".

Hoàng Kim Sách: câu 27–39

27.

有助有扶衰弱休囚亦吉

Hữu trợ hữu phù, suy nhược hưu tù diệc cát

Được trợ được phò, suy nhược hưu tù cũng tốt.

Câu này chỉ đề cập đến Dụng thần. Giả như mùa Xuân xem quẻ, Dụng hào thuộc Thổ là suy nhược hưu tù, vốn là không tốt, nếu được Nhật thần, động hào sinh phù cùng hợp, tuy gọi là vô khí nhưng không luận hưu tù. Giống như người nghèo hèn được quí nhân đề bạt. Nếu Kỵ thần vô khí thì không nên được phù trợ.

28.

貪生貪合刑冲克害皆忘

Tham sinh tham hợp, Hình xung khắc hại giai vong

Ham Sinh ham Hợp, đều quên cả Hình xung khắc hại.

Câu này cũng chỉ đề cập đến dụng thần. Nếu Dụng thần gặp Hình xung khắc hại, đều chẳng phải là điềm tốt. Nếu được hào sinh, hào hợp với hào Hình xung đó, thì hào này ham Sinh ham Hợp nên không đáng lo. Nên bảo là quên xung quên khắc. Như Dụng thần là Tị, trong quẻ có hào Hợi động xung khắc Tị hỏa, lại có hào Mão động, tức hào Hợi thủy ham sinh Mão mà quên khắc Tị. Như hào Dần động tức hào Hợi thủy ham hợp với Dần mà quên khắc Tị. Đó là quên khắc, quên xung, quên Hình. Ngoài ra phỏng theo như thế, có thể suy ra được.

29.

別衰旺以明剋合 - 辨動靜以定刑冲

Biệt suy vượng dĩ minh khắc hợp
Biện động tĩnh dĩ định hình xung

Phân suy vượng để rõ khắc hợp. Chia động tĩnh để định hình xung.

Câu này phân biệt lẽ suy vượng, động tĩnh, sinh khắc chế hóa. Nếu chỉ phân suy vượng mà không phân động tĩnh tức lâm lẫn cách dùng. Như hào vượng vốn khắc được hào suy, nếu an tĩnh dù có vượng cũng không thể khắc được hào suy. Hào suy vốn không thể khắc được hào vượng, nếu phát động thì khắc được hào vượng. Điều đó ví động như người dậy, tĩnh như người nằm. Tuy vượng tướng nhưng chẳng qua vượng nhất thời trước mắt, tuy suy cũng chẳng qua suy nhất thời trước mắt. Chờ khí vượng lui, mà hào suy được phò trợ thì có thể khắc được hào vượng.

Nếu hào vượng động khắc hào suy mà hào này không được Nhật thần cứu giúp thì chịu khắc ngay. Chỉ có Nhật thần có thể xung khắc được động hào, tĩnh hào mà động hào không sinh khắc được Nhật thần đó. Nếu Nguyệt kiến hiện trong quẻ thì động hào có thể khắc. Như vậy lẽ suy vượng động tĩnh đã rõ ràng.

30.

併不併冲不冲因多字眼

Tính bất tính, xung bất xung nhân đa tự nhãn

Tính không Tính, Xung chẳng Xung vì quá nhiều địa chi.

Tính là hào trong quẻ mà Nhật thần lâm tại đó. Xung là hào trong quẻ mà bị Nhật thần xung. Chữ "Bất" (chẳng) là nói hào Tính mà chẳng Tính được, hào Xung mà chẳng xung được.

Sao gọi là không thể "Tính"? Giả như ngày Tí xem quẻ, trong quẻ có hào Tí làm Dụng thần, Nhật thần lâm tại đó. Nếu hào Tí suy nhược đã có Nhật thần ở đấy, nên luận là vượng. Nhưng cũng không thể hào Tí hóa Mộ, hóa Tuyệt, hóa khắc. Đấy là Nhật thần biến hoại, không thể gọi là hào tốt, mà ngược lại là hung tại ngày này. Cho nên gọi là Tính mà chẳng Tính.

Sao gọi là không thể Xung? Lại như ngày Tí xem quẻ, trong quẻ lại thấy chi Ngọ làm Dụng thần, Nhật thần xung Ngọ, nếu Tí hào trong quẻ động xung khắc hào Ngọ. Nếu được hào Tí hóa Mộ, hóa Tuyệt, hóa khắc, đấy là Nhật thần hóa hoại, không thể hại được Ngọ, nên ngược lại thấy tốt trong ngày này. Cho nên Xung mà chẳng thể Xung.

Hai điều trên xảy ra nhân vì xem vào ngày Tí. Trong quẻ hiện nhiều hào Tí biến hoại này, cho nên xảy ra như thế. Ngoài ra cứ phỏng theo vậy.

(Tự vốn nghĩa là "chữ", ở đây chỉ Địa chi an ở trong quẻ. Câu này đề cập đến trường hợp Nhật thần có cùng Địa chi với hào trong quẻ.)

31.

刑非刑合非合為少支神

Hình phi Hình, Hợp phi Hợp vị thiếu chi thần

Hình chẳng Hình, Hợp chẳng Hợp vì thiếu địa chi.

Hình là Tam hình, Hợp là Hợp cục. Như Dần Tị Thân là Tam hình, Sửu Tuất Mùi là Tam hình, Tí Mão là Nhị hình, Thìn, Ngọ, Hợi, Dậu là Tự hình. Giả như trong quẻ có hai chi Dần và Tị mà thiếu Thân, có hai chi Dần Thân mà không có Tị, có hai chi Tị Thân mà không có Dần, là thiếu mất một chi mà không thành Hình.

Như Hợi Mão Mùi là Tam hợp, Thân Tí Thìn là Tam hợp, Tị Dậu Sửu là Tam hợp, Dần Ngọ Tuất là Tam hợp. Giả như có Hợi, Mão mà không có Mùi; có Mùi Mão mà không có Hợi, có Hợi Mùi mà không có Mão, là thiếu một chi mà không thành Hợp.

Phép Tam hình, Tam hợp cần phải trọn vẹn các chi, có hai hào động tất hợp được một hào, nếu chỉ một hào động thì không thể hợp được hai hào kia. Như trong quẻ Hình Hợp đều có đủ các hào nhưng đều an tĩnh thì chẳng thành Hình Hợp. Như vậy mà chiêm nghiệm tất sẽ rõ ràng thông suốt.

32.

交遇令星物難我害

Hào ngộ lệnh tinh, vật nan ngã hại

Hào gặp Nguyệt kiến, vật khó hại ta.

Lệnh tinh là Nguyệt kiến, Vật là động hào ở trong quẻ. Nếu Dụng thần là Nguyệt kiến, mà Nguyệt kiến tức nắm quyền lệnh. Nếu động hào thương khắc, đâu đáng sợ. Cho nên bảo là: Vật khó hại ta.

33.

伏居空地事與心違

Phục cư Không địa sự dữ tâm vi

Phục tại Tuần không việc trái với lòng.

Phục là Phục thần. Sáu hào trong quẻ thiếu Dụng thần, phải tra Dụng thần ở quẻ đầu của cung chứa quẻ này để xem phục tại hào tương ứng trong quẻ, hào này là Phi. Phi thì hiện rõ mà Phục thì ẩn tàng. Nếu sáu hào trong quẻ không có Dụng thần, Dụng thần phải phục mà lại lâm Tuần không, nếu chẳng được đề bạt, mưu sự chắc chắn chẳng thành tựu. Cho nên mới bảo "việc trái với lòng".

34.

伏無提拔終徒爾 - 飛不推開亦枉然

Phục vô đề bạt chung đồ nhĩ
Phi bất suy khai diệc uổng nhiên

Phục chẳng được đề bạt cuối cùng cũng vô ích. Phi không được suy khai cũng uổng công.

Câu này cũng nối ý với câu trên. Phục là nói Dụng thần không hiện trong quẻ phải ẩn phục dưới hào khác. Nếu không có Nhật thần, động hào sinh phù cùng hợp, tức Phục không được đề bạt. Phi là hào mà Dụng thần phục ở dưới nó, là thần hiển lộ. Suy là xung, ý nói xung khai Phi thần khiến cho Phục thần thoát ra được.

35.

空下伏神易於引拔

Không hạ Phục thần dị ư dẫn bạt

Phục thần dưới hào Không thì dễ kéo ra.

Câu này nói Phục thần ở dưới Phi thần lâm Tuần không. Hào Phi này đã lâm Không, giống như không níu kéo được nên Phục thần dễ kéo ra ngoài. Dẫn là thần cùng phù, Bạt cũng là Sinh phù cùng hợp, ý nói xung hào Phi để kéo ra hào Phục.

36.

制中弱主難以維持

Chế trung nhược chủ nan dĩ duy trì

Suy nhược bị chế khó duy trì.

Chế là nói bị Nguyệt kiến, Nhật thần khắc chế. Nhược chủ chỉ hào suy nhược. Như Dụng thần bị suy nhược mà lại bị Nhật Nguyệt xung khắc, nếu được động hào sinh cũng có trợ giúp. Vốn là hào suy nhược mà gặp Nhật Nguyệt khắc, như cành khô cây mục. Nếu có mưa thấm nhuần cũng khó mong sinh rễ mới. Đây là đề cập đến Dụng thần xuất hiện, nếu lại là Phục thần dù có được Tính dẫn cũng vô dụng.

(Dùng theo ý của tác giả: Tính là Nhật thần lâm tại hào này, Dẫn là cùng phù. Như vậy thì trái với ý ở trước là hào này bị Nhật Nguyệt khắc thương.)

37.

日傷交真罹其禍 - 交傷日徒受其名

Nhật thương hào chân li kỳ họa
Hào thương Nhật đồ thụ kỳ danh

Nhật khắc hào mới thật gặp họa. Hào khắc Nhật chỉ mang lấy danh.

Nhật thần là chúa tể của sáu hào, nắm hết mọi việc. Sáu hào là bề tôi của Nhật thần, phân ra mà coi mọi việc. Vì thế Nhật thần có thể hình xung khắc hại được các hào, mà hào trong quẻ không thể hình xung khắc hại Nhật thần. Nguyệt kiến đối với hào trong quẻ cũng thế.

38.

墓中人不冲不發

Mộ trung nhân bất xung bất phát

Người trong Mộ không xung chẳng phát.

Tổng quát Dụng thần nhập Mộ thì nhiều cản trở, mọi việc tốn sức mà chẳng thành, nên đợi Nhật thần hay động hào xung, hoặc xung khắc hào Mộ mới được hữu dụng. Sách xưa bảo rằng: "Xung Không tức khởi, Phá Mộ tắc khai" (Xung Không thì làm trở dậy, Phá Mộ thì mở ra).

39.

身上鬼不去不安

Thân thượng Quỷ bất khứ bất an

Quỷ bên Thân không khử không yên.

Thân là mượn để nói đến Thế hào. Nhưng phàm Quan Quỷ trì Thế, nhưng mình không phải là người có chức vị thì hào Quan Quỷ là thần trở ngại ưu nghi, nên được Dụng thần, động hào xung khắc mà khử đi, mới được yên mà không lo. Hoặc Kỵ thần lâm ở Thế cũng như vậy, nhưng không thể quá khắc, sợ ta cũng bị thương. Tiên thánh nói: "Nhân nhi bất nhân tật chi thậm, loạn dã" (Người đã bất nhân, ghét quá sức thì nó làm loạn). Chỉ quí ở chỗ trung hòa mà thôi.

(Luận với Kỵ thần lâm Thế không hoàn toàn đúng như vậy. Nếu Thế vượng dù trì Kỵ thần, xem cho mình thì mọi việc cũng không thể xấu được.)


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông