Bài tổng quan
Đinh hỏa như ngọn đèn: Canh bổ Giáp, Giáp dẫn Đinh
Đinh không phải đám lửa bốc cao mà là ngọn đèn nhỏ, sống được nhờ dầu, nhờ bấc và nhờ một ngọn gió vừa đủ. Mười hai tháng, lúc thì dầu tràn dập tắt, lúc thì bấc ướt chẳng chịu cháy, và mỗi lúc cần một người đứng ra cứu...
Mục lục · 12 phần
- 01Tháng giêng: Ấn nắm lệnh, mộc nhiều bít lửa, cần Canh bổ Giáp
- 02Tháng hai: không sợ thân nhược, chỉ sợ mẹ hiền giết con
- 03Tháng ba: Thương quan nắm lệnh, Mậu tiết hỏa, lấy Canh bổ Giáp dẫn Đinh
- 04Tháng tư: Đinh dựa uy Bính, thân cường chỉ cần kim thủy cùng thấu
- 05Tháng năm: nguyệt lệnh đắc Lộc, Nhâm Canh cùng thấu mới nên chuyện
- 06Tháng sáu: trước tiết Đại Thử như tháng năm, sau tiết thì tiểu phú tiểu quý
- 07Tháng bảy: Tài nắm lệnh, thân nhược cần Canh Giáp Bính cùng đến
- 08Tháng tám: có Giáp có Bính thì phú quý, thiếu Giáp thì lửa khó sáng dài
- 09Tháng chín: thổ tiết hỏa, Giáp chế thổ, một hai điểm Quý nhuận cục
- 10Tháng mười: có Giáp mà không có Bính thì mộc ẩm không sáng
- 11Tháng mười một: Sát nắm lệnh, Bính Giáp cùng thấu thì đại phú đại quý
- 12Tháng chạp: Bính Giáp là hai vật không thể thiếu
Tháng giêng: Ấn nắm lệnh, mộc nhiều bít lửa, cần Canh bổ Giáp
Đinh sinh tháng Dần thì Ấn tinh nắm lệnh, mẹ vượng con tướng, nhật nguyên khá mạnh. Khi thân cường mà nguyên cục hỏa nhiều bị bít, cần Canh để loại bớt mộc, tháng lại có Tài phá Ấn. Cho nên Canh Giáp cùng thấu thì như bệnh nặng gặp thuốc, tự nhiên phú quý. Không có Canh để phá Giáp thì gọi là "thân vượng không chỗ nương", không nghèo thì chết sớm.
Biến lý: thân cường mà Canh Nhâm cùng thấu là cách Tài Quan, tuy phú quý được nhưng phối hợp chưa tốt nên không phải thượng cách. Thân cường mà thủy lại càng cường, Sát mạnh, thì dụng Kỷ thổ Thực thần chế Sát là tốt nhất, theo đường công danh. Nhâm thấu lại gặp giờ Dần, không có Canh phá cách, Đinh Nhâm gặp giờ thì hóa mộc, phú quý không nhẹ. Chi thành hỏa phương hỏa cục, không có thủy giúp nhau, lại thấy Giáp mộc thấu can, thì gọi là giả Viêm thượng, vì không đúng thời nên chỉ đủ cơm áo; vận mừng Đông Nam, kỵ Tây Bắc. Thân nhược thì chuyên giữ Giáp mộc ở nguyệt lệnh, hoặc Canh Giáp cùng thấu thì thành cách bổ Giáp dẫn Đinh.
Lá số Lâm Sâm: năm Mậu Thìn, tháng Giáp Dần, ngày Đinh Mão, giờ Ất Dậu. Địa chi Dần Mão Thìn tụ về phương Đông, hỏa vượng mộc bít, nên giữ Dậu kim ở chi giờ làm dụng. Hai vận Canh Thân, Tân Dậu làm dụng thần lộ ra, quý đến Chủ tịch Quốc phủ.
Lá số bần tiện, mệnh nữ: năm Tân Mão, tháng Canh Dần, ngày Đinh Dậu, giờ Quý Mão. Không có Giáp nên dụng Mão, gọi là "cỏ khô dẫn Đinh". Thuở sớm đi vận mộc hỏa thì cơm áo rất đủ; về sau vào vận kim thì bần tiện, không nơi nương tựa.
Tháng hai: không sợ thân nhược, chỉ sợ mẹ hiền giết con
Ngọn đèn chỉ cần có dầu; dầu nhiều quá lại tràn ra mà dập luôn ngọn bấc.
Đinh sinh tháng Mão, Ấn tinh nắm lệnh. Thân không sợ nhược mà rất sợ mẹ giết con, mộc nhiều hỏa bít. Thân cường Ấn nhiều thì trước tiên giữ Canh kim; xuân mộc vượng kim yếu, nên phối thêm Kỷ thổ.
Thân cường dụng Canh thì kỵ thấy Ất Canh cùng thấu, vì tham hợp mà phá cách, thành người thường. Đinh hỏa tính nhu, nếu không cực vượng thì không mừng Nhâm Quan, chỉ dụng Quý Sát; vận Tây Bắc cũng chủ đại quý. Thân cường mà chỉ có một điểm Trường sinh ở tháng Tị thì gọi là "cát thần ngầm tàng", vận vào phương Tây thành mệnh đại quý. Thân nhược thì phải có Giáp Canh: không có Canh thì không bổ được Giáp, không có Giáp thì không dẫn được Đinh. Tóm lại Đinh tháng hai thân nhược mà thấy Canh Giáp thì tất nhiên phú quý, một thấu một tàng cũng có danh lợi.
Một lá số quý: năm Tân Hợi, tháng Tân Mão, ngày Đinh Mùi, giờ Canh Tuất. Chi thành mộc cục, mộc nhiều hỏa bít, nên giữ Canh kim ở can giờ để phá Ấn. Về sau vào vận kim, dụng thần đắc địa, quý đến Đô đường.
Lá số hung: năm Kỷ Mão, tháng Đinh Mão, ngày Đinh Sửu, giờ Ất Tị. Tị hỏa tiết khí, tất cần thấy mộc, không có Giáp thì dụng Ất, nên gọi là "cỏ khô dẫn Đinh". Về sau vận kim làm tổn thương dụng thần, phạm pháp mà chịu hình.
Tháng ba: Thương quan nắm lệnh, Mậu tiết hỏa, lấy Canh bổ Giáp dẫn Đinh
Đinh yếu thì phép dùng cũng khác thường: không dùng khắc mà dùng bồi.
Đinh sinh tháng Thìn, Thương quan nắm lệnh, Mậu thổ tiết hỏa nên lo thân nhược. Thân nhược chuyên lấy Canh, bổ Giáp dẫn Đinh, đó là phép đặc thù khi Đinh yếu. Giáp Canh cùng thấu thì tất nhiên phú quý, phối hợp là để thủ quý chứ không xét theo lẽ khắc. Giáp thấu Canh tàng cũng là nhà nho; Canh thấu Giáp tàng thì chỉ có danh lợi nhỏ.
Nếu Mậu Kỷ thấu can làm tiết yếu Đinh hỏa, có Giáp thấu ra chế thì có đường tiểu quý. Nếu mộc Ấn quá nhiều thì lại thấy Canh là hơn cả, dùng Tài phá Ấn theo đường dẫn quý khác. Nếu thủy Sát quá nhiều, Sát nhiều thì thân nhược, không nghèo thì chết yểu; có Giáp hóa Sát sinh thân, hoặc chi thông Tị Ngọ Dần là tốt; can thấu Mậu Kỷ, dụng Thực chế Sát thì hứa phú quý.
Lá số trước giàu sau nghèo: năm Mậu Thìn, tháng Bính Thìn, ngày Đinh Sửu, giờ Đinh Mùi. Mậu thổ thấu ra tiết yếu Đinh hỏa, không có Giáp Ất sinh hỏa chế thổ, chỉ giữ trụ giờ Đinh Mùi để trợ thân. Thuở đầu đi vận hỏa thì phát tài; vào vận kim thì thất bại, tan thành tro.
Lá số chết non: năm Nhâm Tuất, tháng Giáp Thìn, ngày Đinh Dậu, giờ Kỷ Dậu. Hỏa nhược dụng Giáp, nhưng gặp Kỷ thổ hợp chế nên kỵ; căn của Giáp ở Thìn lại bị Thìn Tuất xung tán. Mười hai tuổi, năm Quý Dậu thì chết yểu.
Tháng tư: Đinh dựa uy Bính, thân cường chỉ cần kim thủy cùng thấu
Có người đứng chắn phía trước, Đinh nhỏ bé cũng thành lớn; nhưng ánh sáng mượn cũng là ánh sáng của người khác.
Đinh sinh tháng Tị, Kiếp tài nắm lệnh, Đinh dựa uy Bính nên khí hỏa tự vượng. Thân cường thì Quý là hơn cả, sau mới đến Nhâm; thủy yếu mừng có gốc Canh Tân phát nguồn. Tóm lại Đinh tháng tư, thân cường mà kim thủy cùng thấu thì tất nhiên phú quý.
Biến lý: nếu trụ có Bính thấu can, gọi là "Bính cướp ánh sáng của Đinh", khí đã thuộc về Bính nên có thể lấy Bính mà luận. Thấy Kỷ Canh thấu can, chi tàng Nhâm Quý, Thực thần sinh Tài thì giàu mà không quý. Canh Tân thấu can mà nguyên cục không có thủy thì là thân Tài cùng vượng, vốn là cách giàu; nhưng tháng Tị Canh kim Trường sinh, dụng thần có khí, gặp lưu niên kim thủy cũng có thể đến quý. Đinh hỏa nhu, hỏa dù vượng cũng không lấy cách Viêm thượng; nếu thấy Giáp Bính thấu can thì gọi là "Giáp dẫn ánh Đinh", giống Viêm thượng, vận vào Đông Nam thì đủ Ngũ phúc: giàu, yên lành, thọ, đức tốt và vui hết tuổi trời. Thân nhược thì chuyên dụng Bính hỏa ở nguyệt lệnh, chân thần đắc dụng, phú quý không nhẹ; dụng Giáp Ấn thì không thành thượng cách vì dụng thần mất lệnh, không có lực.
Một lá số quý: năm Quý Sửu, tháng Đinh Sửu, ngày Đinh Tị, giờ Bính Ngọ. Đinh gặp Bính Ngọ nên gọi là "Bính cướp ánh sáng của Đinh", Đinh hỏa cũng có thể lấy Bính mà luận. Thân cường dụng Quý thủy, mừng có căn ở Sửu; về sau vào vận thủy, quý đến Thượng thư.
Một lá số quý khác: năm Tân Dậu, tháng Quý Dậu, ngày Đinh Tị, giờ Ất Tị. Địa chi có ba chữ Tị, Đinh hỏa cường vượng; Quý thủy yếu, dùng gốc Tân Dậu phát thủy, trong vận thủy địa thì phú quý song toàn. Lá số lại vừa hợp cách Đảo xung Lộc Mã.
Tháng năm: nguyệt lệnh đắc Lộc, Nhâm Canh cùng thấu mới nên chuyện
Đinh hỏa là chất nhu, lửa có vượng đến đâu cũng không phải thứ lửa bốc cháy dữ dội.
Đinh sinh tháng Ngọ, nguyệt lệnh đắc Lộc. Thân cường chuyên dụng Nhâm Canh, Canh Nhâm cùng thấu thì phú quý song toàn; được một Quý thấu thì gọi là "Độc Sát đương quyền", quyền quý bậc võ chức; Nhâm Quý cùng tàng cũng không phải người thường.
Dụng Nhâm Quý mà thấy Mậu chế, Kỷ lẫn vào, hoặc thấy Giáp mộc thấu can tiết thủy sinh hỏa, thì là người thường. Nếu nguyên cục kim thủy quá vượng, thân nhược, thì giữ Đinh Kỷ trong Ngọ ở nguyệt lệnh làm dụng, chân thần đắc dụng, phú quý không nhẹ. Đinh hỏa là chất âm nhu, hỏa dù vượng cũng không lấy cách Viêm thượng mà luận.
Lá số người thường: năm Đinh Dậu, tháng Bính Ngọ, ngày Đinh Tị, giờ Nhâm Dần. Thân cường dụng Nhâm, nhưng Nhâm thủy không có căn lại gặp Đinh năm hợp chế. Đi vận hỏa mộc được ít, phải khuất dưới người; sau vào vận thủy thì có danh lợi nhỏ.
Lá số đại quý: năm Nhâm Tý, tháng Bính Ngọ, ngày Đinh Dậu, giờ Mậu Thân. Đinh thấy Bính Ngọ thì lấy Bính mà luận; thân cường dụng Nhâm, căn thông Thân Tý, vận chạy Tây Bắc nên từng bước phú quý.
Tháng sáu: trước tiết Đại Thử như tháng năm, sau tiết thì tiểu phú tiểu quý
Hỏa lui thì cây được dịp xen vào, nhưng sức đã mỏng thì kết quả cũng chỉ vừa phải.
Đinh sinh tháng Mùi, Thực thần nắm lệnh. Trước tiết Đại Thử hỏa khí chưa lui, cách lấy dụng như tháng năm. Sau tiết, Đinh hỏa lui khí, thân nhược mà thấy Canh Giáp cùng thấu, bổ Giáp dẫn Đinh thì Đinh hỏa tự cường; nhưng thể dụng không vượng nên chỉ tiểu phú tiểu quý.
Nếu Mậu Kỷ thấu can làm tiết yếu Đinh hỏa thì chuyên giữ Giáp mộc, dụng Ấn chế Thực sinh thân; nguyên cục khô táo thì nên phối một hai điểm Quý thủy. Thân cường có thể lấy Quý, Canh: Tài sinh Sát nhẹ, quý mà có quyền. Thân cường thấy Canh Tân thấu can, nguyệt lệnh tự có Thực thần sinh Tài, cách cục chuyển sang giàu; kim tàng, vận Tây Bắc cũng có thể tiểu phú.
Lá số quý: năm Giáp Ngọ, tháng Tân Ngọ, ngày Đinh Mùi, giờ Canh Tý. Thân cường Sát yếu, mừng rơi vào giờ Canh Tý; càng mừng đại vận một đường kim thủy, làm quan đến chức đặc nhiệm, an hưởng phú tôn vinh.
Lá số Hồ Lâm Dực: năm Nhâm Thân, tháng Đinh Mùi, ngày Đinh Mùi, giờ Kỷ Dậu. Đinh Tỉ thấu ra, Nhâm thủy hợp; Kỷ thổ dày nặng, mừng có kim hóa. Đại vận đi Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Quan tinh đắc địa, công danh hiển hách.
Tháng bảy: Tài nắm lệnh, thân nhược cần Canh Giáp Bính cùng đến
Ba vị phối hợp nhau như thế nào là điều quyết định ngọn đèn sáng hay tắt.
Đinh sinh tháng Thân, Tài tinh nắm lệnh. Nếu thân nhược phải được Bính Đinh Tị Ngọ trợ giúp, Tỉ Kiếp chia Tài thì cách cục chủ giàu. Nếu thân cường thì chuyên dụng kim thủy ở nguyệt lệnh, chân thần đắc dụng, phú quý có chuẩn.
Phàm Đinh hỏa thân nhược, phần nhiều lấy Canh Giáp để thủ quý, vì có Canh bổ Giáp thì mới dẫn được Đinh; sau đó mới đến Bính hỏa. Thân nhược mà được Canh, Giáp, Bính cùng thấu là mệnh đại quý: giữ Canh kim bổ Giáp dẫn Đinh nhưng lại sợ Canh Tài nắm lệnh phá Ấn quá nặng, nên phối thêm Bính hỏa, điều phối được thích hợp thì lẽ ra đại quý. Thân nhược dụng Giáp, không có Giáp thì dụng Ất, gọi là "cỏ khô dẫn Đinh", nhưng phải có Bính chiếu sưởi ấm Ất mới hợp cách, chủ giàu nhiều quý ít.
Lá số giàu: năm Tân Mão, tháng Bính Thân, ngày Đinh Dậu, giờ Bính Ngọ. Thân cường, Tài càng cường, đi ngược về hỏa mộc mà vẫn cầu được giàu; nguyên cục không có thủy nên khó nói đến quý.
Lá số hung: năm Mậu Thìn, tháng Canh Thân, ngày Đinh Tị, giờ Canh Tuất. Đinh có căn ở Tị nhưng Thân Tị hợp hóa thủy; nếu căn ở Tuất thì lại bị Thìn xung. Thấy nhiều hung tượng nên gặp vận thủy thì chết đuối.
Tháng tám: có Giáp có Bính thì phú quý, thiếu Giáp thì lửa khó sáng dài
Cỏ khô thì cháy được một lúc, nhưng lúc ấy không thể gọi là bền.
Đinh sinh tháng Dậu, Tài tinh nắm lệnh. Thân nhược mà Giáp, Canh, Bính cùng thấu là mệnh đại quý. Có Giáp có Bính thì phú quý có phần; không có Giáp mà dụng Ất, gọi là "cỏ khô dẫn Đinh", nhưng hỏa yếu khó sáng lâu nên phú quý không bền.
Nếu nguyên cục thủy nhiều, Quý thủy thấu can, Sát mạnh được Kỷ thổ thấu ra chế, là Thực thần chế Sát, phú quý thượng cách; nhưng ngày Đinh nhất định phải có chi thông căn, nếu không thì gặp khắc tiết giao nhau, là mệnh bần tiện hung yểu. Nếu thân cường thì lại cần Nhâm Quý thấu can, nguyệt lệnh tự có Tài vượng sinh Sát, tất nhiên phú quý.
Lá số cự phú: năm Tân Sửu, tháng Đinh Dậu, ngày Đinh Tị, giờ Đinh Mùi. Tài vượng dụng Tỉ, vận vào Đông Nam thì cực giàu; nguyên mệnh không có thủy nên không quý.
Lá số tiểu quý: năm Nhâm Tuất, tháng Kỷ Dậu, ngày Đinh Hợi, giờ Giáp Thìn. Đinh yếu dụng Giáp, nhưng gặp Kỷ hợp. Đi vận mộc làm quan Đô đường; nguyên mệnh nhiều hợp nên chí hướng khó đi xa.
Tháng chín: thổ tiết hỏa, Giáp chế thổ, một hai điểm Quý nhuận cục
Đất dày chôn mất ngọn lửa; muốn lửa lên lại thì phải có cây chọc thủng đất.
Đinh sinh tháng Tuất, Thương quan nắm lệnh, thổ tiết hỏa khí nên lo thân nhược. Thân nhược mà thấy Mậu Kỷ thấu can làm mờ hỏa, thì chuyên giữ Giáp mộc để chế thổ sinh thân, tức hỏa thổ Thương quan bội Ấn; nếu dưới chi có một hai điểm Nhâm Quý sinh Giáp nhuận cục thì càng tốt.
Nếu thân và Thương cùng cường, thấy Canh Tân thấu can tiết thổ, giữ hỏa thổ Thương quan dụng Tài thì chân thần đắc dụng, không chỉ giàu mà còn quý. Nguyên cục hỏa mộc quá nhiều, Đinh hỏa chuyển vượng thì lại lấy Canh Nhâm làm dụng, có thể cầu phú quý. Nguyên cục thổ nhiều, không thấy Giáp Ấn, Nhâm Quan thì gọi là "Thương quan thương tận", cách cục đổi thành Giá sắc, phú quý thượng cách. Hàn thổ ưa hỏa nên giữ Bính Đinh làm dụng, tuế vận cũng mừng phương Nam.
Lá số Lê Nguyên Hồng: năm Giáp Tý, tháng Giáp Tuất, ngày Đinh Mùi, giờ Đinh Mùi. Địa chi thổ dày, tiết yếu Đinh hỏa, mừng có hai Giáp làm dụng. Vận Dần là Giáp mộc đắc Lộc, quý đến Phó Tổng thống; vận Mão, Giáp mộc thành Dương Nhận, càng bay cao; đến vận Canh Thìn tổn thương dụng thì xuống thấp.
Lá số quý: năm Kỷ Mùi, tháng Giáp Tuất, ngày Đinh Mùi, giờ Giáp Thìn. Địa chi thổ dày, tất cần thấy Giáp; năm tháng Giáp Kỷ hợp hóa thổ, giữ Giáp ở giờ làm dụng, đi vận hỏa quý đến Thượng thư.
Tháng mười: có Giáp mà không có Bính thì mộc ẩm không sáng
Mộc sinh lửa, nhưng củi ướt thì phải có tia nắng mồi cho lửa chịu nhận.
Đinh sinh tháng Hợi, Quan tinh nắm lệnh. Thân nhược chuyên dụng Giáp mộc, đúng lẽ "như có mẹ ruột thì mùa thu mùa đông đều nương được". Nguyên cục cần nhất có Bính; nếu không thì mộc ẩm không sáng, mộc hỏa không sinh nhau.
Không có Giáp thì dụng Ất, nhưng Ất là cỏ khô, khí yếu lực nhược nên phú quý không dài. Đinh hỏa thấy Bính, hoặc chi thành hỏa phương hỏa cục, Đinh hỏa chuyển cường, lại giữ Nhâm thủy nguyệt lệnh làm dụng, chân thần đắc dụng thì công danh nhẹ như chuyện vặt. Đinh hỏa cường mà Nhâm Quý càng cường thì có thể giữ Mậu thổ làm chế, là Thương quan chế Sát, cũng có phần quyền quý. Tóm lại Đinh tháng mười, Bính Đinh trùng điệp cũng có lợi, dưới chi thông căn thì càng tốt.
Lá số đại quý: năm Đinh Mão, tháng Tân Hợi, ngày Đinh Dậu, giờ Giáp Thìn. Một Giáp cao thấu, Hợi Mão bán hợp, trong vận hỏa địa nên phú quý nhàn nhã.
Lá số quý: năm Quý Mão, tháng Quý Hợi, ngày Đinh Mão, giờ Tân Hợi. Đinh hỏa không có căn, kim thủy thấu can, tựa như Tòng Sát nhưng nguyên cục có mộc nên không thể nói tòng; mừng hai tầng Hợi Mão bán hợp mộc cục, làm quan đến Thượng thư.
Tháng mười một: Sát nắm lệnh, Bính Giáp cùng thấu thì đại phú đại quý
Giữa đông nước dâng cao, mộc ẩm muốn cháy thì phải có lửa mồi và dao bổ củi.
Đinh sinh tháng Tý, Thất Sát nắm lệnh. Thân nhược chuyên giữ Giáp mộc, nhưng không thể thiếu Bính để ấm cục, nếu không thì mộc ẩm không cháy, Giáp không sinh Đinh. Bính Giáp cùng thấu tất nhiên phú quý; nếu kiêm Canh thấu để bổ Giáp dẫn Đinh thì đại phú đại quý. Thân nhược mà chi thông Tị Ngọ, hoặc có Tỉ Kiếp trợ thân địch Sát, thủy hỏa đối nhau mà không có mộc dẫn thông thì rốt cuộc không phải thượng cách.
Thân và Sát cùng cường, thủy hỏa ngang nhau thì giữ Mậu Kỷ chế Sát là thượng cách; dụng Thực Thương phải thân cường, đó là lẽ mệnh lý thông thường. Thân nhược, Nhâm thấu có Đinh hợp thì ngầm hóa mộc khí, Quý thấu có Mậu hợp thì ngầm phụ hỏa khí, được danh lợi nhỏ. Nếu Sát và thân đều cường, giữ Thất Sát nguyệt lệnh làm dụng thì chân thần đắc dụng, phú quý không nhẹ.
Lá số vị Thừa tướng: năm Mậu Tuất, tháng Giáp Tý, ngày Đinh Mùi, giờ Canh Tuất. Hỏa yếu lại bị thổ tiết, dụng Giáp chế thổ sinh thân, càng mừng Canh kim mượn bổ Giáp dẫn Đinh. Vận đến Đông Nam, quý tới cực phẩm.
Lá số phú quý: năm Đinh Sửu, tháng Nhâm Tý, ngày Đinh Hợi, giờ Tân Hợi. Đinh hỏa không có căn, Nhâm Đinh bị hợp, địa chi Hợi Tý Sửu hội phương Bắc, Tòng Sát rất thật; vận Tây Bắc phú quý song toàn.
Tháng chạp: Bính Giáp là hai vật không thể thiếu
Cuối năm lạnh nhất, ngọn đèn sống nhờ cây khô và ánh nắng mồi, ít một thứ là tắt.
Đinh sinh tháng Sửu, Thực thần nắm lệnh, thân nhược nên dụng Giáp dẫn Đinh, dụng Bính ấm Giáp; vì thế hai vật Bính và Giáp nhất thiết không thể thiếu.
Kỷ Thực nắm lệnh, nếu thấy Mậu Kỷ thấu can tiết nhược nhật nguyên thì không thể không có Giáp Ấn chế Thực sinh thân, nguyên cục cũng không thể không có Bính chiếu ấm. Thân cường thì giữ Quý Tân làm dụng, Tài sinh Sát, quý mà có quyền; Quý, Tân đều là vượng khí của nguyệt lệnh, chân thần đắc dụng, tự có thể thủ quý.
Lá số quý: năm Quý Sửu, tháng Ất Sửu, ngày Đinh Hợi, giờ Tân Hợi. Nguyên cục không có Bính nên không thể dụng Ất, vì mộc ẩm không sáng, Ất ẩm lại làm tổn thương Đinh hỏa. Nguyên mệnh Đinh hỏa không có căn, kim thủy cùng cường, lấy cách Tòng Sát mà luận, vận Tây Bắc quý mà còn hiển.
Lá số bần khốn: năm Tân Mão, tháng Tân Sửu, ngày Đinh Mão, giờ Giáp Thìn. Dụng Giáp Ấn dù thấy hai Tân phá Giáp để dẫn Đinh, nhưng lực Tân kim không bằng Canh kim, lại thêm vận vào Tây Bắc nên khó tránh bần khốn.
Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.
