Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Dụng thần là thuốc chữa bệnh của Tứ trụ: cách chọn theo từng cách cục

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Dụng thần là thuốc chữa bệnh của Tứ trụ: cách chọn theo từng cách cục

Trong tám chữ vốn có sẵn mầm hại, người xưa gọi đó là bệnh, và cái tìm được để chữa là thuốc, tức dụng thần. Bệnh nặng mà gặp thuốc là đại phú đại quý, không bệnh không thuốc thì không phú không quý. Vậy chọn thuốc thế nào cho từng cách cục...


Bệnh và thuốc trong tám chữ

Người có bệnh thì mời thầy thuốc khám. Thầy thuốc căn cứ bệnh tình, đối chứng mà bốc thuốc, bệnh sẽ khỏi. Thế gọi là có bệnh thì phải chữa bằng thuốc.

Bệnh trong Tứ trụ là gì? Là trong tám chữ vốn đã có sẵn mầm có hại. Thuốc là gì? Là trong tám chữ vốn có cái hại nhưng lại tìm được cái để khử nó đi.

Tứ trụ của một người do thiên can, địa chi, âm dương, ngũ hành sắp xếp tổ hợp mà thành; nó không giống thiết bị máy móc do ý chí chủ quan của con người thiết kế. Vì thế sự sinh khắc của âm dương ngũ hành trong Tứ trụ không cân bằng, không ngang hòa nhau, nên mới dẫn đến sinh khắc chế hóa, vượng suy, mạnh yếu không giống nhau. Có trường hợp thần vượng mà không bị chế ngự nên thái quá. Cái "bất cập" và cái "thái quá" ấy gọi là bệnh. Cái dùng để trị bất cập và thái quá là thuốc, và thuốc ấy chính là dụng thần của Tứ trụ.

Một vài hình ảnh cho dễ hiểu. Tứ trụ thuần thổ mà can ngày thuộc thủy thì thân yếu, bị sát nặng. Can ngày thuộc kim mà thổ nhiều thì kim bị vùi lấp. Can ngày thuộc hỏa mà thổ nhiều thì lửa mờ không sáng. Can ngày thuộc mộc thì tài nhiều, thân nhược. Can ngày thuộc thổ thì ngang vai quá mạnh. Nếu thổ là bệnh của các cách ấy thì mộc là thuốc để chữa. Nếu dụng thần là thực thần, thương quan thì ấn là bệnh, lấy tài làm thuốc để chữa. Nếu dụng thần là ngang vai thì quan sát là bệnh, lấy thực thương làm thuốc. Nếu dụng thần là tài thì tỉ kiếp là bệnh, lấy quan sát làm thuốc. Những trường hợp khác cũng tương tự, đều theo nguyên tắc cơ bản là chọn dụng thần.

Khi chọn dụng thần, thường gặp cảnh trong Tứ trụ bệnh nặng mà thuốc nhẹ, hoặc bệnh nhẹ mà thuốc nặng. Lúc ấy phải dựa vào can của lưu niên, đại vận, tiểu vận và cung mệnh để bổ cứu chỗ bất túc, tìm lại sự cân bằng. Có lúc trong Tứ trụ ngũ hành của can chi không đủ, nhưng dụng thần lại đúng là hành đang thiếu, thì vẫn có thể dùng dụng thần để bổ sung cho hành khuyết ấy. Giả sử thiên can đều là mộc, địa chi có thủy, thổ, hỏa mà không có kim, nếu muốn lấy kim làm dụng thần để chế ngự mộc thì vẫn lấy được. Nhưng không có kim thì chế ngự thế nào? Khi ấy phải nhờ tác động nhân tạo: như điều động công tác, đổi phương vị chỗ ở về phía tây nơi sinh ra, hoặc đặt tên gọi có chữ kim. Đương nhiên cũng có thể lấy hỏa làm dụng thần, vì hỏa làm xẹp khí vượng của mộc.

Cái quý trong tám chữ là sự trung hòa.

Người xưa viết như vậy trong rất nhiều sách; tức là thiên can địa chi trong Tứ trụ, âm dương ngũ hành đều đủ cả, sinh khắc cân bằng thì không có bệnh. Quan điểm này đúng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Nhưng một bộ sách mệnh học xưa lại nói rất đúng:

Bệnh nặng mà được thuốc là người đại phú đại quý; bệnh nhẹ mà được thuốc là người tiểu phú tiểu quý; không có bệnh và không có thuốc là người không phú, không quý.

Trong thực tiễn, người có đại họa đại nạn luôn có đại phúc; như người ta thường nói, đại nạn không chết tất có phúc dày. Ngược lại có người suốt đời bình thường, không gặp tai vạ, đau khổ, đời phẳng lặng, chẳng qua vì sống mơ hồ, hời hợt, nhạt nhẽo, không phú cũng không quý. Như thế làm sao có thể gọi trung hòa là quý?

Dụng thần đối với một người là vô cùng quan trọng, vì nó không chỉ liên quan đến tiền đồ vận mệnh mà còn quyết định cả sống chết. Vì vậy chọn dụng thần là việc quan trọng nhất trong dự đoán Tứ trụ, cũng là việc khó nhất. Dụng thần chọn đúng, dụng thần đắc lực thì không chỉ chế ngự được cái xấu, trợ giúp cái tốt, đề phòng được tai vạ mà còn khiến cuộc đời thuận lợi, từng bước đi lên.

Chọn dụng thần cho các chính cách

Cách chính tài

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp đoạt tài, nên lấy quan sát làm dụng thần; không có quan sát thì lấy thực thần, thương quan, vì thực thương làm hao khí của tỉ kiếp. Nếu ấn nhiều thì tài khắc ấn, nên lấy tài làm dụng thần; thực thương cũng làm hao khí của ấn nên có thể lấy thực thần, thương quan làm dụng thần. Nếu thực thương nhiều thì thực thương sinh tài, nên có thể lấy tài tinh làm dụng thần.

Nhật chủ nhược mà tài nhiều thì tỉ kiếp bảo hộ cho thân, nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần. Nếu thực thương nhiều thì ấn chế ngự được thực thương nên lấy ấn; tỉ kiếp làm hao khí thực thương nên khi không có ấn thì lấy tỉ kiếp. Nếu quan sát nhiều thì tỉ kiếp giúp thân nên lấy tỉ kiếp; ấn vừa làm hao khí quan sát vừa sinh thân nên khi không có tỉ kiếp thì lấy ấn.

Cách chính quan

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì quan sát chế được tỉ kiếp nên lấy quan sát; thực thần, thương quan làm xì hơi tỉ kiếp nên khi không có quan sát thì lấy thực thần, thương quan. Nếu ấn nhiều thì tài khắc ấn nên lấy tài tinh; quan sát làm xì hơi ấn thụ nên khi không có tài thì lấy quan sát. Nếu thương quan và thực thần nhiều thì ấn chế được thương, thực nên lấy ấn thụ; thương, thực sinh tài nhưng làm tổn hao thân, khi không có ấn thụ thì lấy tài tinh.

Nhật chủ nhược mà tài nhiều thì tỉ kiếp hỗ giúp nên lấy tỉ kiếp; ấn thụ làm hao khí của tài nên khi không có tỉ kiếp thì lấy ấn thụ. Nếu quan sát nhiều thì thực, thương tuy chế ngự được nhưng cách chính quan không được lấy thực, thương làm dụng thần; ấn thụ làm xì hơi quan sát nên lấy ấn thụ, không có ấn thụ thì lấy tỉ kiếp giúp thân. Nếu thực, thương nhiều thì ấn chế ngự thực thương nên lấy ấn thụ.

Cách chính ấn và thiên ấn

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì quan sát chế tỉ kiếp nên lấy quan sát; thực thương làm xì hơi tỉ kiếp, khi không có quan sát thì lấy thực thần, thương quan. Nếu tài tinh nhiều thì quan sát làm xì hơi tài tinh nên lấy quan sát. Nếu ấn thụ nhiều thì tài khắc ấn nên lấy tài tinh; thực thần làm hao khí ấn thụ, khi không có tài tinh thì lấy thực thần, thương quan.

Nhật chủ nhược mà thực thần, thương quan nhiều thì ấn thụ chế được thực thương nên lấy ấn thụ; tỉ kiếp làm xẹp khí thực, thương, khi không có ấn thụ thì lấy tỉ kiếp. Nếu quan sát nhiều thì ấn làm xẹp hơi quan sát nên lấy ấn thụ; tỉ kiếp vừa giúp thân vừa làm hao khí quan sát, khi không có ấn thụ thì lấy tỉ kiếp. Nếu tài nhiều thì tỉ kiếp bảo vệ tài nên lấy tỉ kiếp; ấn thụ làm tổn hao nguyên khí của tài, khi không có tỉ kiếp thì lấy ấn thụ.

Cách thương quan

Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều thì quan sát chế ngự tỉ kiếp, nên lấy quan sát (nhưng chưa lý tưởng lắm, vì quan và thương không thể cùng gặp). Nếu ấn nhiều thì tài khắc ấn nên lấy tài; quan sát có thể làm xẹp nguyên khí ấn thụ nên khi không có tài thì lấy quan sát.

Nhật chủ nhược mà thực thần, thương quan nhiều thì ấn thụ vừa sinh thân vừa chế được thực, thương nên lấy ấn thụ; tỉ kiếp làm xẹp hơi thực, thương nên khi không có ấn thì lấy tỉ kiếp giúp thân. Nếu tài nhiều thì tỉ kiếp hỗ tài nên lấy tỉ kiếp; ấn thụ hao khí của tài, khi không có tỉ kiếp thì lấy ấn thụ. Nếu quan sát nhiều thì ấn thụ làm xì hơi quan sát nên lấy ấn; tỉ kiếp làm hao khí quan sát nên có thể lấy tỉ kiếp giúp thân. Dụng thần của các cách thiên tài, thiên quan, thực thần đều lấy theo phương pháp lý luận như trên.

Cách thất sát

Nhật chủ vượng, tỉ kiếp nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần; không có quan sát thì chọn tài tinh. Nhật chủ vượng, ấn nhiều thì chọn tài tinh; không có tài tinh thì chọn quan sát hoặc thực thương. Nhật chủ vượng, quan sát nhiều thì chọn thực thương.

Nhật chủ nhược, tài nhiều thì chọn tỉ kiếp; không có tỉ kiếp thì chọn ấn tinh. Nhật chủ nhược, quan sát nhiều thì chọn ấn tinh; không có ấn thì chọn tỉ kiếp. Nhật chủ nhược, thực thương nhiều thì chọn ấn tinh; không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp.

Cách thực thần

Nhật chủ vượng, tỉ kiếp nhiều thì chọn quan sát; không có quan sát thì chọn thực thương hoặc tài tinh. Nhật chủ vượng, ấn tinh nhiều thì chọn tài tinh; không có tài tinh thì chọn quan sát hoặc thực thương để thông quan. Nhật chủ vượng, tài tinh nhiều thì chọn quan sát; không có quan sát thì chọn thực thương. Nhật chủ nhược, tài tinh nhiều thì chọn ấn tinh; không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp. Nhật chủ nhược, thực thương nhiều thì chọn ấn tinh; không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp.

Cách kiến lộc và cách kình dương

Cách kiến lộc: nhật chủ vượng thì chọn tài, quan có lực làm dụng thần; nếu không có thì chọn thực thương có lực (vẫn lấy nguyên tắc trung hòa của Tứ trụ làm chính). Nhật chủ nhược thì chọn ấn tinh hoặc tỉ kiếp. Cách kình dương: nhật chủ vượng thì chọn tài quan có lực, hoặc chọn thực thương có lực; nhật chủ nhược thì chọn ấn tinh hoặc tỉ kiếp giúp trợ thân.

Một số sách mệnh học thường xếp kiến lộc và kình dương vào cách cục đặc biệt. Nhưng người viết cho rằng cách chọn dụng thần của hai cách ấy giống hệt các chính cách, không có lý do gì để tách riêng.

Dụng thần của những cách đặc biệt

Những cách mà nhật chủ chuyên vượng đều tốt nhất là đi theo thế vượng của nó, nên đều lấy chính sự tụ hội của thế vượng làm dụng thần.

  • Cách khúc trực: lấy mộc làm dụng thần.
  • Cách viêm thượng: lấy hỏa làm dụng thần.
  • Cách gia tường: lấy thổ làm dụng thần.
  • Cách tòng cách: lấy kim làm dụng thần.
  • Cách nhuận hạ: lấy thủy làm dụng thần.
  • Cách tòng tài: lấy thực thương sinh tài làm dụng thần.
  • Cách tòng quan sát: lấy tài làm dụng thần.
  • Cách tòng nhi: lấy thực thương làm dụng thần.
  • Cách hóa mộc, hóa thổ, hóa kim, hóa thủy, hóa hỏa: mỗi cách lấy chính ngũ hành mà nó hóa thành làm dụng thần.

Hỉ thần và kị thần của dụng thần

Tứ trụ lấy dụng thần làm trung tâm. Dụng thần có thể trung hòa độ vượng giữa các ngũ hành trong Tứ trụ, và ảnh hưởng đến cát hung họa phúc của mệnh cục. Dụng thần không nên bị tổn thương, mà nên được sinh trợ. Nếu Tứ trụ hoặc tuế vận của một người có các thiên can, địa chi sinh phù cho dụng thần thì người ấy tất có số phú quý, hoặc trong tuế vận đó sẽ chuyển từ bình thường sang phú quý. Ngược lại, nếu trong Tứ trụ hoặc tuế vận có các can chi khác xung, khắc, hợp dụng thần làm cho dụng thần bị thương hoặc vô lực thì người ấy khó tránh tai họa.

Vì vậy, mệnh lý học đặt tên những can chi sinh trợ, giải cứu dụng thần hoặc khắc chế kị thần là hỉ thần; còn những can chi khắc, xung, hợp dụng thần hoặc làm hại hỉ thần thì gọi là kị thần. Đại vận, lưu niên hành đến vận dụng thần thì cuộc đời vinh hoa phú quý, mọi việc như ý; hành đến vận kị thần thì tai họa khó tránh, phải đặc biệt cẩn thận.

Một đại vận gồm một can một chi hợp lại, kéo dài mười năm: thiên can quản năm năm đầu, địa chi quản năm năm sau. Lưu niên là một can một chi quản một năm. Tuế vận gặp hỉ thần thì gặp nhiều điều tốt, gặp kị thần thì luôn luôn xấu.

Hỉ thần và kị thần của cách chính quan

Nhật chủ vượng, Tứ trụ nhiều tỉ kiếp thì chọn quan tinh làm dụng thần. Vận gặp tài quan là tốt nhất, danh lợi đều có, mọi việc hanh thông; hành đến các vận ấn và kiếp thì phá tài bại nghiệp, gặp hình hại và hao tổn rất nhiều.

Nhật chủ vượng, Tứ trụ nhiều ấn tinh thì chọn tài tinh làm dụng thần. Gặp các vận có tài tinh lẫn thực thần thì tốt đẹp; gặp các vận ấn, tỉ thì khuynh gia bại sản.

Nhật chủ nhược, Tứ trụ nhiều tài tinh thì chọn tỉ kiếp để chế ngự tài, giúp thân làm dụng thần. Gặp các vận tỉ kiếp, hoặc ấn lẫn tỉ kiếp, thì thăng quan phát tài, sự nghiệp bốc lên nhanh chóng. Gặp các vận tài quan thì tốn tài, nhiều tai họa.

Nhật chủ nhược, Tứ trụ nhiều thực thương thì chọn ấn tinh làm dụng thần. Gặp vận quan ấn thì cuộc đời phát đạt; gặp phải vận tài phá ấn thì hung.

Nhật chủ nhược, Tứ trụ quan sát nhiều cũng chọn ấn tinh làm dụng thần. Gặp được vận ấn, tỉ kiếp thì danh lợi đều có. Gặp phải vận tài thì xấu nhất; vận quan sát cũng xấu nhưng còn đỡ hơn.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc