Bài tổng quan
Khu đất phì nhiêu của 12 cung địa bàn và bộ Nhật Nguyệt cần thận trọng
Mười hai cung địa bàn không chia đều: có nơi chính tinh gặp thời trở thành đất phì nhiêu, có nơi chỉ toàn cảnh tranh tối tranh sáng. Riêng bộ Nhật Nguyệt còn khắt khe hơn, đòi từng vị trí trong mười hai cung phải cân đo tỉ mỉ theo lẽ âm dương mới định được sáng tối.
Sáu lục địa dương cung: đất phì nhiêu của 14 chính tinh
Địa bàn vô chính diệu là bức phóng ảnh thu hẹp bầu trời bao la rộng lớn, phân tách minh bạch địa lý đông tây nam bắc và tính toán rõ ràng thiên văn thời tiết xuân hạ thu đông luân chuyển, phù hợp với cuộc diện nhân sinh trên dưới 100 dân số đủ màu da đen đỏ trắng vàng. Mỗi khu đất có biên giới hoạch định phân minh như một lục địa bằng 12 tên địa chi: Tí, Sửu, Dần... Tuất, Hợi.
Có những sắc dân thủy thổ ở quãng này ăn nên làm ra, rồi thất cơ lỡ vận một khi dời đi nơi khác.
14 chính tinh là 14 lãnh tụ du mục sống trên 12 lục địa tranh giành ảnh hưởng, kết hợp thành 2 đoàn (lưỡng nghi: Sát Phá Liêm Tham Tử Phủ Vũ Tướng và Cự Nhật Cơ Nguyệt Đồng Lương). Hai đoàn này cũng có những bất đồng ý kiến lại rời tách làm 4 phái (tứ tượng) kiếm nơi dựng nghiệp, mọi sự khắc chế diễn biến đều từ tây sang đông (kim khắc mộc) từ bắc đến nam (thủy khắc hỏa).
Tử Phủ Vũ Tướng chiếm ba vị trí quý giá nhất
Tử Phủ Vũ Tướng có Tử vi lãnh đạo hợp thủy thổ ở chính nam (Ngọ Hỏa) với đám quần thần là sứ trung tín thì phân nhau trấn nhậm các biên khu như Liêm Phủ ở Tuất, Vũ Tướng Quân ở Dần thành một thế chân vạc uy nghi trang trọng, tuy rằng vẫn bị quấy rối ở phía bắc (Tí Thủy khắc Hỏa). Nhưng kẻ đối nghịch Tham Lang quá tầm thường không đáng ngại. Nếu đóng đô ở Tí cũng đủ sức khắc phục thành công (Thổ khắc Thủy) nhưng phong thổ cảnh trí nơi đây âm u thuộc Thái âm (từ Thân đến Sửu) không được sáng ngời bằng ở Ngọ là nơi ảnh hưởng thuộc phạm vi Thái Dương (từ Dần đến Mùi). Rời khỏi Ngọ môn Tử vi luôn luôn có người kề cận, một là được hộ giá như Tử Phủ ở Dần Thân, Tử Tướng ở Thìn Tuất, hai là bị uy hiếp như Tử Sát ở Tỵ Hợi, Tử Tham ở Mão Dậu, Tử Phá ở Sửu Mùi. 4 trường hợp hộ giá chỉ có được hãnh diện là Tử Phủ ở Thân, Phá Quân đích thân đến Ngọ Môn điều đình và trường hợp ở Thìn, Tử Tướng chính đoạt kẻ nghịch thần (Phá Quân ở Tuất). Xếp theo thứ tự đất phì nhiêu do bộ Tử Phủ Vũ Tướng chiếm ngụ thì 3 vị trí Ngọ Thân Thìn là quí giá nhất.
Sát Phá Liêm Tham và Cơ Nguyệt Đồng Lương tranh chỗ đứng
Sát Phá Liêm Tham là bộ chủ về uy vũ, trong nội bộ không nhất trí vì Liêm Trinh và Thất sát luôn hàng hai với Tử Phủ. Vậy vai chủ động là Phá Quân nên Phá quân nhiều khi đơn thương độc mã xông pha không hề để ý những gì trở lực trước vó ngựa. Phá quân hiển ngang ở Tí là cảnh Tử Vi Thiên Phủ đích thân đến cửa đông (Dần) điều đình trong khi đó Liêm Tướng nơi nội địa (Ngọ) sẵn sàng phòng sự bất trắc. Phá Quân ở Thìn là Phá Quân nghênh chiến Tử Tướng, nếu lại là người Thân Tí Thìn thì Tử Tướng hiển nhiên hành động bá đạo. Khu đất thuận lợi cho Sát Phá Tham là 2 trường hợp: ở Thìn Thất sát ở Tí, Tham Lang ở Thân.
Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ về tư tưởng tinh thần. Riêng Thái Âm và Thái Dương là biểu tượng cặp mắt, khối óc, là đôi đèn rọi chiếu sáng của Tử Vi. Thiên cơ trội phần khéo léo ngoại giao. Thiên đồng kém phần quyết định nên hay canh cải nông nổi. Chỉ còn một Thiên Lương đầy đủ khoan hòa trước sự diễn biến hay dở. Thiên Lương Tí Ngọ là vị trí nêu cao danh vọng, sự khác biệt ở Ngọ khiến Thiên Lương mất công mệt sức rất nhiều (mộc sinh hỏa) ngọn đèn chiếu sáng Thái Dương ở Tí không thiếu tư cách phải chờ thời gian mới đầy đủ chói sáng. Một vị trí ở Sửu Thiên Lương thành cao nhân đắc ý với trời cao biển rộng. Đứng cặp với Thiên cơ ở Thìn Tuất, Thái Dương ở Mão Dậu, Thiên Đồng ở Dần Thân là độ lượng rộng rãi của một thân hữu giúp bạn đắc ý trong khuôn khổ nào mà thôi. Vậy Tí phải là khu đất phì nhiêu rất hạp cho Thiên Lương.
Cự môn thường mang tiếng là sao ám thể khó tính. Những uẩn khúc của Cự môn đã phơi bày ở 2 căn cứ Tí Ngọ được danh hiệu là Thạch Trung ẩn ngọc. Cự Môn ở Ngọ thường tương tự trường hợp Thiên lương ở Ngọ vì ngọn đèn Thái dương phải cần thời gian mới rạng tỏ (Thiên lương ở Ngọ thì Thái Dương ở Tí, Cự Môn ở Ngọ thì Thái Dương ở Tuất) nhưng không kém phần tư cách (Thái Dương ở cung Dương). Cự Môn ở Tí, Thái Dương phải ở cung Thìn mới tỏ rõ nỗi lòng của Cự Môn chứa chấp với những cứu cánh thích hợp vững chắc nhất là Khoa Lộc, thứ đến Thiên Tài Tuần Triệt nếu có sát tinh cứng cổ.
Mười hai địa bàn khu đất phì nhiêu cho các sắc dân phải chăng là khoảng Tí Ngọ Dần Thân (Ngọ là Thái Dương, Tí là Thái âm, Dần là Thiếu dương, Thân là Thiếu âm). Tí Ngọ chứa đựng những cao cách. Tử vi Tí Ngọ, Thiên Lương Tí Ngọ, Phá quân Tí Ngọ, Cự Môn Tí Ngọ.
Dần Thân tô điểm những Tử Phủ Dần Thân, Vũ Tướng Dần Thân, Đồng Lương Dần Thân, Cự Nhật Dần Thân. Hai cung Thìn Tuất là 2 độ đường chuyển dần từ Tí Ngọ Dần Thân đến Sửu Mùi Mão Dậu Tỵ Hợi với những cách trình bày Tử Tướng Liêm Phủ Cơ Lương ở mức tương đối đẹp mắt.
Ngoài 6 cung Tí Ngọ Dần Thân Thìn Tuất, 6 cung còn lại chỉ là những diễn trường phức tạp, sân khấu Sửu Mùi hết hồi Tham Vũ đến cảnh Tử Phá Đồng Cự, Tỵ Hợi diễn xong Tử Sát nối tiếp Liêm Tham Vũ Phá. Thái Dương Thiên Lương hạ màn ở Mão Dậu thì Tử Tham Liêm Phá nối đuôi.
Tóm lại 6 lục địa dương cung là 6 khu đất phì nhiêu, còn 6 âm cung là nơi thường diễn tả những cảnh tang thương bất ổn. Đây chỉ là một khía cạnh đường lối dịch lý là luôn luôn có 2 mặt cho mọi sự việc: có dương phải có âm, có tốt phải có xấu tương phản.
Khu đất của mười bốn chính tinh còn có thể chia rõ dương cung, âm cung, nhưng bộ Nhật Nguyệt thì khó hơn nhiều — không một vị trí nào trong mười hai cung được phép xử một cách xuề xòa.
Bộ Nhật Nguyệt: mười hai vị trí, mười hai lần cân nhắc
Bộ Tử Phủ trong 14 chính tinh được xem trọng như là tốt đẹp quí giá nhất. Công bằng mà nói đó là bộ mặt tượng hình cho cao sang hiền hậu, nhưng bất lực phải nhờ đến phụ tá tài danh mới nên việc. Phân tách 6 cung cho cả 12 cung (2 cung 2 cách giống nhau): Tử Vi Tí Ngọ và Dần Thân tối cần Tả Hữu. Ở Tỵ Hợi, luôn luôn có Thất Sát đứng kèm, ở Thìn Tuất không thể xa rời Thiên Tướng. Còn Mão Dậu Sửu Mùi là cảnh triều đình Lê Chiêu Thống hay Trần Nghệ Tôn không thể thống gì là chính dinh oai nghiêm. Ngoài ra Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham và Đồng Lương Cơ Cự chỉ là văn ban võ bá 2 hàng, một khi đắc cách phải không nên sự nghiệp.
Riêng Nhật Nguyệt là bộ âm dương của số, biểu tượng cho Thiên Địa cần sự phân tích thận trọng từng vị trí phải làm sao cho hợp lý, không thể bao gồm căn cứ từ Dần đến Thân là thuộc địa của Thái Dương, từ Thân đến Dần là nơi sang tỏ của Thái âm.
Mười hai trường hợp của Thái Dương, Thái Âm
Thứ nhất, Thái Dương ở Ngọ, Thái âm ở Thân. Thái dương ở đây kể như là tuyệt đối với người dương Hỏa mệnh nếu được thêm là tuổi Dần Ngọ Tuất. Thái âm kể như là thất bại cho cả 2 hạng âm và dương, bị Thiên Cơ lợi dụng.
Thứ hai, Thái Dương ở Tỵ thất cách đối với người Dương, chỉ là nhất thời tạm bợ. Thái âm ở Dậu đắc cách hoàn hảo cho tuổi âm mệnh thủy.
Thứ ba, Thái Dương ở Thìn phò trợ đắc lực cho người dương Thổ. Thái âm ở Tuất không tương xứng gì cho cả 2 tuổi âm và dương.
Thứ tư, Thái Dương ở Mão nhờ Thiên Lương một phần lớn tương sinh vẫn không lợi bao nhiêu cho người dương so với người âm, trường hợp Mệnh ở Mùi vô chính diệu được Thái âm ở Hợi quá sáng tỏ đồng chiếu.
Thứ năm, Thái Dương ở Dần người dương được hưởng tương lai hậu vận bởi Cự Môn bao phủ lúc ló rạng. Thái âm ở Tí, kể là hay thêm Thiên Đồng phụ lực, nhưng vẫn là nghịch cảnh của người tuổi âm mà người tuổi dương cũng không mấy thuận lý.
Thứ sáu, Sửu là mộ địa tận trung, cũng như cung Mùi, cả hai là căn cứ thuộc âm. Thái Dương đứng ở đây bị xút kém ở 2 nơi là vì luật âm dương, mà Thái âm cũng không tốt đẹp vì luật ngũ hành. Hai cung Sửu Mùi là chỗ tập trung để chuyên chế từ Thái âm sang Thiếu Dương (Sửu) và từ Thái Dương sang Thiếu âm (Mùi) thành tranh tối tranh sáng. Vậy cần phải có phép thần thông tách rời Thái Dương lui sang Ngọ, Thái âm chuyển sang Thân, cũng như Thái âm về Tí và Thái Dương bước sang Dần.
Thứ bảy, Thái Dương ở Tí là nghịch cảnh sa lầy ghê sợ cho người tuổi dương. Thái âm không mấy tốt đẹp hơn Thái Dương chỉ là hợp tình. Thái âm ở Mão với người tuổi Âm, nghịch cảnh của Thái Dương ở Ngọ nhưng tương lai không phải là không thuận bước cho người dương, Thái âm ở Dần cùng trường hợp ở Thân, người dương mộc rất thuận lợi.
Thứ tám, Thái Dương ở Hợi là sa lầy ghê sợ cho người tuổi dương, Thái âm không mấy tốt đẹp hơn Thái Dương chỉ là hợp tình, Thái âm ở Mão với người tuổi âm.
Thứ chín, Thái dương lâm Tuất là cảnh u tối, người tuổi dương hợp cách và hy vọng có tương lai. Thái âm ở Thìn là đáng ngại.
Thứ mười, Thái Dương ở Dậu là sôi hỏng bỏng cũng không, nhờ Thiên Lương phò trợ lại bị cung khắc mất. Thái âm ở Tỵ có bề hợp cảnh.
Thứ mười một, Cự Nhật ở Thân là bước đường đời của tuổi dương gặp nhiều trở lực, Đồng âm ở Ngọ là vị trí cân phân, vẫn là hình bóng của trường hợp Đồng âm ở Tí cho cả 2 tuổi.
Thứ mười hai, Nhật Nguyệt ở 12 vị trí sự thiết yếu bao giờ Nhật cũng phải ở dương cung mà Nguyệt phải ở âm địa. Nhật đắc cách là tuổi Hỏa, Nguyệt phải là tuổi Thủy. Sáng sủa hay lạc hãm chỉ là phụ, trường hợp mập mờ ("lại cái") không bao giờ hợp cách, cho nên Nhật Nguyệt tối cần bộ tam minh là Đào Hồng Hỉ. Nhật Nguyệt rất được kể là quang minh lộng lẫy. Ngoài Đào Hồng Hỷ, Nhật Nguyệt rất nên gặp 1 trong 3 bộ Xương Khúc Long Phượng Quang Quí và Hóa Khoa có công dụng như tam minh, nhất là Long Phượng nâng cao phẩm giá Nhật Nguyệt lên hàng danh dự anh minh chính đính.
Nhật Nguyệt được những bộ trên tô điểm sáng rực rỡ bao nhiêu, trái lại rất cần xa lánh tứ hung Kình Đà Hình Kỵ. Chúng bao vây che lấp Nhật Nguyệt mất cả ánh sáng, mổ xẻ cắt cứa hành hạ theo nghề nghiệp vốn sẵn là thiện nghệ.
Bộ Nhật Nguyệt có 2 trường hợp cần phân tách chu đáo ở 2 vị trí Sửu Mùi nơi tập trung để chuyển hướng rất cần Tuần Triệt, Khoa Tài đóng vai trò trọng tài phân phối âm dương đường ai nấy đi. Đó là 4 cái chìa khóa để điều chỉnh bộ âm dương rất kiến hiệu.
Vậy đặc biệt của Nhật Nguyệt khác với chính tinh do lý chính bất như chiếu (chiếu đẹp hơn chính). Ngọn đèn bật sáng lên xung quanh thấy rõ hơn là chân đèn, như vô chính diệu ở Mùi được Nhật Mão Nguyệt ở Hợi chiếu lên (Nhật Nguyệt chiếu hư không). Nếu thêm Hóa Kỵ thì Hóa kỵ phải ở Mùi. Đây là cảnh trí khánh vân (mây ngũ sắc biểu hiện thái bình thịnh trị) tuyệt hoa.
Ba nhà văn hào cùng chịu ảnh hưởng bộ Nhật Nguyệt
Ba nhà đại văn hào: Nguyễn Khuyến tuổi Ất Mùi sanh ngày 6 tháng 4 giờ Mão. Huỳnh Thúc Kháng tuổi Bính Tí sanh ngày 3 tháng 10 giờ Thìn. Nguyễn Đình Chiểu tuổi Nhâm Ngọ sanh ngày 13 tháng 5 giờ Dậu. Cả 3 cụ có số chịu ảnh hưởng bộ Nhật Nguyệt rất nhiều, cùng vị trí nghịch lý âm dương nên cuộc đời chan chứa một mối ưu tư bất mãn hầu tương tợ. Ba cụ nổi danh trên văn đàn do văn tinh Đồng Lương Khôi Việt Xương Khúc. Riêng 2 cụ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu vướng Hình Riêu Hà Sát nên mục tật tối tăm vĩnh viễn. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được Hồng Loan khai thông chỉnh đốn: Nhật Nguyệt trở nên xuất sắc hơn người.
Đã mang danh tu mi đứng trong trời đất, thà chấp nhận Thái Dương lâm Tuất Tí còn hơn ở cảnh nhất thời Mão Tỵ chỉ là phù vân không xứng phận nam tử, những ai phấn son tô điểm sơn hà dẫu có yên vui với Thái âm ở Tuất Tí nên đành ưng chịu ở Mão Tỵ là nơi hợp cách đào tơ liễu yếu dầu gặp nhiều nỗi trái ngang.
Nơi đây cho thấy định mệnh là bất khả kháng, khiến cái Thân phải có một phần trách nhiệm xử thế cuộc đời.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư, Thiên Lương.
