Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Nô Bộc hóa Kỵ chạm Quan Lộc đại hạn, cải tạo nhà

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa04/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Nô Bộc hóa Kỵ chạm Quan Lộc đại hạn, cải tạo nhà

Bà cụ sáu mươi hai tuổi ra tưới hoa buổi sáng rồi ngã, trong khi lá số đã báo từ lâu một cái Kỵ chờ sẵn ở đại hạn. Cung Nô Bộc hiện ra như cuốn sổ ghi trước cả giờ, ngày và việc đang làm dở. Nhưng vì sao Lộc Kỵ phải rơi đúng vào một cung nhất định mới thành điềm gở…


Huynh Đệ là cung khởi vận, Phụ Mẫu là cung phúc ấm

Muốn nói chuyện nợ nần với anh em, hãy nhìn cung Huynh Đệ. Khi cung Mệnh của đại hạn hóa Kỵ bay vào Huynh Đệ rồi xung sang Nô Bộc, hoặc hóa Kỵ bay vào Phụ Mẫu rồi xung sang Tật Ách, đó là điềm hung. Cung Huynh Đệ còn là cung khởi vận: nó cho thấy vận lên xuống, sóng gió ra sao. Vì vậy Huynh Đệ tốt thì rất tốt, mà Huynh Đệ xấu thì cũng rất xấu.

Phụ Mẫu thì là cung phúc ấm, dùng để xem phúc đức hay phúc ấm của người đứng sau, như chuyện bảo lãnh, góp hội, thị phi, quan tụng. Giả sử đại hạn hóa Kỵ bay vào Phụ Mẫu, thì trong đại hạn ấy tốt nhất đừng đứng ra bảo lãnh hay góp hội.

Tứ Hóa của cung Huynh Đệ trong đại hạn cho biết đại hạn ấy lên xuống thế nào; nếu Huynh Đệ hung, đại hạn chắc chắn biến động lớn. Với bản mệnh cũng vậy: Huynh Đệ bản mệnh hung thì cả đời lên xuống, sự nghiệp ít thuận, nhiều biến động. Cần xem Lộc Kỵ của Huynh Đệ rơi vào đâu, và cung bị Kỵ xung chính là chỗ lên xuống mạnh nhất.

Ví dụ cung Huynh Đệ can Giáp, Thái Dương tự hóa Kỵ, còn Liêm Trinh hóa Lộc bay vào Thiên Di: giữa anh em có chuyện tiền bạc lên xuống lớn, và đến lúc đại hạn vào cung Huynh Đệ thì vận xấu. Nói gọn thì Kỵ ở đâu, phá ở đó. Nếu người bị phá còn nhỏ tuổi thì đừng đoán thành tài vận, mà lấy sức khỏe làm chính.

Tự hóa là mất, và mất nặng nhẹ tùy người

Tự hóa chủ mất mát, hóa Kỵ mà lại tự hóa Lộc cũng chủ mất mát. Nếu luận về tiền thì có một điểm đáng nhớ: người hóa Kỵ vốn kiếm không đủ no ấm nên không sợ mất thêm; chỉ người hóa Lộc có kiếm được mới thật sự sợ gặp tự hóa Kỵ, vì có của mới có cái để mất.

Lại xét cung Huynh Đệ can Ất, Thái Âm hóa Kỵ bay vào Điền Trạch, xung Tử Tức là cung Quan Lộc của đại hạn Kỷ Tỵ. Vậy khi vào đại hạn Kỷ Tỵ sự nghiệp không thuận, mà Văn Khúc hóa Kỵ của can Kỷ bay vào Mệnh đại hạn cũng chủ không thuận.

Nhà ở giải được gì, mồ mả giải được gì

Hung tượng đã in vào lá số thì chưa chắc phải chịu nguyên vẹn, vì còn một lối đi qua mảnh đất mình đang đứng.

Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc, Tật Ách đều liên quan đến dương trạch. Khi các cung này bị phá, nên nhờ người giỏi về dương trạch chỉ điểm và thay đổi vị trí đồ đạc trong nhà. Còn Phúc Đức và Điền Trạch bị phá thì liên quan đến âm trạch. Huynh Đệ và Nô Bộc chủ về nhân sự, thuộc dương, nên cải tạo dương trạch để tránh hung. Dương trạch nói đến cát hung của người đang ở, không dính tới người đứng tên sở hữu, vì cái nó cai quản là chỗ người ở. Khi cải tạo, định số hung có thể được làm nhẹ.

  • Kỵ năm sinh nằm ở Huynh Đệ, hoặc Kỵ của đại hạn bay vào Huynh Đệ: cải tạo dương trạch để tránh hung.
  • Kỵ bay vào Phúc Đức hay Điền Trạch: tránh hung từ phía âm trạch.

Hung có thể làm nhẹ nhưng không thể xóa sạch

Cung Mệnh chỉ nên xem cách cục, đừng nâng nó lên quá cao. Một cung gặp hung, nếu có giải nạn thì hung giảm nhẹ chứ không xóa hết. Đã có định số thì tất có hiện tượng; giải nạn chỉ làm nhạt điềm hung. Nếu điềm hung bị xóa sạch hoàn toàn thì chắc chắn hung tượng sẽ nảy ra ở một mặt khác. Chẳng hạn có điềm phá tài mà tài không phá, thì ắt tổn vợ hoặc chồng, vì ở đây vợ cũng là tài.

Số lấy từ Hà Đồ và Lạc Thư là số cố định. Còn "Hi Di số" kết hợp với Tứ Hóa, xem số cộng trừ của Lộc và Kỵ bay ra, và số của sao cũng là một loại Hi Di số. Kiểm chứng vài lần, đoán số anh em, số con cái cho quen, người xem sẽ nắm được yếu lĩnh; tục ngữ nói "trong lòng có số" chính là quen tay hay việc.

Có người hỏi: cung Tử Tức gặp Không Kiếp có phải chủ không con không? Câu trả lời là chuyện có con hay không đừng xét Không Kiếp, mà nên xét bằng Tứ Hóa. Một người có cung Tử Tức can Bính, Thiên Đồng hóa Lộc bay vào Tật Ách, Tham Lang hóa Kỵ bay vào Quan Lộc, trong cung tọa Tử Vi – Thiên Phủ. Số của Tử – Phủ là 1 hoặc 6, nhưng ở cung lục thân thì chủ cô độc, nên lấy số 1.

Người phụ nữ 38 tuổi và chữ Kỵ đến đúng giờ

Một nữ mệnh sinh tháng 12 năm Bính Tuất qua đời năm Nhâm Tuất vì ung thư gan, lúc 38 tuổi. Nô Bộc bản mệnh của bà mang can Canh, Thiên Đồng hóa Kỵ bay vào Tử Tức rồi xung phá sao Lộc của năm sinh. Tử Tức lại chính là Mệnh của đại hạn 34 đến 43 tuổi. Đại hạn ở Tý, Ngọ, Nhâm Thìn: Thiên Đồng hóa Kỵ xung cung đối diện là Tuất, mà năm 38 tuổi, Thái Tuế đúng là Nhâm Tuất. Thế là chữ Kỵ đã tìm đúng đường đến.

Khi nào Kỵ của Nô Bộc thật sự thành thọ nguyên

Từ ca này rút ra một loạt điều kiện, và điều quan trọng nhất là Kỵ của Nô Bộc bản mệnh phải bay vào cung Quan Lộc trong tam hợp của đại hạn thì mới tính.

  • Giả sử Nô Bộc bản mệnh hóa Kỵ bay vào Dậu và hóa Lộc bay vào bản mệnh. Đại hạn đi thuận đến Thìn thì chưa có liên hệ gì. Sang đại hạn Tỵ thì Kỵ ở Dậu là cung Quan Lộc của đại hạn, lúc đó mới là đại hạn trọng yếu.
  • Nếu Kỵ bay vào Tử Tức hoặc Điền Trạch thì cả hai đại hạn Thìn và Tỵ đều phải để ý. Đặc biệt Nô Bộc hóa Lộc không được bay vào Phúc Đức, vì Phúc Đức là Tật Ách của Tật Ách, và lúc này hóa Lộc cũng không được bay vào Mệnh.
  • Nô Bộc hóa Lộc bay vào Mệnh, hóa Kỵ bay vào Tử Tức hoặc Điền Trạch thì chắc chắn không qua nổi đại hạn Thìn.
  • Tam hợp cung hóa Kỵ bay vào Mệnh, Tài, Quan; khi đại hạn đi tới vị trí sao Kỵ, tức Quan Lộc của đại hạn, thì nguy hiểm.
  • Nếu đại hạn vào Thiên Di, mà Kỵ của Nô Bộc bản mệnh đúng vào Quan Lộc đại hạn thì cần chú ý. Đại hạn đi nghịch đến Tật Ách, cung Mệnh trở thành Nô Bộc của đại hạn, cũng không thoát, và Kỵ xung Quan Lộc thì vận nhỏ không thuận.
  • Nô Bộc ở Thìn, Mệnh ở Hợi, Nô Bộc hóa Lộc bay vào Mệnh, hóa Kỵ bay vào Dậu: đại hạn vào Nô Bộc thì nguy hiểm. Khi Kỵ tọa đúng Quan Lộc đại hạn và xung Quan Lộc bản mệnh thì chắc chắn hung, khó thoát chết. Đi nghịch đến Tật Ách, Lộc bay vào Nô Bộc đại hạn và Kỵ vào Điền Trạch đại hạn xung Tử Tức cũng khó qua.
  • Điều cần ghi nhớ nhất: Nô Bộc bản mệnh hóa Kỵ bay vào tuyến Tử Tức – Điền Trạch của đại hạn thì đại hạn ấy cực hung, thọ nguyên có vấn đề.

Trong những trường hợp này, âm đức và tạo hóa có ảnh hưởng, có thể dẫn người ta tránh được hung, nhưng định số tiên thiên chắc chắn sẽ hiện ra. Thọ nguyên liên quan tạo hóa, mà tạo hóa chính là cung Phúc Đức, nên Phúc Đức còn gọi là cung Tạo Hóa. Ví dụ Phúc Đức tọa Thái Âm thì liên quan đến chùa chiền, vì Phúc Đức xem cách cục tạo hóa của chính nó.

Bà cụ ngã bên chậu hoa và cái chén rượu của người cha vợ

Giờ, ngày và việc đang làm dở đều có thể ẩn trong một cặp Lộc Kỵ.

Một âm nữ cục Mộc Tam, 62 tuổi, mất vào ngày 23 hoặc 24 tháng 5 năm Nhâm Tuất, khoảng 9 giờ sáng, do ngã khi đang tưới hoa. Nô Bộc bản mệnh của bà can Nhâm, Vũ Khúc tự hóa Kỵ, đồng thời là cung Mệnh của đại hạn 53 đến 62 tuổi. Thiên Lương hóa Lộc theo Nhâm bay vào Phúc Đức bản mệnh, tức Tử Tức chiếu Điền Trạch của đại hạn, nên Lộc này không nằm trong tam hợp.

Nô Bộc của đại hạn mang can Đinh, Cự Môn hóa Kỵ bay vào Mệnh, còn Thái Âm tự hóa Lộc. Cung Mệnh bản mệnh chính là Tật Ách của đại hạn, và sao Lộc đứng ở tuyến Tử Tức – Điền Trạch.

  • Nếu Kỵ của Nô Bộc bản mệnh bay vào Quan Lộc Tân Mão rồi xung Đinh Dậu là Phu Thê, thì phải đến đại hạn 63 đến 72 tuổi ở Quý Tỵ mới nguy hiểm: Kỵ bay vào Phu Thê của đại hạn xung Quan Lộc, còn Lộc của Thiên Lương bay vào Sửu, tạo thành tam hợp với đại hạn Quý Tỵ.
  • Lộc bay vào tam hợp mà Kỵ vào Tử Tức, Điền Trạch cũng nguy hiểm; ngược lại Lộc ở Tử Tức, Điền Trạch mà Kỵ bay vào tam hợp cũng nguy. Chỉ cần một sao, Lộc hay Kỵ, vào tam hợp là tính có vào.
  • Kỵ bay vào Phu Thê xung Quan Lộc mà Lộc bay vào nhị hợp của đại hạn thì chưa nguy, vì Kỵ chưa vào Quan Lộc đại hạn. Nô Bộc bản mệnh hóa Kỵ không được rơi vào Quan Lộc đại hạn.
  • Đại hạn Dần 33 đến 42 tuổi, Kỵ xung Tài Bạch đại hạn: đó là điềm tổn tài, không dính đến thọ nguyên.

Về chi tiết cuối cùng: Nô Bộc đại hạn Đinh Dậu có Thái Âm tự hóa Lộc thì không cát, còn Nô Bộc bản mệnh tự hóa Kỵ thì cũng hung. Kỵ không bay vào Mệnh thì chưa liên quan đến thọ; bay vào Mệnh thì chắc chắn hung. Tháng 5 lưu nguyệt ở Quý Tỵ, Vũ Khúc Kỵ xung Mậu Tuất là Nô Bộc của lưu nguyệt. Hoa dính tới sao Thái Âm, nên nếu không ra tưới hoa thì có thể không sao, nhưng định số đã có thì khó thoát. Chín giờ sáng là giờ Tỵ; Quan Lộc của giờ Tỵ là Đinh Dậu, Thái Âm tự hóa Lộc, Thiên Đồng theo can Đinh hóa Kỵ bay vào Mệnh, xung cung Mệnh của lưu nguyệt.

Chén rượu và sao Thái Âm

Cha vợ của người thầy ngồi cung Tý có Đồng – Âm, rất giỏi uống rượu, nhưng Thái Âm hóa Kỵ, hôm sau uống rượu thì mất. Thiên Đồng là phúc tinh hội với Thái Âm là sao rượu, ở vùng nước Hợi, Tý thì chắc chắn giỏi uống. Còn nếu tự hóa thì dù tửu lượng cao cũng không còn thích uống.

Một chuyện khác cần phân biệt: cha của một người, cung Tật Ách bản mệnh hóa Kỵ xung cung Mệnh đại hạn, bệnh kéo dài bảy tám năm mà chưa mất. Tật Ách không phải cung chủ thọ nguyên.

Ba lá số ngắn: Điền Trạch, tai nạn xe, cảm cúm

Lá số thứ nhất: Nô Bộc bản mệnh can Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc bay vào Mệnh, Vũ Khúc hóa Kỵ bay vào Điền Trạch. Đại hạn đi vào Điền Trạch thì người ấy qua đời. Nếu Lộc bay vào Điền Trạch, Kỵ bay vào Mệnh thì chỉ chủ tổn tài hoặc gia vận bất an, không dính tới thọ nguyên. Khi ấy thọ nguyên ứng vào đại hạn Phúc Đức, lúc Lộc ở Phụ Mẫu xung Tật Ách và Kỵ ở Phu Thê xung Quan Lộc, hoặc ứng nghiệm ở đại hạn Thiên Di. Lộc bay vào Điền Trạch là điềm cát, thọ còn dài; lúc đó chỉ cần chú ý đại hạn bị Kỵ xung. Dù vậy, Kỵ vẫn phải bay vào Quan Lộc đại hạn mới thành điềm.

Lá số thứ hai: một nữ mệnh 35 tuổi, tai nạn xe vào ngày 16 tháng 3 năm Quý Hợi, mất ngày hôm sau. Nô Bộc bản mệnh can Đinh, Cự Môn hóa Kỵ bay vào Mệnh, Thái Âm hóa Lộc bay vào Phu Thê chiếu Quan Lộc. Nô Bộc của đại hạn mang can Kỷ, Vũ Khúc tự hóa Lộc, còn Văn Khúc theo can Kỷ hóa Kỵ phá sao Lộc mà Nô Bộc tiên thiên bay đến.

Lá số thứ ba: một bé trai mười một tuổi, âm nam cục Hỏa Lục, cảm cúm tiêm thuốc rồi mất. Nô Bộc bản mệnh can Kỷ, Vũ Khúc tự hóa Lộc, Văn Khúc hóa Kỵ bay vào Mệnh. Năm mười một tuổi, lưu niên Ất Tỵ, Nô Bộc của đại hạn can Kỷ, Văn Khúc hóa Kỵ bay vào Huynh Đệ lưu niên xung Nô Bộc, và cũng là Kỵ của Nô Bộc bản mệnh bay vào Huynh Đệ lưu niên xung Nô Bộc. Vũ Khúc tự hóa Lộc thuộc Kim chủ phổi, nên mới sinh chuyện cảm cúm.

Có một lời dặn đi kèm: đoán mệnh phải cẩn thận. Nếu đem lá số người đã mất ra thử mà không kín đáo thì sẽ bị lộ khí.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa