Bài tổng quan
Cung Nô Bộc giữ chìa khóa sinh tử, thọ nguyên và bệnh lạ
Người nằm viện làm đủ xét nghiệm vẫn không ra bệnh, vì dấu hiệu không nằm ở Tật Ách mà ở một cung bị coi nhẹ nhất. Cung ấy giữ khí số cha mẹ truyền xuống, và khi nó gặp Kỵ thì cả thọ nguyên cũng bị soi tới…
Mục lục · 9 phần
- 01Cung Nô Bộc giữ chìa khóa sinh tử mà ít ai để ý
- 02Một cách đánh số khác để thấy mối liên hệ các cung
- 03Bí quyết Nhất Khí Sinh Tử Quyết
- 04Những điều cấm kỵ giữa Nô Bộc và Lộc Kỵ năm sinh
- 05Hai tuyến bốn cung bị coi nhẹ mà là đầu mối
- 06Vì sao không dùng Tật Ách để đoán sinh tử
- 07Kỵ xung không đồng nghĩa với hung
- 08Nô Bộc tự hóa: nguy hiểm dù là Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ
- 09Nghiệm lại bằng lá số người đã qua đời
Cung Nô Bộc giữ chìa khóa sinh tử mà ít ai để ý
Khi một người nhập viện, làm đủ xét nghiệm vẫn không ra bệnh gì, thường người ta nhìn mãi vào cung Tật Ách mà không thấy dấu hiệu. Phép "Nhất Khí Sinh Tử" chỉ ra rằng chỗ cần nhìn là cung Nô Bộc. Tứ Hóa của Nô Bộc có thể đoán được sinh tử và thọ nguyên của một người, đặc biệt là những căn bệnh khó tìm nguyên nhân.
Lý do nằm ở chỗ Nô Bộc là Quan Lộc của Phụ Mẫu. Cha mẹ truyền lại một luồng khí cho mình, và cung của luồng khí ấy chính là cung Nô Bộc. Mệnh của mình do khí của cha mẹ sinh ra, nên cung quản khí của họ, tức Quan Lộc của Phụ Mẫu, chính là chỗ cất giữ khí số. Khi cơ thể có nạn thì dấu vết thường nằm ở tuyến Huynh Đệ và Nô Bộc.
Một cách đánh số khác để thấy mối liên hệ các cung
Trong Mật Tông tinh pháp, cùng mười hai cung nhưng thứ tự số khác, nên mối quan hệ giữa các cung hiện ra theo một hướng mới.
Đẩu Số xếp vạn vật lấy tài làm trung tâm. Mật Tông tinh pháp, vốn là vật của Đạo gia, thì lấy số 2 làm trung tâm. Số 2 trong Đẩu Số chính là cung Huynh Đệ, vì vậy tài nằm ở cung Huynh Đệ nên dễ bị tổn. Lấy 12 trừ 2 được 10, nên Phụ Mẫu và Huynh Đệ cùng mang số 2. Từ đó một loạt quan hệ hiện ra:
- Huynh Đệ và Phụ Mẫu đều liên quan đến chuyện tài.
- Tử Tức trong Đẩu Số là số 4, còn Điền Trạch ở Mật Tông là số 4, hai cung này cùng chủ đào hoa.
- Huynh Đệ, tức thứ ngang hàng, làm hao tổn tài của mình ở các số 5 và 2.
- Tật Ách và Nô Bộc, các số 6 và 8, là hai cung đảo vị cho nhau.
- Số 7 là Thiên Di trong Đẩu Số; ở Mật Tông số 7 là Ngẫu, tức Phu Thê. Vì vậy khi Thiên Di lưu niên hóa Kỵ nhập Phu Thê rồi xung Quan Lộc, khí vị rất hung.
- Thiên Di còn mang số 9 ở Mật Tông, chính là Quan Lộc của Đẩu Số, nên Thiên Di sợ Kỵ đến xung.
- Vạn vật có đầu mối ở các số 2 và 8, 6 và 12. Bốn cung này lợi hại, nhất là hóa Kỵ nhập Huynh Đệ thì chắc chắn có tổn thất tài vật.
Bí quyết Nhất Khí Sinh Tử Quyết
Bốn hóa tinh ở một cung vị xa lạ lại nói được cả tuổi thọ. Bí quyết ở đây là biết nhìn đúng cung.
- Thân thể có nạn thì tượng thường nằm ở tuyến Huynh Đệ và Nô Bộc. Tứ Hóa của Nô Bộc đoán được sinh tử thọ nguyên.
- Khí mà cha mẹ để lại cho mình là di truyền, và cung của khí số là Nô Bộc. Nếu thân thể không tốt, hóa Kỵ ở Huynh Đệ hay Nô Bộc xung vào thì biết có nạn, chủ yếu ở tuyến bạn bè qua lại.
- Có lúc bệnh không hiện ở Tật Ách nhưng lại hiện ở Nô Bộc; những chứng bệnh nghi ngờ, bệnh lạ đều có thể đọc từ Nô Bộc. Pháp quyết này là cách tìm nhanh.
- Mệnh cung hóa Kỵ nhập Nô Bộc xem như Tật Ách. Còn Tật Ách có khi cũng liên quan đến Tử Tức, vì vị trí của nó nằm giữa Tử Tức và Nô Bộc, nên không nhất định Tật Ách chỉ chủ đào hoa hay thân thể, đôi khi là tổn thất tài vật. Cần xem góc độ cụ thể để phán đoán.
- Nô Bộc là 8, Tử Tức là 4, cộng lại bằng 12, vượt qua cực số 10.
Những điều cấm kỵ giữa Nô Bộc và Lộc Kỵ năm sinh
Nô Bộc không được chạm vào Lộc của mình. Nếu chạm, đại hạn đi qua đó sẽ khó thoát.
Mệnh cung là mạng của mình, nắm lấy một luồng khí của cha mẹ để sinh ra; còn Quan Lộc của cha mẹ là Nô Bộc của mình. Từ đó có các quy tắc:
- Tứ Hóa của Nô Bộc, bất kể Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, nếu Lộc tinh của nó tọa cung thì khi hành hạn đến đó thường có tai ách xảy ra.
- Hóa Kỵ của Nô Bộc không được xung phá hóa Lộc năm sinh của mình. Hóa Lộc của Nô Bộc cũng không được nhập cung hóa Kỵ năm sinh của mình.
- Ví dụ: Quan Lộc bản mệnh tọa hóa Lộc năm sinh, mà Nô Bộc hóa Kỵ đánh xung vào Lộc ấy thì đến đại hạn Quan Lộc kiếp nạn khó thoát.
- Đại hạn Nô Bộc hóa Kỵ nhập Nô Bộc bản mệnh thì chắc chắn có tai ách. Nếu Nô Bộc bản mệnh còn tự hóa Kỵ, người ấy đã qua đời vào năm Kỵ nhập tự hóa, hoặc năm đối xung của nó. Nếu có người đem lá số người đã mất đến thử thì có thể dùng quyết này để đoán.
- Đại hạn Nô Bộc hóa Kỵ nhập Nô Bộc bản mệnh mà Nô Bộc bản mệnh không tự hóa Kỵ vẫn chủ có đại tai nạn.
Thân thể mà phi hóa tinh ở tuyến Huynh Đệ, Nô Bộc hay có tai nạn nặng, lý cũng ở đây. Có thể đó là di truyền của âm đức. Đi sâu thêm thì đây là đào hoa và tiền tài hợp thành tam hợp phương của nó, nên cung Nô Bộc không thể bỏ qua: ở Huynh Đệ thì thường là tổn tài, còn ở Nô Bộc thì tai nạn thân thể nhiều hơn.
Hai tuyến bốn cung bị coi nhẹ mà là đầu mối
Cung nào ít người để ý nhất thường là cung đáng để ý nhất.
Hai tuyến Huynh Đệ, Nô Bộc và Tật Ách, Phụ Mẫu hợp thành bốn cung là đầu mối của Đẩu Số. Chúng ít được coi trọng nhưng thực ra quan trọng nhất. Tài Bạch hóa Kỵ đến Nô Bộc là tiền của mắc bệnh, tất có tượng tổn thất. Quan Lộc hóa Kỵ nhập Nô Bộc là sự nghiệp mắc bệnh, sự nghiệp không phấn chấn hoặc bất lợi.
Thiên Di và Phu Thê thì ý đã rõ: Thiên Di trong Đẩu Số là 7, Phu Thê ở Mật Tông cũng là 7, hai cung này xem như một thể. Huynh Đệ ở Mật Tông là 3, tức Phu Thê của Đẩu Số, đối cung là sự nghiệp, nên Huynh Đệ và sự nghiệp có quan hệ; nó cũng liên quan đến đào hoa. Bạn bè anh em nếu không dắt mình tiêu xài phung phí thì cũng cùng mình hiệp lực lập nghiệp.
Vì sao không dùng Tật Ách để đoán sinh tử
Tật Ách chỉ là mặt ngoài của thân thể. Cái ẩn bên trong lại nằm ở một cung khác.
Cách thông thường lấy Tật Ách làm chủ để xem là xem mặt dương, tức mặt ngoài, mà không nhìn thấy phần ẩn tàng bên trong. Mặt âm nằm ở khí số của Phụ Mẫu, tức Quan Lộc của Phụ Mẫu. Mệnh của người sinh ra từ khí của cha mẹ, nên Quan Lộc của Phụ Mẫu là vị trí âm đức, tức cung Nô Bộc. Quyết của phép này nằm đúng chỗ đó.
Một vị âm đức khác là cung Phúc Đức, thuộc tạo hóa hậu thiên, tức cuộc sống đời này. Vậy Quan Lộc của Phụ Mẫu là âm đức tiên thiên, còn Phúc Đức là hậu thiên tạo hóa. Phúc Đức chủ phúc trạch và thọ nguyên: phúc trạch do tự mình tạo ra, còn thọ nguyên thuộc âm đức nằm ở Nô Bộc. Cha mẹ lưu lại âm đức tiên thiên tập trung ở Nô Bộc; Phúc Đức là phúc khí do đời này tự tạo. Nếu tiên thiên không tốt, hậu thiên làm điều tốt thì Phúc Đức tương tự cũng giải được ách.
Tục ngữ nói: người ở thì nhân tình ở, người mất thì nhân tình mất. Nhân tình ấy chính là Nô Bộc.
Kỵ xung không đồng nghĩa với hung
Có người hỏi: Nô Bộc hóa Kỵ tới xung là hung phải không. Câu trả lời đòi hỏi phải nhìn thứ nằm trong cung bị đánh.
Không thể nói cứ Kỵ xung là hung. Điều chủ yếu là Nô Bộc hóa Kỵ nhập Mệnh mà Mệnh bản có Lộc tinh ở đó, tức cấu thành Kỵ xung phá Lộc. Khi ấy đại hạn Lộc Kỵ xung cung thì nguy hiểm; qua được đại hạn này thì bình an. Nếu Mệnh cung có Nô Bộc hóa Kỵ đến hội Lộc tinh, hai bên chiến khắc thì vô cùng hung hiểm. Lộc Kỵ khác cung nhưng ở thế đối cung hỗ xung cũng là chiến khắc, đại hạn đến đó thì hung.
Điểm rất quan trọng là xem Nô Bộc đại hạn hóa Kỵ có nhập vị trí Lộc tinh không. Nếu Kỵ nhập vị Lộc mà lại tự hóa thì người ấy ắt mất. Nếu tượng đó là tự hóa Kỵ nhưng có Khoa tinh thì vẫn có tai nạn nhưng còn cơ cứu. Nô Bộc đại hạn hóa Kỵ nhập Nô Bộc bản mệnh, mà Nô Bộc bản mệnh lại tự hóa Kỵ thì vốn nên tử vong; chỉ khi Nô Bộc bản mệnh hóa Khoa, hoặc hóa Khoa năm sinh ở Mệnh, Quan Lộc, Phúc Đức mới có cứu. Khoa ở Tài Bạch thì vô dụng.
Nô Bộc tự hóa: nguy hiểm dù là Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ
Cung này không nên tự hóa. Một cung giữ khí số mà tự hóa thì khí đang tự thoát ra.
Nô Bộc tự hóa nguy hiểm, bất kể tự hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Hóa Lộc ở Nô Bộc, tức sao của đại hạn nhập Nô Bộc, thì cần chú ý khí vận của nó đi đâu. Tật Ách chủ thân thể, mà thân người sợ nhất là nhập thổ, nên gặp Kỵ thuộc thổ thì có hại; Quyền Khoa thổ tương đối không hại. Nếu Nô Bộc hóa Khoa nhập Quan Lộc bản mệnh thì Khoa là quý mà cũng chủ trường thọ.
Nếu đại hạn Nô Bộc hóa Lộc nhập Tật Ách hoặc Mệnh cung mà lại có hóa Kỵ xung Mệnh thì sinh mệnh có nguy hiểm; hóa Lộc nhập Mệnh hoặc Tật Ách thì nhất định sức khỏe có vấn đề. Nếu hóa Lộc năm sinh nằm ở Phụ Mẫu hoặc Tật Ách, đại hạn đi xuôi hay ngược mà hành vào tuyến Phụ Mẫu, Tật Ách, đồng thời Nô Bộc đại hạn hóa Kỵ xung phá thì đại hạn ấy phải đặc biệt chú ý. Nô Bộc đại hạn hóa Kỵ xung Phúc Đức bản mệnh cũng cần để ý.
Nghiệm lại bằng lá số người đã qua đời
Có người đem lá số của một người đã mất đến thử. Dùng đúng quyết này thì dấu hiệu quả thật nằm ở những đường chuyển hóa ấy.
Cách tin cậy nhất là lấy Lộc Kỵ của Nô Bộc làm bằng chứng, rồi tự hỏi vì sao đại hạn này có nạn. Dùng cách này đoán sinh tử, xác suất chính xác có thể đạt tới trăm phần trăm. Nếu chỉ dùng Tật Ách đoán sinh tử, sức khỏe thì có lúc không rõ ràng; còn dùng Nô Bộc thì dấu hiệu sẽ hiện ra. Vì vậy cần đặc biệt chú ý Nô Bộc.
Với những ca nhập viện kiểm tra mà tìm không ra nguyên nhân, cách xem là lấy Tứ Hóa của Nô Bộc bản mệnh, trong đó Kỵ có sức nặng nhất, còn Lộc và Kỵ tham khảo thêm. Với cha mẹ cũng thế: Nô Bộc của Phụ Mẫu đại hạn, tức Thiên Di của đại hạn, nếu hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu bản mệnh thì trong đại hạn ấy cha mẹ bị tổn, tương tự khi Kỵ nhập Tật Ách rồi xung Phụ Mẫu. Nếu Phụ Mẫu bản mệnh có hóa Khoa thì có cứu.
Vì thế muốn biết bệnh nặng nhẹ ra sao, hay muốn hiểu vì sao đại hạn nào đó có kiếp nạn, hãy bắt đầu từ cung Nô Bộc: nó là cung bị coi nhẹ nhưng lại quan trọng bậc nhất.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
