Bài tổng quan
Tam tượng, tứ tượng và hai cách xem nghề nghiệp
Có người không đi qua thi cử chính quy mà vẫn thành quan chức cấp cao, chỉ nhờ một ngôi sao tài nghệ hóa Khoa. Cách đọc ấy dựa vào bộ ba sao, cung và Tứ Hóa, rồi dẫn tới hai lối xem nghề nghiệp, một theo Hà Lạc, một theo Lai nhân cung…
Lộc là duyên, Quyền là nghiệp, Khoa là tình, Kỵ là khoản nợ
Trong Đẩu Số, mọi thứ đều phát xạ từ lai nhân, tức nguyên nhân khởi phát; đó là đầu mối then chốt mở cho bánh xe cuộc đời chuyển động, đi qua quá trình duyên khởi duyên diệt, cơ duyên nhân sinh, bụi trần lắng xuống. Lộc và Kỵ để xem cát hung: duyên khởi là bắt đầu, duyên diệt là kết thúc. Quyền và Khoa là quá trình, nằm trong cái số bất biến.
Lộc (duyên khởi) → Quyền (duyên biến, dục niệm chấp nhất) → Khoa (duyên tục, quý nhân cơ hội) → Kỵ (duyên diệt).
Trong Kinh Dịch, đó là đạo lý cân bằng giữa Thiên, Địa, Nhân. Trước hết phải có người, việc, vật thì mới biết trân trọng duyên phận. Thứ tự khi ấy đổi thành Lộc (duyên khởi), Khoa (tùy duyên đối đãi), Quyền (thiên ý cải biến), rồi Kỵ (duyên diệt).
Với biến số vật chất, chia ra hữu cơ và vô cơ, có thể luận cát hung và cả nhân duyên quả báo. Ví dụ Kỵ năm sinh ở Phu Thê là thiếu nợ tình cảm; ở Phụ Mẫu là thiếu nợ bậc trưởng bối hoặc cha mẹ.
Tam tượng nhất vật: sao, cung và Hóa phải đủ ba
Các tinh diệu sinh ra từ thời không, rồi từ đó hình thành Tứ Hóa năm sinh. Vì thế Tứ Hóa năm sinh không thể tồn tại độc lập, phải gắn vào tinh diệu. Tinh diệu là vật tượng, biểu thị vật; cung vị là tượng, là cái thùng chứa, biểu thị sự việc. Tự hóa là lý, có thể từ có hóa không, từ không hóa có. Lộc là nhân, Quyền là khởi đầu của duyên, Khoa là phạm vi, Kỵ là quả: đó là Lộc nhân Kỵ quả.
Tam tượng nhất vật là sao (vật) cộng với cung, cộng với Tứ Hóa năm sinh hoặc tự hóa; ba tượng này đủ thì có thể luận cát hung, theo nguyên lý tam giác cân bằng, dùng trong bản mệnh bàn, đại hạn và lưu niên. Chỉ khi có đủ ba tượng mới có cát hung. Ví dụ Lộc – Khoa tọa Quan Lộc rồi tự hóa Kỵ, thì dù Quan Lộc bị phá vẫn còn Lộc và Khoa.
- Đơn tượng không tạo thành vật: tượng treo không có cát hung, sao đơn độc không thành tượng, chỉ giải được nghĩa của tượng.
- Song tượng tạo thành vật nên có hiện tượng cát hung. Có bốn dạng: song tượng đồng cung; đơn tượng khác cung; đơn tượng tự hóa (Tứ Hóa năm sinh đồng thời có tự hóa); và sao cùng Tứ Hóa năm sinh cùng tự hóa.
- Có tượng tất có vật: nơi có Tứ Hóa năm sinh tất có vật đó. Song tượng, như Khoa Kỵ ở Phu Thê, có cát hung. Đơn tượng cùng nhóm khác cung, như Tài là A còn Quan là D, Lộc theo Kỵ mà đi, Lộc nhân Kỵ quả, thì Tài Quan có cát hung.
- Tứ Hóa năm sinh đồng thời có tự hóa, như Kỵ tự hóa Kỵ, nhưng cung khác có Lộc năm sinh, sau khi kết hợp thành song tượng mới có cát hung. Ví dụ Kỵ tự hóa Kỵ ở Mệnh, Lộc ở Huynh Đệ (quan hệ lục thân), là song tượng, cho thấy mệnh chủ và anh em vô duyên, vì Lộc theo Kỵ ra ngoài.
Ứng dụng của tam tượng nhất vật là mặt chính của Đẩu Số, trọng tâm là nhân duyên quả báo. Ứng dụng của tứ tượng nhất nguyên là mặt phản của Đẩu Số, là bản thể, trọng tâm là định số, định nghiệp: mọi pháp đều do nhân duyên sinh.
Tứ tượng nhất nguyên: định số và khí hóa
Tứ tượng là quy tắc cân bằng của duyên khởi: tượng là một quá trình duyên khởi và duyên diệt, gồm duyên khởi, cân bằng, sinh cơ, hy vọng, tức quy luật sinh tồn. Tự hóa là có giảm có diệt, là quy luật tứ tượng của định số.
- Số tượng: hóa Quyền, hóa Kỵ, số của trời đất, định số, vô giải.
- Khí hóa tượng: hóa Lộc, hóa Khoa, nhân vật, có thể biến đổi, là hóa số.
Tứ Hóa năm sinh mang tính bản thể học. Kết cấu lục nội và lục ngoại của Dụng Thần không giống nhau, lục nội ưu tiên lấy dụng, Kỵ ở lục nội chủ về được. Ba tượng kết hợp phải có Hóa (Tứ Hóa năm sinh hoặc tự hóa) mới có cát hung. Nếu Hóa Kỵ xung lục nội, vẫn phải dùng quy tắc tam tượng nhất vật, vì cung chính và đối cung có song tượng; thường ưu tiên xem cát hung, nhưng phải có Kỵ. Xuyến liên và pháp tượng, tam tượng nhất vật có thể luận cát hung; nếu có tự hóa thì nhất định liên kết tới cung vị khác như một cây cầu nối liền.
Về ứng dụng: nếu cùng một cung có Lộc – Quyền – Kỵ thì dùng thiên can của cung ấy phi Khoa ra ngoài để xem phạm vi, còn Lộc, Khoa, Kỵ phi Quyền ra ngoài để xem duyên khởi. Xem đại hạn, lưu niên cũng như nguyên tắc lập cực ở bản mệnh, phải kết hợp chuyển cung; nhưng chuyển cung phải kết hợp tam tượng nhất vật, kết hợp Tứ Hóa năm sinh và tự hóa, kỹ thuật cốt lõi là Kính Tâm Quyết, phương pháp luận đoán phản chiếu trọng tâm qua các cung vị khác nhau.
Lá số một quan chức cấp cao
Người đàn ông này là quan chức cấp cao. Lai nhân cung phát xạ hóa Khoa năm sinh ở Văn Khúc, tự hóa Quyền – Khoa; đối cung có Văn Xương hóa Kỵ và tự hóa Khoa; dựa vào các cung này để luận cát hung.
- Văn Khúc là con đường khác để lập công danh, tài nghệ. Hóa Khoa kèm Văn Xương là hình thức thi cử chính quy; hóa Kỵ chủ về tinh thần, văn nghệ, chấp nhất một số thứ. Mệnh chủ nhờ sở trường mà thành người có quyền lực, không đi qua thi cử chính quy để làm công chức. Năm đó việc học từng gián đoạn, nhưng nhờ Văn Khúc hóa Khoa (tài nghệ) mà đạt thành tựu.
- Văn Xương hóa Kỵ ở Tài Bạch: hóa Kỵ là trở ngại, học hành chính quy không thuận.
- Văn Khúc hóa Khoa ở Phúc Đức: có tài nghệ, sở trường, nhưng phải xem tự hóa. Tự hóa Quyền – Khoa; Phúc Đức tự hóa Khoa kéo theo hóa Khoa năm sinh, đồng hướng với Tài Bạch nên cát. Tự hóa Quyền pháp tượng đến Huynh Đệ có Thái Dương hóa Quyền, đại diện thành tựu; Thái Dương vốn là quyền lực, hóa Quyền thì càng nhân đôi.
- Đối cung của Tài Bạch đồng hướng hóa Khoa thì gặp quý nhân giúp đỡ, cả nam lẫn nữ; phản hướng thì dần dần từ có thành không, vì thêm một phương hướng cũng như đi hai con đường, dần dần xa rời. Tài Bạch tự hóa Khoa phản hướng với Quan Lộc – Tật Ách tự hóa Khoa: quan càng lớn thì sức khỏe càng kém, thực tế đúng như vậy; thân thể và quan vận như hai đường thẳng song song không gặp nhau.
- Phúc Đức đồng thời phản hướng với sự nghiệp và tuyến Phu – Quan: vợ chồng tuy chung giường nhưng khác mộng, và đã từng ly hôn.
- Hóa Kỵ xung Huynh Đệ cung bị phá, nhưng sự phá này không thành thành tựu mà là hao tài; Huynh Đệ là kho tiền, trong tay không giữ được tiền. Hóa Quyền năm sinh ở kho tiền chứng tỏ có tiền, nhưng đối diện có Hóa Kỵ xung chiếu thì tiền tiêu tán. Pháp tượng Hóa Kỵ tìm hướng tiêu tiền, đi vào Tài Bạch, tiền tiêu vào tiền tức là đầu tư, nhưng đầu tư thất bại vẫn tiếp tục đầu tư, có bao nhiêu đầu tư bấy nhiêu.
- Ba cung hóa Quyền ly tâm xuyến liên; pháp tượng Huynh Đệ có Thái Dương hóa Quyền, biểu hiện thành tựu, ý chí mạnh, khao khát quyền lực, thích theo đuổi thành tích chính trị, phụ trách văn giáo tuyên truyền. Ba anh chị em có hai nam một nữ, mệnh chủ là người thành đạt nhất.
- Thiên Di phản hướng hóa Kỵ với Huynh Đệ – Tật Ách: ra ngoài dễ hao tài. Phụ Mẫu bị kéo phá, không có xuyến liên: với cha mẹ chỉ là con trai làm vật tải thể, quan hệ hạn chế trong phạm vi nhỏ. Với mệnh chủ, đây là cung quang minh, tự lực cánh sinh, có Hóa Lộc năm sinh nên nhờ trưởng bối, cấp trên giúp đỡ; công việc từng đổi nhiều lần, quyền lực cũng đổi và ngày càng lớn mạnh. Mẹ sức khỏe không tốt, đã tốn rất nhiều tiền lo cho cha mẹ, là người con hiếu thảo.
- Lai nhân cung có hóa năm sinh lẫn tự hóa, đồng thời phản hướng với các cung khác, tạo mâu thuẫn xung đột: như Phụ Mẫu có hóa Khoa năm sinh, Phu Thê có hóa Khoa ly tâm, có thể cha mẹ và vợ có mâu thuẫn. Người này ly hôn trong đại vận từ ba mươi ba đến bốn mươi ba tuổi, cả hai đều có vấn đề, rồi tái hôn.
- Quan Lộc hóa Khoa xuyến liên với Tử Nữ (hợp tác), pháp tượng đến Phúc Đức, liên quan sở thích, hưởng thụ, có sở thích đa dạng, yêu thư họa. Đào hoa kiểu văn tài phong lưu, không phải kiểu quấn quýt si mê.
Hai cách xem nghề nghiệp: Hà Lạc và Lai Nhân
Sự nghiệp gồm cả công việc và học nghiệp, vì khi chưa có việc làm thì học nghiệp chính là sự nghiệp. Cát hung họa phúc ở đây chỉ ảnh hưởng đến bản thân, không tác động đến lục thân. Tuyến Phụ – Tật và tuyến Huynh – Hữu để xem sự nghiệp; tuyến Tử – Điền và Huynh – Hữu để xem hợp tác.
Cách thứ nhất: Hà Lạc
Xem thiên can Tứ Hóa của Tài Bạch đại hạn, A, B, C, D rơi vào cung nào. Trước hết xem Hóa Kỵ rơi vào cung vị nào và tinh diệu ở đối cung, rồi kết hợp với ba cung còn lại. Thứ tự quan trọng của nghề nghiệp là D rồi A rồi B rồi C. A là ngành nghề hợp và muốn làm; D là ngành đang làm hiện tại. Cũng cần xem Tứ Hóa rơi vào lục nội hay lục ngoại: lục nội là chính, lục ngoại là phụ. Nếu A, B, C, D có ở cả lục nội và lục ngoại thì mệnh chủ tiếp xúc nhiều công việc khác nhau, tính chất không đơn nhất. Nếu không có Hóa nào thì công việc không ổn định, thường đổi nghề hoặc nơi làm.
Cách thứ hai: Lai Nhân cung
Xem Lai nhân cung ở đâu; ví dụ ở Phụ Mẫu có thể làm trong cơ quan nhà nước. Xem tinh diệu trong Lai nhân cung và ở đối cung để xác định tính chất ngành nghề; cũng có thể xem tinh diệu bên cạnh Lai nhân cung để biết công ty gần khu vực đặc thù nào, ví dụ Thiên Lương – Thái Dương có thể là chính phủ hoặc trường học. Hóa Kỵ tự hóa Kỵ ở Lai nhân nghĩa là công việc có chỉ số hạnh phúc thấp, nhiều trở ngại, có vấn đề về tính cách, nhưng không liên quan đến việc phù hợp hay không.
Môi giới, Tả Hữu Xương Khúc, Thiên Mã, xuyến liên
Khái niệm cân bằng của truyền thông (môi giới): với song tượng thì lục cung làm môi giới. Lộc Kỵ thì môi giới là Quyền; Khoa Kỵ thì là Lộc; Lộc Khoa thì là Kỵ; Quyền Kỵ thì là Khoa; Lộc Quyền thì là Kỵ; Quyền Khoa thì là Kỵ. Môi giới là điểm cố định trong một lá số, có thể xem thời gian xảy ra sự kiện và ý nghĩa quan trọng. Nếu môi giới xuất hiện ở cung vị nghề nghiệp, trong phạm vi Tài Bạch đại hạn với Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, thì môi giới cố định ở lục ngoại là công ty tư nhân; ở lục nội là đơn vị nhà nước, hoặc công ty tư nhân có liên quan chính phủ. Lục nội cũng đại diện trong nước, lục ngoại đại diện nước ngoài.
Nếu cung vị nghề nghiệp có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, thì thông thường trong quá trình làm việc có kinh nghiệm hỗ trợ, làm phụ tá, trợ giảng, làm bán thời gian. Nếu có Thiên Mã thì công việc không ổn định, hay phải di chuyển.
Phụ Mẫu có thể xem cơ quan nhà nước; nếu Phụ Mẫu có tổ hợp hóa tượng liên kết với Quan Lộc thì độ chính xác cao hơn. Chẳng hạn hóa B năm sinh tự hóa A ở Phụ Mẫu, hóa A năm sinh tự hóa B ở Quan Lộc, tạo thành B + A = A + B, cho thấy mệnh chủ rất hợp làm trong đơn vị nhà nước. Xem thi cử cũng có thể xem Phụ Mẫu: nếu có tổ hợp A – D thì có thể xuất hiện thi lại, trượt môn, học lại.
Ba lá số nghề nghiệp
Lai nhân ở Quan Lộc: hợp cơ quan nhà nước
Lai nhân cung ở Quan Lộc; tinh diệu tuyến Phu – Quan có Thiên Lương hóa Khoa năm sinh, tự hóa Khoa, đối cung hóa Quyền chiếu. Đối cung có Thiên Đồng, Thiên Lương: hợp với công việc liên quan cơ quan nhà nước, hóa Khoa có nhiều quý nhân, nhất là quý nhân nam (Thiên Đồng, Thiên Lương đều là nam tinh). Nếu Quan Lộc có hóa Kỵ, tự hóa Kỵ hoặc bị Kỵ xung thì không hợp, công việc nhiều khó khăn, nhiều tiểu nhân, quan hệ với cấp trên nam không tốt. Thiên Đồng hóa khí là Phúc; hóa Lộc chủ hưởng thụ, nếu không có hóa Lộc thì có thể làm công chức, nhân viên hành chính. Hóa Quyền tự hóa mang theo hao tổn, hóa Khoa biểu thị quý nhân; trong công việc thể hiện xu hướng của hóa Quyền. Pháp tượng Phụ Mẫu vẫn là đơn vị nhà nước, rất hợp làm trong cơ quan nhà nước, sự nghiệp thuận lợi, quan hệ xã hội tốt.
Phụ Mẫu có Liêm Trinh hóa Kỵ phát xạ, Tham Lang (thiên tài) bị Văn Khúc hóa Kỵ ở đối cung ảnh hưởng: kinh doanh cờ bạc thường thua. Môi trường quanh nơi làm việc: Văn Xương nên xung quanh có trường học; Thất Sát, Tử Vi, Thiên Tướng.
Xem nghề qua Tài Bạch đại hạn: đại hạn 22–31 ở Phu Thê; thiên can của Tài Bạch đại hạn là Canh, với Tứ Hóa Cự, Dương, Khúc, Xương. Văn Xương hóa Kỵ rơi vào Giao Hữu; Cự Môn hóa Lộc rơi vào Phúc Đức. Hóa Kỵ ở lục nội, Phúc Đức thuộc lục nội làm chủ, Giao Hữu làm phụ. Phúc Đức có Thiên Cơ – Cự Môn tự hóa Khoa Kỵ, công việc bị kéo dài, làm khá chậm, nhưng đối cung có hóa Quyền chiếu nên vẫn có năng lực; sự thăng tiến dễ bị trì hoãn. Thiên Cơ là động tinh, công việc thường thay đổi nhưng có thể xem trong cơ quan chính phủ, liên quan dự án, có cơ hội đi công tác nhiều mà không phải đổi nghề hay đổi bộ phận; dự án gồm cơ khí, kim khí, cầu thang; chức vụ là kỹ sư xây dựng, công việc quản lý, vị trí linh hoạt. Cự Môn: ba tầng trên dưới đều liên quan giao tiếp, truyền đạt, truyền lệnh, giám sát, báo cáo. Giao Hữu làm phụ: Thất Sát, môi trường làm việc không tốt, ồn ào; Văn Xương, có thể gần trường học.
Vì sao không dùng Tài Bạch của lá số gốc để phi Tứ Hóa? Vì trên đời rất ít người chỉ làm một công việc suốt đời, nên cần thu hẹp phạm vi và xem từ đại hạn.
Lai nhân ở Phụ Mẫu: cơ quan nhà nước và những lần đổi chỗ
Lai nhân ở Phụ Mẫu. Tuyến Phụ – Tật trước hết tự hóa Quyền, pháp tượng Quan Lộc có hóa Quyền năm sinh; có hướng tâm hóa Khoa, Thiên Lương hóa Khoa năm sinh, tự hóa Quyền (tuyến Phụ – Tật); nên thuộc cơ quan nhà nước. Thiên Mã nằm ở tuyến Phụ – Tật: công việc, cuộc đời không ổn định, thường xuyên di chuyển. Thu hẹp phạm vi: tuyến Phu – Quan có Liêm Trinh, Lai nhân kết hợp đại hạn thì công việc liên quan tư pháp, giám sát.
Lai nhân Phụ Mẫu xuyến liên Giao Hữu, Điền Trạch, Phúc Đức. Càng xuyến liên nhiều cung vị thì càng phát sinh nhiều sự kiện. Tuyến Phụ – Tật xuyến liên Điền Trạch, pháp tượng Quan Lộc: đã từng ở nhà chờ việc. Xuyến liên Giao Hữu: có bạn bè giới thiệu công việc. Xuyến liên Phúc Đức có hóa Lộc năm sinh, tự hóa Quyền: nhiều suy nghĩ, ý tưởng.
Về đại hạn: Tài Bạch đại hạn ở Phu Thê của bản mệnh, thiên can Bính, có Thiên Đồng, Thiên Cơ, Văn Xương, Liêm Trinh. Văn Xương ở Mệnh (lục nội); Mệnh – Thiên Di có Văn Xương, Văn Khúc: đó là người làm trong lĩnh vực văn hóa; đã từng làm ở một cơ quan thông tấn (truyền thông, văn nghệ), cũng có thể thường đến chùa, tiếp xúc văn vật Phật giáo. Giải thích: Lai nhân cung tự hóa Quyền Khoa, môi giới là Kỵ, pháp tượng Văn Khúc hóa Kỵ, tiếp xúc văn vật Phật giáo; Giao Hữu và Tật Ách tự hóa Quyền xuyến liên, Phật giáo có ảnh hưởng đến người này; Thiên Cơ, Thiên Lương cũng liên quan ngũ thuật, đồng thời pháp tượng Quan Lộc. Thiên Lương hóa Khoa năm sinh là trưởng bối nam, chênh tuổi lớn hơn mệnh chủ mười tuổi. Phụ Mẫu hóa Khoa xuyến liên, đôi khi giống cha hoặc bạn bè; Huynh Đệ hóa Khoa xuyến liên là giường ngủ, bạn trai; Huynh Đệ tự hóa Kỵ ngược hướng với Phu Thê (nguyên phối cung) tự hóa Kỵ, không phải chính duyên.
Lai nhân ở Mệnh: tự thân thành tựu
Người này có lai nhân ở Mệnh cung, thuộc cách cục tự thân thành tựu. Thực tế: học lực bình thường, hoàn toàn nhờ chăm chỉ nỗ lực. Mệnh – Thiên Di hóa Quyền, hóa Khoa, Khoa xuyến liên Tử Nữ Khoa cho thấy từng hợp tác kinh doanh với người khác; thực tế không phải hợp tác mà là làm việc với nhân viên từ các phòng ban và doanh nghiệp khác. Hóa Khoa là Văn Xương hóa Khoa, đại diện cho bản thân, thường xuyên xử lý hợp đồng văn bản; từng làm công tác từ thiện thông qua công ty, thực tế lâu dài xử lý hợp đồng văn bản và phụ trách công tác quyên góp của công ty.
Có thể là một quản lý cấp phó nhiều năm, thuộc ngành dịch vụ, liên quan bất động sản. Bị ảnh hưởng bởi Lai nhân: Văn Xương hóa Khoa của Lai nhân trùng Quan Lộc đại hạn, đối cung Lai nhân có Hữu Bật, nên dễ ở vị trí cấp phó. Thực tế: làm phó nhiều năm, nay đã lên chính chức; công ty là khách sạn, cần cho thuê phòng dài hạn. Hợp tác với nữ giới, cũng gặp nữ quý nhân: cấp trên trực tiếp chính là người đã đề bạt anh ta.
Nguồn: Đại Hoa, Giáo Trình Khâm Thiên Tứ Hóa.
