Bài tổng quan
Vay vốn, đòi nợ, kiện tụng và án tù đọc từ hóa Kỵ
Một người đi vay mà hồ sơ bị chặn, một người đòi nợ chỉ nhận về từng đợt nhỏ, một người thua kiện vẫn quyết kháng cáo. Cả ba chuyện đều đọc được bằng một chữ Kỵ, miễn là biết nó nhập hay xung vào đâu. Và có một lá số mang cách Tù Hình Giáp Ấn đã chạm tới mức án mười hai năm…
Mục lục · 8 phần
- 01Vay vốn thành hay bại: nhìn từ cung Nô Bộc
- 02Đòi nợ: năm kiểu Phụ Mẫu phi hóa vào Mệnh
- 03Kiện tụng: thắng hay thua đọc từ Quan Lộc của Thiên Hình
- 04Người sinh ra mang cách Tù Hình Giáp Ấn
- 05Nguyên nhân phạm tội: Thiên Hình chỉ hướng
- 06Đồng phạm hay đơn độc
- 07Mức án và thời gian ra tù
- 08Kháng cáo: Quyền có lực, Lộc vô hiệu
Vay vốn thành hay bại: nhìn từ cung Nô Bộc
Muốn biết một khoản vay có trót lọt hay không, người xem số không nhìn thẳng vào Tài Bạch mà đi vòng sang cung Nô Bộc. Lý do là Nô Bộc chính là cung Phụ Mẫu của Quan Lộc, tức nơi đại diện cho bên cho vay, bên giữ giấy tờ, bên duyệt hồ sơ. Từ đây lấy thiên can của Nô Bộc mà phi hóa. Nếu cung này phi hóa Kỵ xung vào Phụ Mẫu của bản mệnh thì việc vay coi như không thành; xin mượn tiền hay đòi lại tiền đều không có kết quả.
Điểm đáng nhớ là cung Phụ Mẫu ở đây mang nghĩa giấy tờ, chữ ký, sự chấp thuận. Kỵ đánh vào đúng cung ấy nghĩa là hồ sơ bị chặn, lời hứa bị rút lại, người có tiền không gật đầu. Việc này khác với chuyện thiếu tài vận nói chung: một người vẫn có thể giàu có mà bị từ chối đúng lúc cần vay.
Đòi nợ: năm kiểu Phụ Mẫu phi hóa vào Mệnh
Người đi đòi nợ thường chỉ hỏi một câu: bao giờ tiền về. Lá số trả lời bằng cách xem hóa tinh của Phụ Mẫu rơi vào đâu.
Với việc đòi nợ, cung được dùng cũng là Phụ Mẫu, nhưng nhìn theo một góc khác: đó là Tài Bạch của Nô Bộc, nghĩa là túi tiền của người đang mắc nợ mình. Người ấy có chịu móc túi ra hay không, được thể hiện qua hóa tinh mà cung này gửi về Mệnh. Có năm trường hợp.
- Phụ Mẫu hóa Kỵ xung Mệnh cung: chắc chắn đòi không được. Kỵ đứng đối diện Mệnh là thế chặn từ phía ngoài, tiền ở bên kia mà không có đường chảy sang.
- Phụ Mẫu hóa Kỵ nhập Mệnh: vẫn có thể lấy lại, nhưng không phải trả một lần cho xong. Tiền về theo từng kỳ, từng đợt nhỏ, và suốt quá trình ấy không êm xuôi.
- Phụ Mẫu hóa Lộc nhập Mệnh: việc đòi nợ thuận lợi, người nợ sẵn lòng trả.
- Phụ Mẫu hóa Khoa nhập Mệnh: nói chuyện tử tế, thương lượng bằng lý lẽ thì lấy lại được. Khoa là danh tiếng và sự nể nang, nên cách này hợp với lối ngồi xuống bàn bạc hơn là ép buộc.
- Phụ Mẫu hóa Quyền nhập Mệnh: phải tỏ thái độ cứng, đòi bằng mặt ác. Dù vậy chỉ có lúc được, lúc không, chưa chắc đã thu về đủ. Quyền cho thấy bên kia chịu sức ép mới nhúc nhích, chứ không phải vì thiện chí.
Hai chữ "nhập" và "xung" ở đây quyết định rất nhiều. Nhập Mệnh nghĩa là hóa tinh đi vào ngay cung của mình, tức mình đón được nó, còn Kỵ xung Mệnh là đánh từ đối diện nên mình không đón được gì. Cùng một sao Kỵ mà kết quả khác hẳn, chỉ vì đường đi của nó.
Kiện tụng: thắng hay thua đọc từ Quan Lộc của Thiên Hình
Chuyện thưa kiện không đo bằng may rủi mà bằng một tuyến cung rất cụ thể: nơi Thiên Hình đóng và hóa tinh mà cung Quan Lộc của nó bắn ra.
Để xét một vụ kiện, người xem số tìm cung có Thiên Hình tọa, rồi lấy cung Quan Lộc của cung đó mà phi hóa. Bốn điều cần nhớ.
- Nếu hóa Kỵ từ đó nhập Tật Ách rồi xung Phụ Mẫu, hoặc nhập Thiên Di xung Mệnh, thì chắc chắn thua.
- Kỵ nhập thẳng Phụ Mẫu cũng thua nhiều. Tuy vậy vụ việc thường không kéo dài, mà phán quyết được đưa ra sớm, vì Phụ Mẫu là chỗ của văn bản, bản án.
- Nếu Kỵ gặp Quyền cùng nhập Phụ Mẫu, hoặc cùng xung Mệnh, xung Phụ Mẫu, thì người trong cuộc sẽ kháng cáo. Quyền là sức mạnh, nên dù thua vẫn có ý chí đi tiếp.
- Nếu hóa Lộc nhập Phụ Mẫu, chiếu Phụ Mẫu, chiếu Mệnh hoặc nhập Mệnh thì sẽ thắng.
Bốn điều này có chung một logic: Phụ Mẫu và Mệnh là hai đầu mà phán quyết rơi vào. Kỵ rơi vào đó là bị kết luận bất lợi, Lộc rơi vào đó là được kết luận có lợi, còn Quyền thêm vào thì cuộc chiến chưa dừng.
Người sinh ra mang cách Tù Hình Giáp Ấn
Có những lá số vừa nhìn đã thấy bóng chấn song. Chỉ riêng cách cục của Mệnh cung đã báo trước, huống hồ đại hạn còn đổ thêm dầu.
Câu chuyện là một nam mệnh có Kỵ năm sinh tọa ngay Mệnh. Đến đại hạn Bính Thân, Liêm Trinh hóa Kỵ lại nhập đúng bản mệnh, nên trong đại hạn này chắc chắn phiền phức không dứt. Mệnh cung của người này có Liêm Trinh đứng cho Tù, Thiên Tướng đứng cho Ấn, Dương Nhẫn đứng cho Hình. Cổ thư Tử Vi gọi tổ hợp ấy là cách Tù Hình Giáp Ấn, loại người sinh ra đã dễ dính vào pháp luật.
Từ khung cảnh chung, người xem số đi vào từng chi tiết.
- Thiên Hình tọa Tuất, can là Mậu. Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Tật Ách rồi xung Phụ Mẫu, đồng thời là Nô Bộc của đại hạn xung Huynh Đệ. Nghĩa là bạn bè rủ rê đánh bạc, thua tiền rồi liều đi cướp. Năm ngoái, tức năm Nhâm Tuất, người này bị bắt. Kỵ xung Phụ Mẫu trong chuyện phạm pháp có nghĩa là bị bắt và xử rất nhanh.
- Bản mệnh có Thái Dương năm Giáp hóa Kỵ nhập Nô Bộc Kỷ Hợi. Kỷ lại có Văn Khúc hóa Kỵ nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu. Hai dòng Kỵ cùng chỉ về một hướng: bạn bè hãm hại.
- Cung Mậu Tuất là Điền Trạch của cha mẹ, hóa Kỵ nhập Thiên Di của cha mẹ. Hệ quả là cha mẹ người này không còn mặt mũi ở lại nơi cũ mà phải dọn nhà đi chỗ khác.
- Giáp Thái Dương hóa Kỵ, nếu Kỵ lại chuyển Kỵ rồi tự hóa Kỵ thì đó là bị lừa trong cờ bạc, thua chắc không còn nghi ngờ. Tự hóa Kỵ chính là dấu ấn của việc bị lừa.
- Lưu niên Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Tài Bạch của đại hạn, trong khi Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Nô Bộc của đại hạn. Cặp Lộc Kỵ đối đãi ấy cho thấy vì tiền mà bị bạn bè kéo vào rắc rối.
- Mậu Tham Lang hóa Lộc nhập Phu Thê của bản mệnh, còn Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Tử Tức của Phu Thê xung Điền Trạch. Theo quan hệ đối đãi này, vợ chồng không thể sống chung. Cung Phu Thê can Nhâm lại có Vũ Khúc hóa Kỵ tự xung, càng khẳng định hôn nhân đổ vỡ.
Nguyên nhân phạm tội: Thiên Hình chỉ hướng
Trong mọi lá số có chuyện pháp lý, cung chứa Thiên Hình giống như bản án đặt sẵn. Muốn biết tội gì, hãy xem nó nhìn về đâu.
Quy tắc có hai lớp. Lớp thứ nhất: lấy cung tọa Thiên Hình làm Mệnh cung, vì nó chỉ ra hình thái của sự việc. Lớp thứ hai: việc phạm pháp liên quan đến cung Quan Lộc của Thiên Hình. Tức là tính xem Quan Lộc của Thiên Hình là cung nào trong bản mệnh, từ đó biết khuynh hướng phạm tội.
- Nếu Quan Lộc của Thiên Hình là Tài Bạch của bản mệnh, tội phạm chắc chắn liên quan đến tiền bạc.
- Nếu Quan Lộc của Thiên Hình là Tử Tức của bản mệnh, tội phạm chắc chắn liên quan đến đào hoa.
Với người nam mệnh này: Quan Lộc của Thiên Hình có Canh Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu của đại hạn. Kỵ nhập Phụ Mẫu thì chắc chắn chạy không thoát. Giả sử vụ việc xảy ra ở đại hạn Ất Mùi thì kết quả khác hẳn: Thiên Đồng hóa Kỵ của Quan Lộc Thiên Hình nhập Phúc Đức của đại hạn rồi xung Tài Bạch. Khi đó có lẽ chỉ bị phạt tiền, hoặc tự dàn xếp, chi tiền cho yên chuyện mà không phải ngồi tù. Chuyện vào tù chỉ xảy ra ở đại hạn Bính Thân vì lúc ấy Thiên Đồng Kỵ xung đúng Phụ Mẫu. Đây là phép so sánh quan hệ giữa cung vị đại hạn với hóa Kỵ của Quan Lộc Thiên Hình.
Đồng phạm hay đơn độc
Một mình gây án hay có người cùng làm không nằm ở lời khai mà nằm ở tuyến cung mà Kỵ đi qua.
Giả sử chuyện xảy ra ở đại hạn kế tiếp là Đinh Dậu, khi đó Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Mệnh cung của đại hạn. Hành vi phạm tội là việc của riêng mình, không có đồng phạm. Còn nếu hóa Kỵ của Quan Lộc Thiên Hình chạy trên tuyến Huynh Đệ và Nô Bộc thì chắc chắn có người cùng làm.
Mệnh tạo này đặc biệt vì Kỵ đã tọa ngay Mệnh mà Kỵ của đại hạn lại nhập Mệnh nữa. Đây là hiện tượng hung nhất. Đối cung của đại hạn nằm trong tam hợp của Mệnh cung. Tuy chưa phải nhập chính tam hợp nhưng do Kỵ đã tọa Mệnh nên không được phép có thêm Kỵ nhập Mệnh. Kỵ nhập Mệnh là tượng "không mệnh", vận thế đình trệ. Góc độ cấu thành lại chính là tam hợp của Mệnh cung, cho thấy sự việc do chính hành vi của mình mà ra. Chỉ là chưa đến mức mất mạng, còn ý nghĩa thì tương đồng.
Đến đại hạn Nhâm Thân, Quý Tham Lang hóa Kỵ từ Tử Tức xung Quan Lộc, vốn là khí số của bản mệnh. Định số nằm cả trong đó, việc chắc chắn xảy ra. Tử Tức lại chủ về hợp tác, nên việc phạm tội có người cùng làm.
Mức án và thời gian ra tù
Bị bắt rồi, câu hỏi nặng nhất là phải ở trong bao lâu. Lá số trả lời bằng cách đếm cung.
Để xét mức án nặng nhẹ, nhìn vào năm bị bắt là Mậu Tuất, khi Thiên Cơ hóa Kỵ nằm ở Tật Ách xung Phụ Mẫu. Thời hạn hình phải kéo dài đến năm Kỵ xung. Tội hợp tác cướp bóc có mức án thấp nhất trên mười năm. Từ cung Tuất đếm thuận đến cung Mùi là mười năm, còn thực tế bị phán mười hai năm. Nếu vận khí tốt, Mậu Tham Lang hóa Lộc nhập cung Thìn thì còn bảy năm.
Mệnh tạo này có nhiều Kỵ tinh nhập tuyến Phụ Mẫu và Tật Ách, nên mới ra nông nỗi ấy. Hai cung này vừa là văn bản bản án vừa là thân thể bị giam giữ, nên Kỵ dồn về đó thì án nặng và khó thoát.
Kháng cáo: Quyền có lực, Lộc vô hiệu
Không phải ai thua cũng kháng cáo, và không phải kháng cáo nào cũng đổi được kết quả. Hai chuyện ấy đọc bằng hai hóa tinh khác nhau.
Muốn biết có kháng cáo hay không, tìm Quyền. Trong trường hợp này, vụ việc xảy ra ở năm Mậu, Thái Âm hóa Quyền nhập Tật Ách của đại hạn xung Phụ Mẫu của đại hạn, nên có thể sẽ kháng cáo. Chỉ hóa Quyền mới có sức để kháng cáo, hóa Lộc thì vô hiệu.
Còn kết quả của việc kháng cáo thì xem Quyền chuyển Kỵ. Ở đây, Tân Văn Xương hóa Kỵ lại nhập Tật Ách của bản mệnh xung Phụ Mẫu, nghĩa là kháng cáo không có tác dụng. Dù Tân có Văn Khúc, Văn Xương, Khoa, Kỵ nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu thì cũng vô hiệu, chỉ khiến người kháng cáo tốn thêm tiền mà thôi.
Như vậy toàn bộ quy trình pháp lý được đọc qua một chuỗi: Kỵ báo thua, Quyền báo kháng cáo, rồi Kỵ chuyển tiếp từ Quyền báo kháng cáo có thành công hay không. Cách đọc này cho thấy mỗi hóa tinh giữ một vai riêng, và vai trò chỉ thể hiện rõ khi nhìn cả chuỗi chứ không phải một sao đơn lẻ.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
