Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Lý khí số tượng và tám nguyên tắc nền của phi cung

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa04/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Lý khí số tượng và tám nguyên tắc nền của phi cung

Bốn tầng làm nên một lá số: cái bất biến, cái chuyển động, con số và hình tượng. Từ đó rút ra tám nguyên tắc nền của phi cung, và hiểu vì sao người thành công lớn thường mang Kỵ ở Mệnh, Tật, Phúc…


Lý, khí, số, tượng: bốn tầng của một mệnh bàn

Lý, khí, tượng, số là bốn khái niệm quan trọng nhất của Khâm Thiên Đẩu Số.

Lý

Lý là các quy tắc, quy luật thực tế chứa trong một mệnh bàn, gồm sự diễn hóa (vận động, biến đổi), duyên khởi và duyên diệt (nhân duyên bắt đầu và kết thúc), và Tứ Hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ, nhất là Tứ Hóa năm sinh xuất phát từ lai nhân cung. Lý đại diện cho bản chất nền tảng, là cái bất biến của mệnh bàn.

Khí

Khí là sự vận động của năng lượng: có thể tăng gấp bội hoặc giảm gấp bội. Khí liên quan đến tự hóa, gồm tự hóa ly tâm, kích hoạt sao ở chính cung đó (bản cung), và tự hóa hướng tâm, kích hoạt sao ở cung đối diện. Khí là động lực thúc đẩy, làm cho mệnh bàn chuyển động và biểu hiện ra bên ngoài.

Số

Số dùng để xác định cát hung và phản ánh phạm vi không gian, thời gian. Số gắn với cung vị, Hà Đồ và Lạc Thư. Hà Đồ ứng với tiên thiên bát quái, dùng nhiều trong bản mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số để phân tích gốc rễ. Lạc Thư ứng với hậu thiên bát quái, thường dùng trong Tử Chiêm, một nhánh khác của Tử Vi, để phán đoán phương hướng, định vị, như tìm một món đồ.

  • Trời thuộc dương, số lẻ; đất thuộc âm, số chẵn.
  • Sao nam (nam tinh) là dương, sao nữ (nữ tinh) là âm.
  • Số 1 và 6 cùng nhóm ở phương Bắc, thuộc Thủy; số 2 và 7 thuộc Hỏa ở phương Nam.
  • Trung ương là trung tâm, là trục, gốc của lý số, nơi âm dương giao hội.

Về ứng dụng, bản mệnh bàn chú trọng tiên thiên bát quái (Hà Đồ), còn đại cục trọng hậu thiên bát quái cùng sự vận dụng của số.

Tượng

Tượng là biểu hiện của hiện tượng, là cách thành hình của sự vật. Bản thân tượng không mang tính cát hay hung; cát hung được xác định qua Tứ Hóa, tự hóa và sự kích hoạt của các sao. Tượng là kết quả cuối cùng mà mắt thấy tai nghe được từ mệnh bàn.

Mối quan hệ giữa bốn thứ: lý chủ tĩnh, là bản thể, cái bất biến, nền tảng lý luận; khí chủ động, là năng lượng vận hành, thúc đẩy biến đổi. Lý sinh khí, quy luật tạo ra năng lượng; khí sinh tượng, năng lượng tạo ra hiện tượng. Khi tượng mất đi trước thì khí cũng tan theo sau; còn lý thì vĩnh hằng, không bao giờ thay đổi. Lý là bản thể, cốt lõi bên trong; khí và tượng là ngoại dụng, biểu hiện bên ngoài. Khí được thể hiện qua tượng, và tượng được sinh ra từ sự kết hợp giữa số và khí.

Tám nguyên tắc cơ bản của phi cung

Đại vận có bảy lý lẽ, lưu niên có năm lý lẽ; những việc nhỏ như sinh con trai hay con gái có ba lý lẽ; tên họ kết hợp với bát quái; đồ hình Tử Vi có bốn lý lẽ. Riêng phi cung có tám nguyên tắc nền tảng.

1. Bốn cung vị quan trọng nhất

Lá số không thể rời khỏi Lai Nhân cung. Bốn cung quan trọng nhất trong toàn bộ tinh tượng là Lai Nhân cung, đối cung của Lai Nhân cung, và cặp Nhất Lục cộng tông của Lai Nhân cung và đối cung của nó.

2. Nhóm của Tứ Hóa

Hóa Lộc và hóa Kỵ để xem cát hung; hóa Quyền và hóa Khoa để xem sự phát triển và thay đổi của sự việc. Có sao mới có Tứ Hóa, Tứ Hóa là bản chất của sao đã thay đổi; đôi khi chỉ cần Tứ Hóa và cung vị cũng đoán được sự việc.

  • Quyền và Khoa một tổ, Lộc và Kỵ một tổ.
  • Khoa và Kỵ tiêu cực, bị động, trì trệ; Lộc và Quyền tích cực, chủ động.
  • Khoa trong công việc là có quý nhân, trong học tập là thông minh, trong tình cảm là phiền não.
  • Lộc nhiều duyên, Quyền biến hóa, Khoa bảo thủ, Kỵ lạnh nhạt.
  • Tứ Hóa năm sinh chất lượng như nhau, không phân cát hung; tự hóa mới sinh ra cát hung.
  • Quyền tìm Khoa, Kỵ tìm Lộc.

3. Hóa Kỵ ở từng cung

Trong lục nội, Kỵ ở Mệnh, Tài, Quan có lợi; Tài, Quan, Phúc, Tật, Điền cũng chủ có lợi. Cụ thể:

  • Kỵ ở Tài Bạch: chấp niệm với tiền tài, Kỵ thuộc kho tiền.
  • Kỵ ở Mệnh: tính tự chủ mạnh, không phụ thuộc người khác.
  • Kỵ ở Quan Lộc: chấp niệm với công việc, nghiện công việc.
  • Kỵ ở Phúc Đức: làm việc vất vả mới có được, chủ yếu là tiền tài.
  • Kỵ ở Tật Ách: Tật Ách là Điền Trạch của Quan Lộc, nên cũng chấp niệm công việc, nghiện công việc.
  • Kỵ ở Điền Trạch: keo kiệt, bủn xỉn.
  • Kỵ ở Huynh Đệ: trong lục ngoại chủ mất mát, mất mối quan hệ lục thân, vị trí kho tiền không tốt.
  • Kỵ ở Giao Hữu: mối quan hệ xã hội không tốt.
  • Kỵ ở Tử Nữ: nợ đào hoa, nợ con cái, không lợi cho hợp tác.
  • Kỵ ở Phu Thê: nợ tình cảm.
  • Kỵ ở Thiên Di: dễ gặp tai nạn giao thông, quan hệ bên ngoài không tốt.
  • Kỵ ở Phụ Mẫu: Phụ Mẫu là cung quang minh, cung trưởng bối; quan hệ với cha mẹ có vấn đề, nội tâm u ám.

Đại vận, bản mệnh, lưu niên đều có thể áp dụng cách này.

4. Tầm quan trọng của chuyển cung

Mười hai cung đều là điểm Thái Cực của Mệnh cung. Không nên coi Mệnh cung là trung tâm duy nhất, là Thái Cực duy nhất, cũng không nên luận mệnh chỉ dựa vào một cung hay một sao. Ví dụ hợp tác phải xem tuyến Huynh – Hữu và tuyến Tử – Điền; hôn nhân phải xem Tài Bạch; điều kiện gia đình của vợ hoặc chồng xem Phụ Mẫu. Đó là cách lập thái cực từ nhiều cung.

5. Tam tượng nhất vật

Khi xem lá số cần chú trọng cung vị, sao, Tứ Hóa. Xuyến liên, tĩnh tâm quyết, tứ tượng nhất nguyên là những ứng dụng quan trọng.

6. Nhất Lục cộng tông

Mệnh – Tật – Phúc không nên có Kỵ; nếu có sẽ vất vả, nhưng có thể đạt thành tựu lớn. Những người phát đạt đột ngột thường có Kỵ ở Mệnh – Tật – Phúc: thành công lớn nhưng cũng gặp biến cố lớn, không phải là không có thành tựu.

7. Tác hại của Hóa Kỵ

Kỵ nằm trong một cung chưa chắc hung; Kỵ xung vào cung nào thì cung đó càng hung; Kỵ xung vào cung Giao Hữu là hung nhất. Gặp tình huống này trong đại vận hoặc lưu niên sẽ gặp chuyện không thuận lợi. Về mức độ hung thì cung Sửu hơn cung Thân hơn cung Dần.

8. Lai Nhân cung và cung tuổi

Nếu Lai Nhân cung và cung tuổi trùng nhau hoặc đối cung của nhau, mà có Hóa Kỵ hoặc bị Hóa Kỵ xung, thì chắc chắn bất lợi, thể hiện ở lục thân, sự nghiệp, hôn nhân đều không thuận lợi.

Ba lá số minh họa các nguyên tắc

Cha mẹ bất hòa: nguyên tắc bốn cung Lai Nhân

Lá số thứ nhất dùng nguyên tắc đầu tiên: bốn cung Lai Nhân cùng các sao; tuyến Phụ – Tật đại diện cho cha mẹ, hai cung đều có Hóa Kỵ, pháp tượng đến Tật Ách.

  • Quan hệ cha mẹ không tốt, chủ yếu ứng vào mối quan hệ giữa cha và mẹ, có hao tổn, giữa cha mẹ có người thứ ba.
  • Kỵ năm sinh của Tham Lang ở cung Phụ, Kỵ can Quý hướng tâm cũng là Tham Lang Kỵ, lôi kéo phá hoại. Cung đồng tông là Tài Bạch, Kỵ hướng tâm đến Thiên Cơ, nên vấn đề lớn nhất xuất hiện ở người cha.
  • Người mẹ có Hóa Quyền của Cự Môn năm sinh. Cha có ba lần Kỵ, mẹ có Quyền; Quyền với Kỵ xung đột, thủy hỏa bất dung, hai người ở bên ngoài sẽ có người thứ ba xen vào.
  • Quyền tượng trưng cho sự đột ngột, Kỵ tượng trưng cho hủy diệt: hôn nhân của cha mẹ vội vàng, kết hôn mà không suy nghĩ kỹ. Nếu là Lộc với Kỵ thì hôn nhân sẽ sớm kết thúc, cưới vội ly hôn vội.
  • Sau này con cái có tính khí giống cha, ngoại hình giống mẹ; tính khí đặc biệt cố chấp là do Hóa Kỵ năm sinh ở Tật Ách.

Cung tuổi trùng đối cung với Lai Nhân

Lá số thứ hai dùng nguyên tắc thứ tám: cung tuổi (Nguyên Thần cung) và Lai Nhân cung trùng nhau, nếu bị Hóa Kỵ xung phá thì có thể kết luận trực tiếp là không thuận lợi. Ở lá số này, Nguyên Thần cung và Lai Nhân cung đối cung nhau, cũng như vậy. Lai Nhân Kỵ lại thêm tự hóa Kỵ, sự bất thuận biểu hiện như sau:

  • Trong giao tiếp, đột ngột nảy sinh mâu thuẫn nghiêm trọng với bạn bè.
  • Cung tuổi và Lai Nhân cung là các cung ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần; Vũ Khúc Kỵ lại tự hóa Kỵ cho thấy thường xuyên bị nữ giới làm tổn thương. Kỵ mang tính bám dính, nên mệnh chủ gắn liền với Vũ Khúc; Vũ Khúc đại diện nữ giới, bị kéo phá, do đó xảy ra tình trạng ấy.
  • Tuyến Huynh – Hữu đại diện cho thành tựu; Nguyên Thần cung và Lai Nhân cung bị kéo phá, chịu ảnh hưởng của Hóa Kỵ, nên mệnh chủ gặp trở ngại nhiều hơn người khác. Hóa Kỵ là sự dính mắc vào danh lợi: người này rất xem trọng thành công, đặc biệt khao khát thăng tiến, tâm lý danh lợi khá mạnh, nhưng không thể thuận buồm xuôi gió, thường xuyên thất vọng. Hóa Kỵ cũng có thể tạo ra thành tựu, không phải cứ gặp Hóa Kỵ là đáng sợ.
  • Cung Giao Hữu có Vũ Khúc Kỵ và tự hóa Kỵ cũng có thể cho thấy kế thừa từ mẹ nhiều hơn; ngoại hình không giống mẹ nhưng có thể di truyền về bệnh tật hoặc tính cách.

Di truyền từ mẹ và chuyện sinh đôi trong gia tộc

Lá số thứ ba dùng lại nguyên tắc bốn cung vị, khá phức tạp vì hình tượng của bốn cung khá nhiều; cần xem tác động của tuyến Huynh – Hữu, Tử – Điền và Phu – Quan.

  • Điền Trạch có Vũ Khúc tự hóa Khoa (các sao ở Phụ Mẫu hoặc Điền Trạch có thể đại diện người thân), Vũ Khúc năm sinh ảnh hưởng quá trình trưởng thành: mẹ đối xử với đương số không tệ (Khoa tạo duyên gắn kết) nhưng có sự kéo phá, dù tốt vẫn có mâu thuẫn.
  • Di truyền từ mẹ nhiều hơn cha, vì Điền Trạch có sao nữ; ngoại hình giống mẹ, có thêm những yếu tố di truyền khác từ mẹ. Cung Giao Hữu có Phá Quân hóa Quyền, Phá Quân là sao nữ, cũng chỉ di truyền từ mẹ nhiều. Lưu ý rằng chỉ ba cung Điền Trạch (nhà), Phụ Mẫu (cha mẹ ruột), Giao Hữu (di truyền) mới áp dụng quy tắc di truyền này.
  • Tình cảm không thuận: Quan Lộc có Hóa Kỵ năm sinh, liên kết với tuyến Huynh – Hữu, Tử – Điền và Phu – Quan (liên quan đào hoa, tình cảm), có cả Khoa lẫn Kỵ nên tình cảm sẽ kéo dài, trì trệ.
  • Gia tộc có yếu tố sinh đôi: Điền Trạch đại diện cho người trong nhà, mà có “M bình phương” nên Điền Trạch đại diện cho ông bà, thân thích trong gia tộc; bên nội hoặc bên ngoại dễ có song sinh. Nguyên nhân thứ nhất là Điền Trạch là Lai Nhân (nếu không phải Lai Nhân thì xác suất sinh đôi thấp); nguyên nhân thứ hai là Hóa Khoa mang yếu tố “bình phương”, dễ xuất hiện hai người, vì Khoa có giá trị là 2.

Nguồn: Đại Hoa, Giáo Trình Khâm Thiên Tứ Hóa.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa