Bài tổng quan
Hôn nhân nhìn từ cung đối đãi và Lộc Kỵ của Tử Tức
Muốn biết vợ đối xử với mình ra sao, người chồng không nhìn cung Phu Thê của chính mình mà phải tìm sang một cung khác. Người vợ muốn đọc lòng chồng cũng đi một đường vòng, và đường vòng ấy bắt đầu từ…
Hai nhóm cung: bên ta và bên người bạn đời
Muốn đọc hôn nhân bằng phi hóa, việc đầu tiên là chia mười hai cung thành hai phe. Phe thứ nhất gồm Mệnh, Thiên Di, Tử Tức và Điền Trạch, bốn cung đứng ở bốn vị chính, đại diện cho bản thân ta. Phe thứ hai gồm Phu Thê, Quan Lộc, Phụ Mẫu và Tật Ách, cũng bốn vị chính, đại diện cho người đầu gối tay ấp. Cung nào thuộc phe nào thì việc ấy liên quan tới ai, không được lẫn lộn.
Một ví dụ cho dễ thấy: nếu thiên can cung Mệnh phi Kỵ vào Tật Ách, thì chuyện đang nói là con cái của đôi vợ chồng, và đó là hệ thống liên quan đến người phối ngẫu chứ không phải hệ của ta.
Cung đối đãi: nhìn vợ chồng đối xử với nhau
Người chồng muốn biết vợ đối xử với mình tốt hay xấu thì không nhìn cung Phu Thê của chính mình, mà phải nhìn cung Tài Bạch. Lý do là Tài Bạch chính là cung Phu Thê của cung Phu Thê. Hai cung này hợp thành trục đối đãi giữa nam và nữ.
- Phu Thê phi Kỵ vào Tài Bạch: vợ chồng bất hòa, rắc rối nằm ở chuyện đối xử với nhau, trong đó người nữ gặp bất lợi nhiều hơn.
- Tài Bạch phi Kỵ vào Phu Thê: người nam chịu thiệt.
- Phu Thê phi Kỵ vào Mệnh: kết hôn muộn, nếu không muộn thì hôn nhân cũng khó trọn vẹn.
- Phu Thê phi Kỵ vào Tài Bạch cũng có thể mang nghĩa quản thúc, kèm vấn đề tình cảm sau khi lấy nhau.
Hóa Kỵ của năm sinh rơi vào cung lục thân thì mang nghĩa trân trọng, quyến luyến cung ấy. Hóa Kỵ phi từ can cung đến cung lục thân thì mang nghĩa kiểm soát, quản chặt. Chẳng hạn Kỵ năm sinh nằm ở Quan Lộc thì người ấy quý sự nghiệp, ngại đổi thay, thích sự ổn định. Kỵ năm sinh nằm ở Tài Bạch thì quý tiền, coi trọng chuyện tiêu xài hưởng thụ cho bản thân. Còn can cung phi Kỵ vào Tài Bạch thì tiền chảy đến rồi lại chảy đi, không giữ được.
Người vợ xem chồng đối xử với mình
Phụ nữ tìm cung chồng ở một chỗ khác: cung Phúc Đức, vốn là Phu Thê của Quan Lộc. Lẽ ấy nằm ở chỗ người con gái lấy chồng là để dựa vào một người quý hiển, nên phải xem cung Phu Thê của Quan Lộc mới ra.
- Quan Lộc tự hóa Kỵ và xung vào Phu Thê: có thể gặp cảnh sinh ly tử biệt.
- Phúc Đức phi Kỵ vào Thiên Di, xung Mệnh: chồng đối xử với ta không tốt. Đại hạn cũng đọc như vậy.
- Phúc Đức phi Kỵ vào Tài Bạch, xung Phúc Đức: chồng kiếm không ra nhiều tiền để ta dùng.
- Phúc Đức phi Kỵ vào Quan Lộc, xung Phu Thê: hai người không đỡ đần nhau, mỗi người lo thân mình.
- Phúc Đức phi Kỵ vào Phu Thê, xung Quan Lộc: chồng ích kỷ, tự kiếm tự tiêu.
Với nam mệnh, hai thế đáng lưu tâm là Tài Bạch phi Kỵ vào Quan Lộc xung Phu Thê, báo hiệu chính người chồng gặp hung, và Phu Thê phi Kỵ vào Phúc Đức xung Tài Bạch, báo hiệu người vợ gặp hung.
Cung Tử Tức: nơi đọc đào hoa và hôn nhân
Chuyện tình cảm của một người không chỉ nằm ở Phu Thê, mà còn nằm ở nơi chứa chuyện chăn gối và dục vọng. Từ cung ấy, hai vệt Lộc và Kỵ rơi vào đâu sẽ vẽ ra cả một kiểu hôn nhân.
Lấy thiên can cung Tử Tức làm điểm xuất phát, xem Hóa Lộc nhập cung nào và Hóa Kỵ nhập cung nào. Cách đọc ấy dùng được cho bản mệnh, cho đại hạn và cho lưu niên: chỉ cần thay cung gốc bằng Tử Tức của đại hạn hay lưu niên là được. Mười chín thế sau đây xếp theo ba hướng.
Muộn hôn, sống chung, chưa cưới đã ở với người khác
- Tử Tức phi Lộc vào Phu Thê, phi Kỵ vào Mệnh: khó kết hôn, hoặc kết hôn muộn, và trước đó đã có người sống chung.
- Phi Lộc vào Mệnh, phi Kỵ vào Điền Trạch xung Tử Tức: thiên về sống chung, thường không muốn có con.
- Phi Lộc vào Phu Thê, phi Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu: không nên đăng ký kết hôn, sống chung với nhau lại êm hơn. Cùng thế này còn có cách đọc khác: người nữ sống đời phong trần hoặc làm thiếp, người nam phóng túng, chuyện phong hoa tuyết nguyệt lăng nhăng.
- Phi Lộc vào Điền Trạch, phi Kỵ vào Phu Thê: sống chung với người đã có gia đình.
- Phi Lộc vào Phụ Mẫu, phi Kỵ vào Điền Trạch: thân phận người thứ ba, làm thiếp.
- Tử Tức phi Lộc vào Tật Ách xung Phụ Mẫu, phi Kỵ vào Mệnh: người nam hai đời vợ, người nữ tái hôn.
- Phi Lộc vào Huynh Đệ, phi Kỵ vào Quan Lộc xung Phu Thê: nam lấy người từng ly dị, nữ làm vợ lẽ.
Cãi vã, oán trách, ly hôn
- Tử Tức tự hóa Lộc, phi Kỵ vào Phúc Đức xung Tài Bạch: to tiếng với nhau nhiều.
- Tử Tức tự hóa Lộc, phi Kỵ vào Phu Thê: ly hôn.
- Phi Lộc vào Tài Bạch, phi Kỵ vào Huynh Đệ: hai người hay oán trách nhau.
- Tử Tức tự hóa Kỵ, phi Lộc vào Quan Lộc xung Phu Thê: cãi nhau liên miên nhưng không đến mức chia tay.
- Phi Lộc vào Phu Thê, phi Kỵ vào Nô Bộc: vợ chồng cãi vã.
- Phi Lộc vào Quan Lộc xung Phu Thê, phi Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh: hai người không hợp.
Đào hoa bên ngoài làm tan vỡ
- Phi Lộc vào Thiên Di xung Mệnh, phi Kỵ vào Quan Lộc xung Phu Thê: có đào hoa bên ngoài nên ly hôn.
- Tử Tức tự hóa Lộc, phi Kỵ vào Huynh Đệ xung Nô Bộc: cãi vã vì chuyện đào hoa.
- Phi Lộc vào Nô Bộc, phi Kỵ vào Điền Trạch: cũng là cãi vã vì đào hoa.
- Tử Tức tự hóa Lộc: dục vọng mạnh, ham chuyện gối chăn.
- Tử Tức phi Kỵ vào Mệnh: kiếp số, nếu cuộc đời không có biến cố bất thường thì chắc chắn rơi vào cảnh tái hôn hoặc đi ở rể.
Cung Phu Thê tự nói về mình
Kỵ nhập Mệnh hay nhập Điền Trạch mang nghĩa khác hẳn Kỵ nhập các cung còn lại, bởi đó là hai chỗ quyết định đôi vợ chồng có đi được tới già hay không.
Muộn hôn thì bền, sớm hôn thì dễ vỡ
- Phu Thê phi Kỵ vào Điền Trạch hoặc Mệnh: muộn hôn nhưng có thể sống tới già bên nhau. Lấy sớm thì dễ chia tay.
- Hai người bạc đầu được hay không, trọng tâm là Hóa Kỵ của Phu Thê có nhập Mệnh hay không.
- Phu Thê phi Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh: khó thành hôn nhân dù có nhiều đào hoa; trước hôn nhân có chuyện ngoại tình hoặc làm thiếp của người khác.
- Phu Thê phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh: lấy chồng, lấy vợ sớm.
- Phu Thê phi Kỵ vào Quan Lộc xung Phu Thê: số mệnh của người bạn đời không tốt.
- Phu Thê phi Kỵ vào Mệnh, đồng thời phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh: sau hôn nhân, vận của người bạn đời đi xuống.
Lộc Kỵ cùng đổ vào một cung
- Phu Thê phi Lộc vào Điền Trạch hoặc Mệnh, phi Kỵ vào Phụ Mẫu (là Phu Thê của Điền Trạch): không ly hôn, song người nữ ngoại tình, người nam có kẻ mai mối.
- Phu Thê phi Lộc vào Mệnh, phi Kỵ vào Điền Trạch: hai người không hòa, hay cãi.
- Phu Thê phi Kỵ vào Phúc Đức xung Tài Bạch kèm Hóa Lộc vào Tài Bạch hướng về Phúc Đức, hoặc Lộc Kỵ cùng vào Phúc Đức, hoặc cùng vào Tài Bạch xung Phúc Đức: Lộc Kỵ giao tranh, tính khắc nặng, người nữ cứng cỏi, làm hao phúc của ta.
- Phu Thê phi Kỵ vào Tài Bạch mà Tài Bạch lại tự hóa Kỵ: hai bên gần như không có quan hệ gì với nhau.
Cách chọn cung để đọc cũng có thứ bậc. Lộc Kỵ nhập Mệnh thì xem chuyện sớm muộn của hôn nhân. Lộc Kỵ nhập Tài Bạch thì xem cách hai người đối xử với nhau. Lộc Kỵ nhập các cung còn lại cũng chỉ chuyện đối xử, nhưng nhẹ hơn.
Cùng loại thì không được xung nhau
Có một nguyên tắc đi cùng quy trình đọc này: cung cùng loại giữa các tầng vận không được dùng Hóa Kỵ xung nhau. Cung Mệnh của đại hạn không được phi Kỵ xung cung Mệnh tiên thiên. Cung Điền Trạch của đại hạn không được phi Kỵ xung Điền Trạch tiên thiên. Quan Lộc đại hạn không được xung Quan Lộc tiên thiên, các cung khác tính tương tự. Xuống một tầng nữa, Mệnh lưu niên không được xung Mệnh đại hạn, Điền Trạch lưu niên không được xung Điền Trạch đại hạn, và cứ thế.
Điền Trạch là nơi cho thấy rõ nhất. Giả sử Mệnh đại hạn phi Lộc vào Tài Bạch thì kiếm ra tiền, nhưng nếu Điền Trạch đại hạn phi Kỵ vào Tử Tức xung Điền Trạch tiên thiên thì kiếm được mà không có kho chứa, tiền không giữ lại. Điền Trạch tiên thiên phi Kỵ xung Điền Trạch đại hạn thì năm bị xung ấy xấu. Điền Trạch đại hạn phi Kỵ xung Điền Trạch tiên thiên thì mười năm không có kho, cho đến năm cung bị xung. Điền Trạch lưu niên phi Kỵ xung Điền Trạch đại hạn thì một năm không có kho, cho đến tháng cung bị xung.
Nhà cửa, tổ nghiệp và nghề của người bạn đời
Điền Trạch là cung nhà cửa, nên mỗi sao ngồi ở đây gợi ra một hình ảnh quanh ngôi nhà, và vài dấu hiệu tai nạn xe cộ cũng thường kéo theo cung này.
Sao nào gợi ra cảnh quanh nhà
- Thiên Diêu vào Điền Trạch: nhà nuôi chim.
- Cự Môn ở Điền Trạch: sống gần mương lớn hoặc đường ray xe lửa.
- Thái Âm: mương rãnh, ao hồ.
- Thiên Lương ở Điền Trạch: gần nhà có chùa.
- Liêm Trinh: đồ điện.
- Phá Quân: chợ rau.
- Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt: trường học.
- Tử Vi, Thiên Phủ: cơ quan, tổ chức tài chính.
Dấu hiệu xe cộ
Điền Trạch phi Kỵ vào Tử Tức rồi xung ngược về Điền Trạch có liên quan tới tai nạn xe cộ. Lưu niên hoặc đẩu quân mà Văn Xương hóa Kỵ cũng báo điều tương tự. Cự Môn hóa Kỵ thường ứng với xe tải, còn Văn Xương, Văn Khúc hóa Kỵ ứng với xe hơi.
Tổ nghiệp, nghề nhà nước và người phối ngẫu
Điền Trạch trông coi việc nhà cửa và công chuyện gia đình. Điền Trạch tiên thiên phi Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh thì không có của tổ nghiệp. Nếu phi Kỵ vào Mệnh thì phải xét thêm Hóa Lộc của Điền Trạch rơi vào cung nào mới kết luận được có tổ sản hay không.
Phụ Mẫu và Huynh Đệ là hai cung văn thư, ứng với thời kỳ học hành. Khi can năm sinh phi Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu, người ấy làm việc trong cơ quan nhà nước. Nếu Phụ Mẫu lại phi Kỵ vào Tài Bạch thì kiếm không nhiều. Nếu Phụ Mẫu phi Lộc vào Huynh Đệ thì vì lương công chức thấp nên sau này rẽ sang làm cho tư nhân.
Một điều cần nhớ khi đọc việc hai vợ chồng: Phu Thê của bốn cung chính Phụ Mẫu, Tật Ách, Phu Thê, Quan Lộc là nơi nói về người phối ngẫu. Góc nhìn phải rõ ràng, không được lẫn lộn việc của ta với việc của người ấy.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
