Bài tổng quan
Con số ẩn trong sao và cung, đoán số con cái
Cung Tử Tức tọa Thái Dương và Cự Môn thì dù Tứ Hóa bay thế nào, bản mệnh vẫn đếm ra hai người con trai. Sao Tử Vi mang số sáu, Thiên Cơ mang số hai, và hai cung đối nhau bao giờ cũng cộng thành mười. Vậy đem những con số ấy ra đếm con cái cho khỏi lệch…
Mỗi ngôi sao mang sẵn một con số
Trước cả khi Tứ Hóa bay đi đâu, mỗi ngôi sao trên lá số đã mang theo một con số riêng, gọi là độ số của sao. Sao không thể thoát khỏi con số ấy, và khi một cung có sao tọa thủ thì con số ẩn trong cung đã được định sẵn. Biết đọc những con số này, người xem lá số có thêm một cách đếm: đếm anh em, đếm con cái, đếm cả mức tiền bạc.
Số của đơn tinh
- Tử Vi mang số 6, Thiên Phủ mang số 5, Lộc Tồn mang số 2.
- Thiên Cơ mang số 2, Thái Âm mang số 2, Tả Phù mang số 1.
- Thái Dương mang số 2, Tham Lang mang số 3, Hữu Bật mang số 1.
- Vũ Khúc mang số 6 hoặc 3, Cự Môn mang số 2, Văn Khúc mang số 2.
- Thiên Đồng mang số 5 hoặc 3, Thiên Tướng mang số 2, Văn Xương mang số 2.
- Liêm Trinh mang số 5, Thiên Lương mang số 5 hoặc 2.
- Thất Sát mang số 3, Phá Quân mang số 6 hoặc 3.
Có hai quy luật dễ nhớ. Sao nào mở đầu bằng chữ "Thiên" thì phần lớn mang số 2. Ba sao Sát, Phá, Lang thì phần lớn mang số 3.
Số của song tinh
Khi hai sao đồng cung, con số thay đổi theo từng cặp:
- Tử Vi – Thiên Phủ nằm trong khoảng từ 1 đến 6; Tử Vi – Tham Lang từ 3 đến 6; Tử Vi – Thất Sát là 3.
- Thiên Cơ – Thái Âm là 3; Thiên Cơ – Cự Môn là 2; Thiên Cơ – Thiên Lương là 3.
- Thái Dương – Thiên Lương là 2; Thái Dương – Thái Âm là 4; Thái Dương – Cự Môn là 2.
- Vũ Khúc – Phá Quân là 3; Vũ Khúc – Thiên Phủ là 5; Vũ Khúc – Tham Lang từ 4 đến 7; Vũ Khúc – Thất Sát là 3.
- Thái Âm – Thiên Đồng là 3.
- Liêm Trinh – Thiên Phủ là 5; Liêm Trinh – Tham Lang là 6; Liêm Trinh – Thất Sát là 3; Liêm Trinh – Phá Quân là 3.
Số của bốn hóa tinh
Theo bảng đầu tiên, Hóa Lộc là 4, Hóa Quyền là 2, Hóa Khoa là 3 và Hóa Kỵ là 1. Về sau lại có một cách nhớ khác: Lộc 3, Quyền 2, Khoa 1, còn Kỵ vốn 4 nhưng giảm một nửa thành 2, ngang với Quyền. Cách cộng trừ này không dùng để đếm người, mà dùng để đếm tiền tài, vì số người có định số riêng.
Số của cung vị và lẽ đối cung cộng thành mười
Sao đã có con số, cung cũng có con số, và hai con số ấy gặp nhau mới cho ra đáp án.
Mười hai cung được đánh số như sau: Tý là 1, Sửu là 2, Dần là 3, Mão là 4, Thìn là 5, Tỵ là 6; ở nửa bên kia, Hợi là 4, Tuất là 5, Dậu là 6, Thân là 7, Mùi là 8, Ngọ là 9. Có người lại bắt đầu đếm ngược từ Tỵ làm 4, Thìn 5, Mão 6, Dần 7, Sửu 8, Tý 9, nhưng cách xếp đó sai. Cách đúng là định số tiên thiên: bắt đầu từ Tý là 1 và đếm thuận.
Điều kiện để một cách xếp là đúng rất rõ ràng: tổng số của hai cung đối diện luôn phải bằng 10. Hợi 4 đối Tỵ 6, Dậu 6 đối Mão 4, và cứ thế. Vị trí của mỗi cung rơi vào đâu thì con số đã ẩn sẵn trong đó. Với thiên can cũng vậy, hai bên cộng lại thành mười: Giáp 1 với Canh 9, Ất 2 với Tân 8, Bính 3 với Nhâm 7, Đinh 4 với Quý 6, Mậu 5 với Mậu 5. Thiên can luận hợp, địa chi luận xung, đó là lẽ của Tử Bình.
Thiên can luận hợp, địa chi luận xung.
Theo phương Đông, 3 và 8 thuộc Mộc. Số 3 nằm ở Dần, và con người bắt đầu từ Dần, nên mọi việc khởi từ số 3, tức là Thiên, Địa, Nhân hòa hợp.
Thiên, Địa, Nhân và phép Tam Tam Quy Nhất
Mười can chia làm ba nhóm. Giáp, Ất, Bính thuộc Thiên, ứng với Cấn, và Thiên bắt đầu từ Giáp Liêm Trinh hóa Lộc. Đinh, Mậu, Kỷ thuộc Địa, ứng với Khôn, và Địa bắt đầu từ Đinh Thái Âm hóa Lộc. Canh, Tân, Nhâm thuộc Nhân, ứng với Càn, và Nhân bắt đầu từ Canh Thái Dương hóa Lộc.
Ba nhóm ấy mang ba con số: Thiên là 1, Địa là 3, Nhân là 5. Trong ba con số, số 3 là trụ cột của vạn vật và nó dụng ở 9. Vì vậy chiêu đầu tiên của Quy Tàng Dịch gọi là Tam Tam Quy Nhất.
Quy về một bằng cách nào? Hai số 3 cộng lại được 6, trừ đi 5 còn 1, tức quay về Thiên, còn số 5 chính là Nhân. Lại có phép khác: 1 cộng 3 được 4, là điểm khởi của Tứ Tượng, nhưng số 1 không dùng được trực tiếp. Muốn có 4 thì phải đi bằng 2 cộng 2. Số 2 chính là cung Huynh Đệ, cho nên khi đoán mệnh, cung Huynh Đệ cực kỳ quan trọng. Huynh Đệ tốt xấu ra sao sẽ kéo theo thay đổi của tài vận, nên nó là then chốt của Đẩu Số.
Điều thú vị là số 2 lại là không vong. Vì vậy khi tài vận không thuận, người ta có thể mượn vị trí số 2 để tránh hung hóa cát. Số của vạn vật còn luận theo bội số: 10 là bội của 5, 1 cộng 1 là Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi cộng lại thành 4, nên mọi việc đều liên quan đến 4, và 2 là then chốt.
Từ số cung đến số người: cách đếm con cái
Lấy một ví dụ. Cung Tử Tức tọa ở Thân, mà Thân là số 7. Muốn biết còn thiếu bao nhiêu thì làm phép tính 7 cộng □ bằng 10, vậy □ là 3. Cung vị cho thấy vấn đề nằm giữa 3 và 7, không phải 7 thì là 3. Giờ xét sao tọa thủ: Thái Dương và Cự Môn đồng cung mang số 2, nghĩa là có hai con trai. Số thu được vì thế chỉ là 2 đến 3.
Quy tắc rút gọn của phép này là: số cung nhỏ hơn 5 thì lấy 5 trừ đi, số cung lớn hơn 5 thì lấy 10 trừ đi. Nếu số cung đúng bằng 5, thì lấy bội số 10 trừ đi rồi lấy trong số 5. Cung Mão và cung Hợi cùng mang số 4, nên 5 trừ 1 ra 4, tức số chưa đến 5 thì lấy 5 trừ đi, rồi nhân lên thành số.
Con trai và con gái nằm ở đâu
Có người hỏi: cung Tử Tức ở Thân là 7, đã biết số con là 3, sao tọa là Thái Dương và Cự Môn mang số 2 chủ con trai, vậy có thể đoán hai trai một gái không? Câu trả lời là gần đúng thì cứ tính như vậy: trước hết xem số cung vị để biết tổng số người, sau đó xem số của sao để biết số con trai. Vị trí của con trai nằm ở cung Tử Tức, vị trí của con gái nằm ở cung Phu Thê. Nếu cung Tử Tức hóa Lộc bay vào cung Phu Thê thì con sinh ra phần lớn là con gái.
Tự hóa và Tứ Hóa làm số thay đổi
Khi Thái Dương và Cự Môn song tinh tọa ở cung Tử Tức, bản mệnh có hai con trai, bất kể Tứ Hóa thế nào cũng chủ hai người. Nhưng nếu cung này tự hóa thì phải trừ một. Tử Tức có tự hóa thì chắc chắn mất một người; trong số học chủ hai, nếu thực tế sinh ba thì cũng mất một, và ở đây chỉ nói con trai nên là hai con trai. Cung Tử Tức can Giáp mà Thái Dương tự hóa Kỵ thì mất một con, tự hóa Lộc hay tự hóa Quyền cũng đều chủ mất một. Nếu sao ở cung là Thiên Đồng thì chủ hai con trai, vì sao mang chữ "Thiên" đứng đầu thường là 2.
Trường hợp Thái Dương ở Tỵ hoặc Hợi, đối cung với Cự Môn, cung Tử Tức can Canh, Thái Dương hóa Lộc bay vào cung Mệnh mà Mệnh tọa ở Tỵ hoặc Hợi, thì chủ một con trai, vì Thái Dương tọa Tỵ hoặc Hợi chủ 1.
Còn khi Hóa Lộc của năm sinh bay vào Tử Tức thì sao? Giả sử cung Tử Tức ở vị trí số 5, thêm Hóa Lộc cũng không quá bảy người. Cách cộng Lộc thêm 3 hay Quyền thêm 2 như đã nhắc không còn dùng cho số người nữa, chỉ dùng cho số tiền.
Cũng cần biết rằng số không phải lúc nào cũng chính xác tuyệt đối. Có lúc Hóa Lộc bay vào một cung mà Hóa Kỵ cũng bay vào một cung khác, và phép bay sao Lộc – Kỵ như vậy được gọi là "Hi Di số". Đây là cách kết hợp độ số của sao với Tứ Hóa mà ra, khó học hơn hẳn. Muốn quen tay thì cần kiểm chứng trên nhiều lá số thật.
Thử trên một lá số nữ cục Kim Tứ
Con số chỉ thật sự có nghĩa khi được đặt cạnh một đời người cụ thể.
Một người nữ, cục Kim Tứ, 38 tuổi, dương nữ. Cung Tử Tức tọa Thiên Đồng, theo lý là 2 người. Cung Tử Tức can Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc bay vào cung Tý. Tý mang số 1, lấy 5 trừ 1 được 4, vậy số con không quá 4, trong đó con trai là 2 do số Thiên Đồng là 2. Theo lời một học viên: nguyên có 4 con, 2 trai 2 gái, khớp với phép tính, nhưng đã mất một con trai, nay còn 1 trai 2 gái.
Vì sao mất một trai? Sao Kỵ bay vào cung Tỵ, số 6. Số 5 và số 6 quy về giữa, 6 trừ 5 còn 1, nhập Thổ. Cũng nhìn sang cung Huynh Đệ: can Giáp, Liêm Trinh hóa Lộc chiếu cung Mệnh, còn Thái Dương tự hóa Kỵ. Số Thái Dương là 2, cung vị ở Ngọ mang số 9, 10 trừ 9 còn 1, mà Thái Dương số 2 lại tự hóa Kỵ nên mất một.
Vì sao phải xem Tứ Hóa chứ không chỉ xem sao
Trong cung có thể có hai sao nên chắc chắn có số, nhưng thực tế người ta chưa chắc có con. Chính vì thế phải tham khảo thêm Tứ Hóa. Cách dùng gói gọn trong ba bước: trước tiên xem độ số của sao; rồi xem Hóa Lộc bay vào cung nào và lấy số cung đó cộng trừ với 5; cuối cùng định số sẽ không lệch xa độ số của sao bao nhiêu. Khi cung đã có sao chính thì không cần xem sao nhỏ như Văn Xương; chỉ khi không có sao chính mới tham khảo sao nhỏ.
Những trường hợp con cái đông đúc
Theo cách nhìn này, hiếm khi ra số con quá nhiều. Nhưng nếu thực tế đã sinh bảy tám con thì đoán sao? Dùng 5 hoặc 10 trừ số cung, nếu ra 2 người mà thực tế không phải 2 thì là 7, vì 2 cộng 5 bằng 7. Độ số của sao trên lá số cũng có thể là từ 2 đến 5, từ 3 đến 6, từ 4 đến 7, những khoảng ấy có thể tham khảo.
Một ví dụ khác: cung Tử Tức can Canh, Thái Dương tự hóa Lộc, 5 trừ 1 còn 4 nên số con không quá 4; Thái Dương mang 2 người nhưng tự hóa Kỵ thì sảy một thai. Có người đáp rằng cung Tử Tức ở Dậu là số 6, 10 trừ 6 còn 4, Thiên Đồng số 2 nên con trai hai người. Người hỏi xác nhận: đúng, hai trai hai gái. Người khác lại nói cũng đúng, hai trai một gái. Nghĩa là tổng số tối đa là 4, và trong đó có hai con trai.
Những con số lệ thuộc vị trí
Lộc Tồn mang số 3 khi dùng cho cung Tài và Quan. Dùng cho cung lục thân thì Lộc Tồn là khắc tinh của nhân sự nên phải trừ 1, còn 2. Vũ Khúc rơi vào Điền Trạch mang số 6; rơi vào Mệnh, Tài, Quan thì mang số 3 cùng với Sát, Phá, Lang. Thiên Đồng ở Điền Trạch là 5. Có ý kiến khác cho rằng Thiên Đồng là phúc tinh nên phải vào cung Phúc Đức thì số mới là 5, nhưng điều này còn cần kiểm chứng, hiện chưa xác định.
Với những số lớn hơn như nghìn, vạn, chục vạn, triệu, tức số 0 đứng sau, người ta lấy số cung cộng số sao để ra số 0 phía sau, còn con số đứng trước các số 0 là tổng của Lộc và Quyền cộng lại. Cách này đại khái là vậy nhưng chưa kiểm chứng kỹ.
Cuối cùng, mọi phép tính đều quy về một nguyên tắc: tổng số phải gặp 10, và tam hợp mới là vị trí cùng số. Số quan trọng như thế, nhưng chỉ khi đặt cạnh Tứ Hóa và dùng lá số thật để kiểm chứng thì người học mới thấy nó sống động.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
