Bài tổng quan
Lộc Kỵ nhập bản cung hay tha cung: ai hưởng, ai chịu
Lộc đến nhà mình, Kỵ đến nhà người, hay ngược lại, hai chuyện ấy đổi hẳn số phận một đồng tiền. Một bên là việc của riêng mình, bên kia phải qua tay người khác mới thành. Chỉ cần biết cung nào là của mình và cung nào là của người…
Sáu cung của ta và sáu cung của người
Muốn biết một sao Lộc hay sao Kỵ đi vào là "nhập" hay đi ra là "xuất", điều đầu tiên là phân hai nhóm cung. Khi dùng vào đại hạn, lấy đại hạn làm gốc thì đoán được lưu niên, nên trước hết nghĩ đến Mệnh, Tài, Quan, Điền, bốn cung ta trực tiếp dùng. Hợp thêm Phúc Đức và Tật Ách thành sáu cung gọi là bản cung. Còn lại là Nô Bộc, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Phụ Mẫu và Thiên Di, gọi là tha cung, trong đó Thiên Di là một thể hai mặt. Bản cung là tất cả những gì liên quan trực tiếp đến ta.
Khi Lộc Kỵ phát ra từ bản cung
Tiền kiếm ở cung của mình thì mừng chưa chắc trọn, mà mất ở cung của người thì khổ rất chắc.
- Lộc nhập bản cung, Kỵ nhập bản cung. Mọi việc đều là việc của chính mình, không qua trung gian là ai khác. Tài Bạch hóa Lộc nhập Mệnh, hóa Kỵ nhập Quan Lộc thì cát hung của tài cũng là tốt xấu của bản thân, không liên quan người khác. Thế này không nhất định cát, mà chỉ nói rằng mọi tượng loại này đều là vấn đề cá nhân.
- Lộc nhập tha cung, Kỵ nhập bản cung. Tài Bạch hóa Lộc nhập tha cung gọi là Lộc xuất, nghĩa là đem Lộc cho người khác, là tổn thất của mình, thuộc tượng Lộc theo Kỵ mà đi. Lộc nhập Nô Bộc, Kỵ nhập Tài Bạch tức đem cái tốt cho người, giữ cái xấu về mình.
- Kỵ nhập tha cung, Lộc nhập bản cung. Kỵ nhập tha cung thì không được vay mượn, nếu vay mượn sẽ tổn thất; không được qua lại tiền bạc, nếu không chắc chắn tổn. Đây cũng là Lộc theo Kỵ mà đi.
- Lộc Kỵ cùng một cung hóa ra, cùng nhập bản cung. Tuy không hung nhưng cũng không cát, là không tốt lắm. Nếu xung bản cung thì hung. Nếu nhập tha cung thì càng hung, vì không chỉ là chuyện vay mượn mà là đem hết ra ngoài cho người khác.
Cùng là hao nhưng hao ở đâu thì khác
Lộc nhập Huynh Đệ, Kỵ nhập Tật Ách cũng là tổn thất của mình, theo nguyên tắc thứ hai, Lộc xuất. Nhưng cái hao có giới hạn riêng. Nhập Điền Trạch là tượng phá tài. Nhập Tật Ách là lao tâm khổ tứ mà không được gì. Nhập Phúc Đức là hưởng thụ, ăn uống chơi bời tiêu hết. Tài Bạch hóa Lộc nhập Nô Bộc, hóa Kỵ nhập Tật Ách thì ta dùng sức khỏe để đổi tiền, rồi lợi ích bị bạn bè lấy mất, chẳng hưởng được gì. Đó là tổn thất về sức khỏe, kiếm tiền mà không hưởng được.
Những điều này là tượng của cách cục đại hạn. Chẳng hạn Tài Bạch đại hạn hóa Lộc nhập bản cung, hóa Kỵ cũng nhập bản cung, đó là thế tốt. Dùng đại hạn để phân cát hung thì biết được cát hung của lưu niên: đại hạn cát mà lưu niên hung thì cũng chỉ bất lợi trong một năm; đại hạn hung mà lưu niên cát thì chẳng có tác dụng hay giúp ích gì. Đó là sự khác biệt giữa vận tốt xấu và cát hung lưu niên, nguyên lý cơ bản của Đẩu Số.
Khi Lộc Kỵ từ cung của người bay đến
Bạn bè, người làm, người thân đưa Lộc đến cho ta, nhưng Kỵ của họ rơi ở đâu mới quyết định ta được hay mất.
- Lộc nhập bản cung, Kỵ nhập bản cung: cát. Nô Bộc hóa Kỵ nhập Quan Lộc, hóa Lộc nhập Tài Bạch là cát, vì tài không trôi ra ngoài, không bị bạn bè lấy, mà là bạn bè đem lợi ích cho ta.
- Lộc nhập bản cung, Kỵ xung bản cung: hung. Đây là kiểu Lộc theo Kỵ mà đi, thành tổn thất. Nô Bộc hóa Lộc nhập Tài Bạch, hóa Kỵ xung Điền Trạch là tổn thất; Lộc ấy là hư Lộc.
- Lộc chiếu bản cung, Kỵ nhập bản cung: cát. Nô Bộc hóa Lộc chiếu Mệnh, hóa Kỵ nhập Tài Bạch. Muốn biết cát này dùng ở đâu thì phải xem sao Kỵ như tượng của Lộc: bạn bè hóa Kỵ nhập Tài Bạch của ta, tức họ thiếu nợ ta, sẽ dùng tài lực giúp ta. Nhưng nếu họ đã thiếu nợ mà ta lại đưa tiền cho họ thì Lộc chiếu Mệnh mất hiệu quả cát lợi. Bạn bè hóa Kỵ đến đã là tượng thiếu nợ ta, ta cần gì phải giúp họ; họ giàu hơn ta nên đương nhiên sẽ giúp ta. Dạng này phải biết ứng dụng sao Kỵ, không được để Kỵ xuất thêm, mà phải thu Lộc về mới thành tượng cát.
- Lộc Kỵ cùng nhập bản cung: hung, có tổn thất. Lộc Kỵ cùng cung xung chiếu bản cung: càng hung, tổn thất lớn.
- Lộc nhập tha cung, Kỵ nhập bản cung. Nô Bộc hóa Lộc nhập Tử Tức chiếu Điền Trạch, hóa Kỵ nhập Mệnh, gọi là Lộc xuất. Nhìn có vẻ cát, nhưng Kỵ nhập Mệnh nên sao Lộc này sẽ để lộ ra. Lộc xuất ở đây là của ta, vì Kỵ của Nô Bộc nhập Mệnh ta mà Lộc chiếu kho tài của ta, tức bạn bè bám lấy ta với mục đích muốn tiền của ta. Họ đặc biệt tốt với ta là có mục đích, ta phải trả giá và thù lao.
- Lộc nhập tha cung, Kỵ xung bản cung: càng hung. Từ tha cung hóa Lộc nhập tha cung đã tạo điều kiện bất lợi cho ta, mà Kỵ lại xung bản cung của ta. Kỵ nhập bản cung thì tổn thất nhẹ, xung bản cung thì tổn thất chắc chắn lớn. Đừng nghĩ Nô Bộc hóa Lộc chiếu Điền Trạch là lợi cho ta, vì Kỵ xung Mệnh sẽ đào ta một mẻ lớn: Lộc đã trao cho người khác, ta chỉ bỏ ra mà không thu vào. Cách này dùng được cả cho đại hạn.
Có người hỏi: xung bản cung có vấn đề, vậy tuyến Phúc Đức – Tài Bạch cả hai đều là bản cung thì sao? Đúng là cả hai đều là bản cung, nhưng tuyến này không hợp tượng ấy lắm. Còn Phu Thê xung Quan Lộc, Thiên Di xung Mệnh, Tử Tức xung Điền Trạch, Phụ Mẫu xung Tật Ách thì đều đúng như vậy. Kỵ nhập Phúc Đức xung Tài Bạch hay Kỵ nhập Tài Bạch xung Phúc Đức đều là Kỵ nhập, ý là mời nhau qua lại, nhưng nhập Tài Bạch tốt hơn nhập Phúc Đức, còn nhập Phúc Đức xung Tài Bạch thì bất lợi hơn.
Đoán đại hạn như đoán bản mệnh, đoán Phu Thê như đoán Mệnh
Đại hạn lấy bản mệnh làm thể. Vì đại hạn mang theo cung vị của bản mệnh để dùng, nên cách đoán đại hạn giống hệt cách đoán bản mệnh. Muốn đoán Phu Thê của bản mệnh thì dùng cách đoán Phu Thê đại hạn. Khi Mệnh đại hạn đi vào Phu Thê bản mệnh, đại hạn quy về bản mệnh, lấy bản mệnh làm tông, nên cát hung của đại hạn cũng là cát hung của Phu Thê. Quy vào tam hợp của ta, có quy thì có đối đãi, và biết được tốt xấu của sự đối đãi với vợ chồng.
Nếu chưa kết hôn mà muốn xem Phu Thê ra sao, thì lấy Phu Thê làm Mệnh, tức số 1, rồi dùng tam hợp của nó là Thiên Di và Phúc Đức để đoán thì biết cách cục. Cách cục Mệnh đoán thế nào, cách cục Phu Thê cũng đoán thế ấy; đây là pháp chết để định cách cục. Còn lấy Tứ Hóa của Phu Thê áp vào tam hợp của lá số ta thì diễn thành sự đối đãi giữa vợ chồng và ta; đó là pháp sống. Pháp chết đoán cách cục, pháp sống đoán đối đãi, đạo lý đều giống nhau. Dù lấy cung nào làm chủ, 1, 5, 9 là luận Hà Đồ, còn Lạc Thư dụng là dựa vào thể để dụng, tức dụng đại hạn. Đại hạn đi Tử Tức hay đi Tài Bạch cũng vậy: dùng Lạc Thư quy vào thể Hà Đồ để luận vận hành và đối đãi.
Với Tử Tức cũng tương tự. Lấy Tử Tức làm 1 thì Tài Bạch là 2, Phu Thê là 12, Phụ Mẫu là 9, tức Quan Lộc, mà đoán được cách cục của con. Nếu lấy Tứ Hóa của Tử Tức kết hợp vào bản mệnh, chẳng hạn Tử Tức hóa Kỵ xung Tật Ách, thì sức khỏe của con không tốt, đó là chuyện đối đãi trực tiếp với ta. Từ đó mới nói Lộc xuất: chuyện ra vào của Lộc và Kỵ không thể chỉ nhìn Kỵ hay chỉ nhìn Lộc, phải nhìn cả hai cùng nhau mới có so sánh. Kỵ xung cũng không hẳn là hung, mà phải tham khảo Lộc ở đâu.
Một ví dụ rơi vào hai tháng Tỵ và Hợi
Tài Bạch đại hạn hóa Kỵ nhập Tài Bạch bản mệnh là Kỵ nhập. Kỵ xung Mệnh lưu niên Hợi, nhưng Kỵ này chủ cát, chỉ ảnh hưởng đến hai tháng Tỵ, Hợi khi Đẩu quân chuyển qua lưu nguyệt, hơi kém. Nếu Tài Bạch đại hạn hóa Kỵ nhập Nô Bộc bản mệnh mà xung Mệnh lưu niên, thì cả năm gặp họa từ bạn bè, đặc biệt hung vào tháng Tỵ và Hợi. Tài Bạch đại hạn nhập Tài Bạch bản mệnh chỉ là tay hơi eo hẹp, đó là cách cục tiết kiệm, tháng Tỵ Hợi tay hơi chặt nhưng không liên quan lớn. Nhưng nếu Kỵ rơi vào Nô Bộc bản mệnh thì có tượng cực hung. Theo lý cung vị cùng cộng, nếu lưu niên vào Tý, Kỵ ở Nô Bộc lưu niên xung Huynh Đệ, phải chú ý bạn bè tổn ta, và cho bạn vay tiền phải thật cẩn thận. Nếu dùng Tài, Quan lưu niên hóa ra thì chủ cát hung lưu nguyệt.
Còn Kỵ nhập Quan Lộc thì sao? Cũng là Kỵ nhập, nhưng hai tháng Tỵ, Hợi thì sự nghiệp hơi không thuận. Tài Bạch đại hạn hóa Kỵ nhập Quan Lộc là đầu tư, mà ở hai lưu nguyệt đó thì hơi không suôn sẻ. Hiện tượng này không phải cát hung của tài, mà là tình hình thuận nghịch của việc đầu tư, tức cát hung của sự nghiệp.
Thiên Di một thể hai mặt: lúc là nhập, lúc là xuất
Cung duy nhất vừa thuộc về ta, vừa thuộc về người, nên mỗi lần Lộc Kỵ bay đến đều phải đọc hai lần.
Bản cung hóa Kỵ nhập Thiên Di là việc của mình, nên nếu sao hóa từ bản cung nhập Thiên Di thì cứ luận Lộc cát, Kỵ hung. Một thể hai mặt nghĩa là Thiên Di ta dùng được, tha cung cũng dùng được. Nếu tha cung hóa Lộc nhập Thiên Di mà hóa Kỵ nhập Mệnh thì vẫn cát; nhưng nếu Kỵ xung Mệnh thì phá ta. Quan Lộc là bản cung, Quan Lộc hóa Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh và bản cung thì vẫn là việc của mình, nên gọi là một thể hai mặt: nói cát không hoàn toàn cát, nói hung cũng không hoàn toàn hung. Có lúc là nhập, có lúc là xuất; tha cung có thể nhập, bản cung cũng có thể nhập. Bản cung là nhập thì tha cung là xuất; như Lộc nhập bản cung, Kỵ nhập tha cung thì hung.
- Nô Bộc hóa Lộc nhập Thiên Di thì thực chất là nhập hay xuất, khó dám đoán; nhưng vì Kỵ nhập Mệnh nên có thể đoán là lợi cho ta, là nhập. Nếu Kỵ nhập tha cung thì Lộc này tổn cho ta, nên Thiên Di mới khó đoán.
- Thiên Di hóa Lộc nhập bản cung, hóa Kỵ nhập tha cung đều tổn, vì đã nghiêng về phía tha cung, Kỵ như dính chặt ở bên kia, còn Lộc nhập bản cung như đến dụ dỗ ta, bất lợi cho ta. Kỵ đến tha cung là thiếu nợ bên kia; Lộc đến là kết giao tình với ta, hợp duyên chứ không có lợi thực chất.
- Nô Bộc hóa Kỵ nhập Huynh Đệ, hóa Lộc nhập Tài Bạch: bạn bè vì anh em bạn bè của họ mà muốn dụ tiền của ta. Kỵ lớn, Lộc yếu.
- Dùng đại hạn đoán lưu niên cực chuẩn: đại hạn trên dụng Thiên, dưới dụng Địa, còn người là lưu niên. Thiên nhân hợp nhất cứ áp vào là được.
- Lộc nhập bản cung, Kỵ nhập tha cung nhưng tha cung đó là bản cung của đại hạn thì không có tác dụng. Phải ở bản mệnh; đây là quan hệ giữa đại hạn và bản mệnh, nếu chỉ nhập bản cung đại hạn thì là hư và chỉ ứng ở lưu niên. Vậy phải Lộc nhập bản cung mà Kỵ cũng nhập bản cung mới cát; Kỵ không nhập bản cung tức không cát.
- Kỵ nhập bản cung, Lộc nhập tha cung: có thể kết giao tình bạn nhưng không được qua lại vay mượn. Kỵ đến tức Kỵ đi; muốn vay tiền thì không, muốn làm bạn thì được, giao tình sâu hay cạn đều không sao.
- Nô Bộc hóa Lộc nhập Tử Tức chiếu Điền Trạch, hóa Kỵ nhập Tài Bạch thì vẫn được. Nhưng Kỵ nhập Mệnh mà Lộc nhập tha cung thì bất lợi. Nô Bộc hóa nhập Tử Tức mà đoán tổn tài thì phần lớn liên quan đào hoa.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
