Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di: ai nợ ai, chọn ngành và tìm việc

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa04/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di: ai nợ ai, chọn ngành và tìm việc

Hai người cùng Quan Lộc hóa Kỵ, một người thiếu quý nhân cả đời, một người bị chính bạn bè phá cơ nghiệp. Chỗ khác nhau chỉ là Kỵ rơi vào cung nào, và món nợ ở đây không hẳn là tiền…


Quan Lộc hóa Kỵ: vào Phụ Mẫu hay vào Nô Bộc, hai số phận khác nhau

Hai người cùng có Quan Lộc hóa Kỵ, nhưng một người cả đời thiếu quý nhân nâng đỡ, còn người kia cả đời bị chính người cạnh bên phá hỏng cơ nghiệp. Chỗ phân biệt chỉ là hóa Kỵ ấy rơi vào cung nào. Quan Lộc đại diện cho việc phụng sự cấp trên, cơ ngộ nhân sinh và bối cảnh xã hội, nên nó nói về cái duyên của một người với bên ngoài.

  • Quan Lộc hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu hoặc Tật Ách: cả đời cơ duyên không tốt, không có quý nhân đề bạt.
  • Quan Lộc hóa Kỵ nhập Nô Bộc rồi xung Huynh Đệ: tài lộ cả đời bị bạn bè hoặc người làm thuê làm hỏng. Vất vả gây dựng cơ sở rồi lại bị người làm hay bạn bè phá hỏng.
  • Quan Lộc hóa Lộc nhập Phụ Mẫu hoặc Tật Ách: cả đời cơ ngộ tốt, có quý nhân đề bạt.
  • Quan Lộc hóa Lộc nhập Nô Bộc: cả đời bạn bè hoặc người làm thuê giúp tài lộ cho mình.

Nói gọn, Quan Lộc là xã hội nhân sinh.

Phụ Mẫu đã có Kỵ rồi còn nhận thêm Kỵ

Một chồng Kỵ lên nhau chưa chắc là nặng gấp đôi; khi Kỵ gặp Kỵ, hướng đi của nó đổi.

Có người hỏi: nếu Quan Lộc hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu mà Phụ Mẫu lại tọa Kỵ thì sao? Phụ Mẫu tọa Kỵ mà lại Kỵ nhập thì thành Kỵ xuất, nghĩa là cơ ngộ cả đời phải do tự bản thân mình tạo ra. Nếu Phụ Mẫu tự hóa thì Kỵ chạy đến Tật Ách, phải dựa vào thân thể và sức lao lực của mình để mưu tài, tuy vậy so với cả đời không cơ hội thì vẫn tốt hơn một chút. Dù dựa vào tự lực, nỗ lực xong kết quả vẫn khó gặp cơ hội.

Nô Bộc hóa Kỵ nhập Quan Lộc: đồng nghiệp và đối thủ

Hóa Kỵ đi ngược chiều thì chuyện cũng khác: lúc này kẻ gây khó không phải số mệnh mà là người ở quanh.

Nô Bộc hóa Kỵ nhập Quan Lộc thì người làm ăn gặp cạnh tranh, còn người đi làm thì có người đứng sau phỉ báng, đấu tố. Nếu thuê nhân viên thì dễ gặp người ngay ngô không vừa ý, ít chịu luân chuyển; nhìn chung không phải người làm lý tưởng. Với người đi làm, Phụ Mẫu của Quan Lộc, tức Nô Bộc, hóa Kỵ nhập Quan Lộc thì thăng tiến khó, dễ gặp tranh giành ngầm. Ngược lại, Quan Lộc hóa Kỵ nhập Nô Bộc thì người đi làm không có duyên với cấp trên.

Người hỏi tiếp: Nô Bộc hóa Kỵ nhập Quan Lộc thì làm quan lớn được không? Câu trả lời là khó thăng tiến, vì có đồng sự ngáng chân. Nô Bộc thường bị coi nhẹ trong các cung vị, nhưng thực ra lại là cung tối quan trọng.

Thiên Di và Phu Thê xem như một thể

Ra ngoài thuận hay không, trong nhà êm hay không, hai chuyện này không tách rời nhau.

Thiên Di không tốt thì tất ảnh hưởng đến Phu Thê. Phu Thê không tốt thì ra ngoài cũng không tốt, và cả đời thêm tai nạn ngoài ý muốn, sự nghiệp trắc trở. Điều này theo số ám thị của Mật Tông: Thiên Di mang số 9, tức Quan Lộc của Tử Vi Đẩu Số; Phu Thê mang số 7, tức Thiên Di.

Một mệnh tạo có Thiên Di tọa Vũ Khúc hóa Khoa năm sinh và Thiên Phủ, Tứ Hóa cũng cát, chính là người phối ngẫu học hành tốt và làm công việc thuế vụ loại kế toán cao cấp, tốt nghiệp chức vị cao. Ngược lại, Thiên Di tự hóa Kỵ thì Phu Thê tất cãi nhau nhiều, Thiên Di cũng hung; Phu Thê cung hung thì ra ngoài hay xuất ngoại dễ thêm tai nạn.

Thiên Di lưu niên hóa Kỵ nhập Phu Thê rồi xung Quan Lộc là xung khí số vị, chủ có tai nạn ngoài ý muốn. Có người hỏi: Kỵ nhập Phu Thê bản mệnh xung Quan Lộc phải không? Nhập Phu Thê bản mệnh xung Quan Lộc mới nghiêm trọng; nhập Phu Thê lưu niên xung Quan Lộc chỉ là chuyện nhỏ.

Huynh Đệ nằm giữa vợ chồng và sự nghiệp

Anh em bạn bè tưởng là chuyện xa, nhưng cung Huynh Đệ lại đứng ngay sát tiền vốn và hôn nhân.

Huynh Đệ ở Mật Tông là số 3. Số 3 là Phu Thê xung Quan Lộc, nên Huynh Đệ ảnh hưởng sự nghiệp. Theo lý, Huynh Đệ ở Mật Tông là tài vị, còn trong Đẩu Số là Điền Trạch của Tài Bạch, tức kho tiền; Kỵ nhập thì không có vốn, đương nhiên ảnh hưởng sự nghiệp. Số 3 của Huynh Đệ lại bao hàm quan hệ giữa vợ chồng với mình, nên ảnh hưởng rất lớn.

Ai nợ ai: hóa Kỵ đi ra và hóa Kỵ đi vào

Nợ ở đây không chỉ là tiền. Đó là nghĩa vụ phải lo cho một người, là sự quan tâm đã bỏ ra.

Quy tắc đơn giản là hóa Kỵ từ Mệnh đi ra thì mình nợ người khác; hóa Kỵ từ cung khác đi vào Mệnh thì người khác nợ mình.

  • Mệnh cung hóa Kỵ nhập Huynh Đệ: mình nợ anh em bạn bè. Huynh Đệ hóa Kỵ nhập Mệnh: anh em bạn bè nợ mình.
  • Phu Thê hóa Kỵ nhập Huynh Đệ: anh em bạn bè nợ mình, giúp mình kiếm tiền. Huynh Đệ hóa là đối cung Quan Lộc.
  • Phu Thê hóa Kỵ nhập Mệnh: người phối ngẫu nợ mình. Mệnh cung hóa Kỵ nhập Phu Thê: mình nợ người phối ngẫu.

Có người hỏi: nói theo một góc khác thì Mệnh cung hóa Kỵ nhập Phu Thê là mình quản người phối ngẫu, còn Phu Thê hóa Kỵ nhập Mệnh là họ quản mình? Đúng vậy. Muốn quản đối phương là gốc của hành vi mắc nợ; phải quan tâm đối phương, hễ vì đối phương là thêm lao tâm tổn trí. Còn Phu Thê hóa Kỵ xung Mệnh thì khác: xung Mệnh là vô duyên, không phải tượng thiếu nợ.

Nô Bộc hóa Kỵ nhập Mệnh là bạn bè nợ mình; Mệnh cung hóa Kỵ nhập Nô Bộc là mình nợ bạn bè. Mệnh cung hóa Lộc nhập Nô Bộc cũng tương tự: như người làm ăn tự mình dốc sức cho khách hàng, đem lợi ích cho người khác. Mệnh cung hóa Quyền đến Nô Bộc thì không phải người hay tính toán, cũng không hẳn là thích chiếm lợi; Mệnh cung hóa xuất thường là phía mình bị tổn thất. Hóa Quyền cũng vậy, tức dù mình nói thế nào cũng vô ích với người khác. Tam hợp của mình hóa đến cung người khác cũng là tổn thất. Mình hóa ra thì cuối cùng vẫn là mình bị tổn; chỉ khi người khác hóa nhập vào mình thì mới là họ nợ mình.

Lộc là lợi ích thật, Kỵ là nghĩa khí

Khi hai bên cùng đưa nhau Lộc và Kỵ, thứ nhận được không giống nhau. Một bên là vật chất, một bên là tình nghĩa.

Mệnh cung hóa Lộc nhập Nô Bộc, mà Nô Bộc hóa Kỵ nhập Mệnh cung: mình mang lợi ích thực tế như tiền bạc, vật chất cho bạn bè, còn bạn bè chỉ mang lại cho mình nghĩa khí, tức tình cảm và sự giúp đỡ về tinh thần. Đây là chỗ khác nhau giữa Lộc và Kỵ: Kỵ đại diện cho nghĩa khí, không liên quan đến tiền bạc.

Có người hỏi: Mệnh và Nô Bộc cùng hóa Kỵ nhập vào nhau thì sao? Đó là hai bên rất hợp nhau, hòa thuận, nhưng tuyệt đối không nên giao dịch tiền bạc. Nếu thuần túy làm bạn thì sẽ có tình có nghĩa, không ai bị tổn hại.

Còn Quan Lộc hóa Kỵ nhập Nô Bộc thì tổn thất nặng nề, tất cả đều bị bạn bè lấy mất. Quan Lộc hóa Lộc nhập Phụ Mẫu rồi chiếu Tật Ách là cơ hội tốt; nhưng nếu Quan Lộc lại hóa Kỵ nhập Nô Bộc thì kết quả là cơ nghiệp mình gây dựng cuối cùng lại thành của người khác.

Chọn ngành học: mỗi sao một hướng đi

Đứng trước kỳ thi vào đại học, người trẻ thường hỏi nên chọn ngành nào. Lá số có thể trả lời bằng tính chất của các sao ở cung Quan Lộc. Trước khi nói đến cách phán cát hung, cần biết từng sao nghiêng về nhóm ngành nào, vì từ đó mới chọn được hướng hợp với cung đang chiếu vào.

  • Thái Dương: văn học, triết lý, triết học, văn chương.
  • Thiên Cơ, Thái Âm: thương mại, kinh doanh.
  • Liêm Trinh, Phá Quân: kỹ thuật, công nghệ, trong đó Phá Quân thiên về kỹ thuật nhiều hơn.
  • Thiên Phủ, Thái Âm, Vũ Khúc: các sao tài tinh, hợp với thương mại và kinh tế.
  • Thiên Lương: kỹ thuật y tế, y học.
  • Thiên Đồng: văn khoa, nhưng nghiêng về kinh doanh, quản lý.
  • Thất Sát: thương mại. Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang đều hợp thương mại, nhưng Phá Quân thiên về kỹ thuật.
  • Cự Môn: kiến trúc, kỹ thuật xây dựng. Thái Dương đôi khi cũng thuộc ngành xây dựng.
  • Tử Vi Thiên Tướng: đối cung chắc chắn là Phá Quân, thuộc lý công, thiên về các ngành khéo tay như công nghệ, kỹ thuật.

Các sao văn khoa thường giỏi ngôn ngữ, còn sao lý công thì giỏi toán học. Dựa vào hiểu biết thông thường về tính chất sao thì biết được sao nào thuộc văn, sao nào thuộc kỹ thuật.

Cát hung của ngành học xem ở Quan Lộc đại hạn

Biết sao nào hợp ngành nào mới là nửa đường. Nửa còn lại là xem ngành ấy trong thời điểm thi có thuận hay không.

Khi Quan Lộc đại hạn hóa ra sao nào mà nhập hoặc chiếu tam hợp của mình, hoặc xung cung văn thư tức Phụ Mẫu, thì tính chất của sao ấy cho biết ngành nên chọn hay nên tránh. Tính chất sao ấy dựa vào việc Quan Lộc đại hạn gặp tam cát hóa, tức Lộc, Quyền, Khoa. Tam cát hóa của chủ tinh tại Quan Lộc đại hạn không dùng để hỏi thi cử cát hung, mà để xem ngành nào có lợi khi thi.

Có người hỏi: có phải dùng tính chất sao của Quan Lộc đại hạn để đoán không? Không phải, phải xem Tứ Hóa của Quan Lộc đại hạn. Nếu Quan Lộc đại hạn hóa Kỵ xung tam hợp bản mệnh hoặc cung văn thư thì ngành đó chắc chắn bất lợi; nếu tam cát hóa chiếu tam hợp hoặc cung văn thư thì chọn ngành đó chắc chắn có lợi.

Còn Tứ Hóa của Mệnh đại hạn thì không dùng được khi chọn ngành thi; phải dùng Tứ Hóa của Quan Lộc đại hạn. Nếu tam cát hóa của Mệnh đại hạn nhập tam hợp mà tam cát hóa của Quan Lộc đại hạn không nhập thì sao hóa từ Mệnh đại hạn chỉ cho biết sở thích, ngành mà người đó yêu thích. Cát hung vẫn phải dựa vào Tứ Hóa của Quan Lộc đại hạn làm chính.

  • Ví dụ Quan Lộc đại hạn can Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ xung Mệnh, Quan Lộc, Phụ Mẫu thì toán học chắc chắn kém.
  • Quan Lộc đại hạn có Thái Dương hoặc Thiên Lương hóa Lộc chiếu Mệnh, Quan Lộc, Phụ Mẫu thì thành tích ngôn ngữ chắc chắn tốt.
  • Tứ Hóa của Quan Lộc bản mệnh dùng để xem sở thích và khuynh hướng, tức xem người đó thích học môn gì.

Tự hóa ở Quan Lộc bản mệnh nói gì về thái độ học

Có những người không thiếu năng lực, chỉ thiếu cái nết học. Tự hóa ở Quan Lộc chỉ ra từng kiểu nết ấy.

  • Tự hóa Kỵ: không thích học hành.
  • Tự hóa Lộc: thích chơi bời, học không tập trung, học nhiều nhưng không tinh.
  • Tự hóa Khoa: thích đọc sách, học rộng nhưng không chuyên sâu.

Thêm vài sao đơn độc và những nghề đi kèm

Có sao khi đứng một mình hướng một nghề, gặp bạn đồng hành thì lại hướng sang nghề khác.

  • Tham Lang đơn tinh: nghệ thuật, tài năng như diễn xuất, mỹ thuật. Nếu giỏi mệnh lý thì lại khác. Tham Lang gặp Thiên Cơ, Thái Âm thì thuộc thương mại.
  • Thái Dương hóa Lộc: văn học, ngôn ngữ chắc chắn tốt. Nếu đối cung có Cự Môn, khi Thái Dương và Cự Môn không đồng cung mà chiếu nhau thì liên quan đến triết lý, xây dựng hoặc nghề dựa vào tài ăn nói như ngoại vụ. Khi Thái Dương và Cự Môn đồng cung thì liên quan đến pháp luật.
  • Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật: đều thuộc văn học, nghệ thuật, diễn xuất, mỹ thuật, thiết kế.
  • Thiên Phủ đơn tinh: liên quan đến đất đai, bất động sản. Gặp Vũ Khúc thì thuộc tài chính, kinh tế. Gặp Liêm Trinh thì thuộc ngành máy tính, kỹ thuật viên máy tính.
  • Thất Sát: liên quan đến quân đội, cảnh sát; Liêm Trinh cũng liên quan đến cảnh sát. Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang đều liên quan đến quân đội, cảnh sát, nhưng Phá Quân thường là cảnh sát hình sự.
  • Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang phải gặp nhau ở tam hợp nên ngành nghề của người có ba sao này rất rộng, không chuyên nhất.

Tìm việc làm: nhìn Tật Ách và Phụ Mẫu

Việc làm nghe như chuyện của Quan Lộc, nhưng người xem số lại tìm đáp án ở hai cung đứng sau lưng nó.

Muốn tìm việc, xem cung Điền Trạch của Quan Lộc lưu niên, tức cung Tật Ách, vì Điền Trạch của Quan Lộc chính là Tật Ách. Tật Ách liên quan đến thất nghiệp và tình trạng bận rộn của cơ thể. Tật Ách lại là Thiên Di của Phụ Mẫu, nên dùng Tứ Hóa của Tật Ách để đoán.

  • Nếu tam cát hóa chiếu Quan Lộc thì trong tháng lưu nguyệt đó chắc chắn tìm được việc.
  • Nếu Tứ Hóa của Tật Ách không nhập Quan Lộc thì xem Tứ Hóa của Phụ Mẫu; nếu tam cát hóa chiếu Quan Lộc trong tháng đó thì cũng có thể tìm được việc.
  • Nếu tam cát hóa của Tật Ách hoặc Phụ Mẫu chiếu Quan Lộc nhưng Kỵ cũng xung Quan Lộc thì công việc tìm được sẽ không làm lâu dài.
  • Nếu Tật Ách hóa Kỵ xung Quan Lộc trong tháng đó thì có thể mất việc.

Lời dặn dành cho người học số mệnh

Học môn này không chỉ là học kỹ thuật. Người học phải giữ một cái tâm, nếu không sẽ tự gánh hậu quả.

Bất cứ môn học thuật nào cũng cần có danh sư chỉ điểm thì mới tiến bộ được. Trong lòng phải có niềm tin thì trí tuệ mới dễ khai mở, từ đó mới có lợi cho việc học. Bái sư không cần thề thốt. Nếu công đức của thầy không tốt thì đồ đệ không được phép thề nguyền, nếu không thì hình phạt vô hình sẽ do người đồ đệ gánh chịu. Chưởng môn Thiếu Lâm đóng cửa bế quan là để gánh tội thay cho kẻ bại hoại trong đám môn đồ, rồi tự đóng cửa suy ngẫm.

  • Người gặp vận xấu thì cơ thể chắc chắn không tốt.
  • Người chuyên đoán cung Thiên Di thì bản thân ra ngoài chắc chắn không tốt; người chuyên đoán cung Phu Thê thì hôn nhân của bản thân chắc chắn không viên mãn. Vì vậy khi đoán mệnh cần phán đoán cân bằng.
  • Khi vận người đang thịnh thì đào hoa không đến gần; khi vận suy bại thì đào hoa lại dễ xuất hiện.
  • Người đoán cung âm cần tích âm đức.

Câu tín điều dành cho người tu đạo:

Đừng than rằng đường đời không tri kỷ, chỉ hỏi lòng này có thẹn với trời không.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa