Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tự hóa

Bài tổng quan

Tự hóa ở mười hai cung: từ Mệnh, Phu Thê đến Tử Tức

Tử Vi Bắc Phái - Tự hóa04/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Tự hóa ở mười hai cung: từ Mệnh, Phu Thê đến Tử Tức

Mệnh cung tự hóa Kỵ thì hay nghi kỵ, Phu Thê tự hóa Kỵ thì cả đời cãi vã, còn Tử Tức tự hóa Lộc lại chẳng muốn thêm con. Cùng một động tác tự hóa mà mỗi cung kể một câu chuyện khác, và Kỵ gặp Kỵ ở tứ mã khác hẳn ở tứ khố…


Mệnh cung tự hóa: làm việc có đầu mà không có đuôi

Thiên can của một cung có thể phi hóa ra ngoài, nhưng cũng có thể hóa ngay trên chính sao của cung ấy rồi quay về, và đó gọi là tự hóa. Mệnh cung có tự hóa thì người ấy làm việc có đầu không đuôi. Từng loại hóa tinh cho ra một sắc thái riêng, và cách đọc này áp dụng cho cả ba trường hợp: hóa tinh tọa sẵn, hóa Lộc hoặc hóa Khoa năm sinh, và tự hóa thực thụ.

  • Mệnh cung tọa hóa Lộc năm sinh, hóa Khoa năm sinh, hoặc tự hóa Lộc: người làm việc khôn khéo. Có Khoa thì không chỉ khôn khéo mà còn có phong độ.
  • Có Quyền hoặc tự hóa Quyền: tương đối bá đạo, muốn nắm quyền.
  • Mệnh cung có tự hóa Kỵ: tâm tình không ổn định, hay nghi kỵ.

Cùng lý ấy áp dụng cho cung Tật Ách, vì Mệnh và Tật Ách nhìn nhau theo thế Nhất Lục cộng tông. Ở Tật Ách, hóa Lộc cũng chỉ người khôn khéo có độ lượng, hóa Quyền chỉ bá đạo, hóa Khoa chỉ phong độ. Riêng hóa Kỵ ở Tật Ách còn thêm nghĩa tâm lượng hẹp, ích kỷ, thiệt người lợi mình.

Huynh Đệ và Nô Bộc tự hóa: tiền cho bạn, nợ với bạn

Hai cung này cộng lại bằng mười, nên chúng soi lẫn nhau. Tự hóa ở một bên kéo theo hơi thở ở bên kia.

Huynh Đệ ở vị trí số 2, Nô Bộc ở vị trí số 8, hai số cộng bằng 10, nên khi xét tự hóa người ta đọc chung cho cả hai cung. Bốn trường hợp:

  • Tự hóa Lộc: vô cớ đối tốt với người khác, có duyên với bạn bè. Tiền tài hao hụt, nhưng tiền cho bạn bè vay có thể thu lại. Nếu không thu lại được thì mình cũng cam tâm tình nguyện, vì ý của nó là có tiền thì dùng chung hoặc chia cho người khác dùng.
  • Quyền tọa: giao tiếp với bạn bè thì muốn nắm quyền. Nhưng tự hóa Quyền là bạn bè không phục, nhiều tranh chấp.
  • Tự hóa Khoa: bạn bè nhiều quý nhân, ít quan hệ thiệt hơn tính toán.
  • Tự hóa Kỵ: chủ thiếu nợ, thiếu nợ bạn bè. Tức mình thiếu tiền người phải trả, người thiếu mình thì thu không về, và còn đoạn tuyệt tình bạn.

Phu Thê tự hóa: bốn hóa tinh tọa cung rồi tự hóa thêm một lần

Cung Phu Thê khi thiên can của chính nó tự hóa thì mọi ý nghĩa đang có ở đó bị đảo chiều hoặc nhân đôi, tùy hóa tinh nào đang ngồi trong cung. Muốn đọc cho đúng cần tách thành hai tầng: tầng thứ nhất là Tứ Hóa năm sinh hay sao nào đang tọa ở Phu Thê, tầng thứ hai là tự hóa của cung ấy, tức hóa tinh mà thiên can Phu Thê tự gửi ra rồi quay lại. Tầng thứ nhất nói người phối ngẫu đối với mình ra sao, tầng thứ hai nói hai bên đáp lại nhau thế nào.

Tự hóa đơn lẻ và Tứ Hóa năm sinh nhập Phu Thê

Mỗi tầng đứng riêng đã cho biết vài điều về chuyện vợ chồng.

  • Phu Thê tự hóa Lộc, hoặc tọa hóa Lộc năm sinh: vợ chồng có duyên phận. Cung đối diện là Quan Lộc, nên chiều ra ngoài kiếm tiền thuận lợi. Số cung của Quan Lộc là 9, của Phu Thê là 3, hai số cộng lại có ý dư ra. Nghĩa là Lộc ở Phu Thê sẽ có người thứ ba đến giúp sự nghiệp, hoặc sau hôn nhân nhờ vợ chồng đỡ đần mà sức Lộc mới lộ ra. Quyền và Khoa nhập Phu Thê cũng vậy, điềm lành chỉ hiện rõ sau khi kết hôn.
  • Tự hóa Lộc hoặc hóa Quyền năm sinh tọa cung: vợ chồng nhiều tranh chấp, nhất là Quyền thì chủ tranh quyền.
  • Xét Tứ Hóa năm sinh nhập Phu Thê: Lộc nhập là có duyên; Quyền nhập là nhiều tranh chấp, nhưng đối cung Quan Lộc lại dễ thăng tiến; Khoa nhập là vợ chồng hòa hợp, gia thế người kia trong sạch, nhiều quý khí; Kỵ nhập là hay cãi vã.

Lộc tọa Phu Thê gặp bốn kiểu tự hóa

Cùng một chữ Lộc mà đặt thêm tự hóa nào lên trên thì chân dung người phối ngẫu thay đổi hẳn.

  • Lộc rồi tự hóa Lộc: mình đối tốt với người ấy và người ấy coi đó là điều hiển nhiên.
  • Lộc rồi tự hóa Quyền: mình đối tốt, người ấy cũng năng cán và đỡ đần lại được mình.
  • Lộc rồi tự hóa Khoa: mình đối tốt, người ấy như quý nhân nâng đỡ mình.
  • Lộc rồi tự hóa Kỵ: đây là song Kỵ. Mình đối tốt mà người ấy chưa chắc đối tốt lại; kết quả diễn ra là người phối ngẫu hay ghen, không cho mình giao du với người khác giới ngoài xã hội, quản thúc mình. Mình thành ra không thể sống chung với ai khác giới nữa.

Quyền tọa Phu Thê gặp bốn kiểu tự hóa

Quyền là chữ của tranh giành và năng lực; thêm tự hóa nào thì cuộc giằng co đổi màu theo đó.

Quyền nhập Phu Thê vốn nhiều tranh chấp, song chiếu sang Quan Lộc thì dễ thăng tiến. Khi cung ấy tự hóa, các biến thể như sau.

  • Quyền rồi tự hóa Lộc: mình tài cán, người phối ngẫu cũng giúp ích. Vợ chồng tuy tranh chấp nhưng rất nhanh hòa lại.
  • Quyền rồi tự hóa Quyền: mình muốn quản, người kia không để mình quản. Hai bên đều tài cán, tính đều mạnh, không ai nhường ai.
  • Quyền rồi tự hóa Khoa: khi mình nổi giận, người phối ngẫu không để ý. Khoa cho thấy người ấy có tu dưỡng.
  • Quyền rồi tự hóa Kỵ: mình muốn quản nên sinh cãi vã, thành oan gia của nhau, cả đời ầm ĩ mà vẫn sống qua ngày.

Khoa tọa Phu Thê gặp bốn kiểu tự hóa

Khoa là sự nhã nhặn, nên đáp lại của người phối ngẫu thường lộ rõ nhất khi Khoa gặp tự hóa.

  • Khoa rồi tự hóa Lộc: vợ chồng bạch thủ giai lão, ân ái cả đời.
  • Khoa rồi tự hóa Quyền: mình đối tốt thì người kia được đằng chân lân đằng đầu, trèo lên đầu muốn quản mình.
  • Khoa rồi tự hóa Khoa: người phối ngẫu không biết trân trọng sự tử tế của mình, không coi trọng.
  • Khoa rồi tự hóa Kỵ: người ấy hung hơn mình, mình đối tốt mà vẫn bị cãi vô lý.

Kỵ tọa Phu Thê gặp bốn kiểu tự hóa

Kỵ vốn đã nặng. Gặp tự hóa, nặng hay nhẹ tùy ở chỗ lực của tự hóa mạnh đến đâu.

  • Kỵ rồi tự hóa Lộc: mình không tốt với người phối ngẫu, họ lại đối tốt với mình. Vì Lộc Kỵ vốn là song Kỵ, kết quả là họ lấy mềm khắc cứng, lấy nhu khắc cương, mình vẫn không cưới được thê thiếp. Với nữ mệnh thì ý là không có mối mai.
  • Kỵ rồi tự hóa Quyền: vợ chồng sẽ đánh nhau.
  • Kỵ rồi tự hóa Khoa: lực của tự hóa Khoa nhỏ mà lực Kỵ mạnh, nên vẫn có hiện tượng không hợp. Người phối ngẫu muốn đỡ đần mình mà mình không tin họ.
  • Kỵ rồi tự hóa Kỵ: loại vợ chồng này khó bạch thủ giai lão. Mình hung với người kia, người kia chẳng thèm để ý đến mình.

Cách đọc này không giới hạn ở riêng Phu Thê. Tứ Hóa và tự hóa đứng chung ở cung nào cũng tra bằng đúng phương pháp ấy: lấy hóa tinh đang tọa làm gốc, lấy tự hóa làm cách đáp lại.

Kỵ tự hóa Kỵ ở tứ mã, tứ khố, tứ chính: ba cảnh khác nhau

Cùng là Kỵ gặp Kỵ, nhưng đặt ở góc nào của lá số thì câu chuyện vợ chồng cũng khác.

Ở những cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi gọi là tứ mã, Kỵ tự hóa Kỵ thành "Tháo Mã Kỵ": vợ chồng không thể bạch thủ giai lão. Ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là tứ khố, nó thành "Thiếu Nợ Kỵ", ý tượng của món nợ. Hai người tuy ở chung không hòa hợp nhưng chưa chắc phải chia tay, nên đừng vội phán rằng cứ có Kỵ ở Phu Thê là ly hôn.

Ở các cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, vị trí của Thiên, nếu Kỵ tọa lại tự hóa Kỵ thì cách đối đãi trở thành đối xứng: anh biết kiếm tiền thì tôi cũng biết kiếm, anh biết tiêu thì tôi cũng biết tiêu, muốn chơi thì cùng chơi. Anh đối tốt thì tôi đối tốt, anh đối không tốt thì hãy chờ xem.

Lộc phân khai và Kỵ phân khai khác nhau thế nào

Có người hỏi: hai bên chia xa vì Lộc hay vì Kỵ thì nặng nhẹ có khác không. Câu trả lời đi theo từng bậc.

Trường hợp được đem ra hỏi là Phu Thê ở tứ mã, có Kỵ năm sinh lại tự hóa Kỵ thì ly hôn, còn có Lộc năm sinh gặp tự hóa Lộc thì cũng chia xa. Hai chuyện này không cùng mức. Kỵ gặp tự hóa Kỵ là vốn đã không thể ở chung, tách ra còn tốt hơn gắn bó. Lộc gặp tự hóa Lộc cũng là không ở chung được, nhưng so với Kỵ thì không nghiêm trọng bằng, chia ra còn hơn kéo dài.

Điều này mở rộng sang các cung khác. Phụ Mẫu tự hóa Kỵ nghĩa là không thể sống cùng cha mẹ; ở chung ngược lại bất lợi, ở riêng thì có lợi. Bản thân chữ Kỵ đã mang nghĩa không thể ở cùng nhau.

Một câu hỏi nữa là Kỵ chủ chia xa thì có phải vì tình cảm đổ vỡ mà xa? Câu trả lời lấy Nô Bộc làm ví dụ. Nô Bộc hóa Lộc rồi tự hóa Lộc là thiệt hại do cam tâm tình nguyện, còn hóa Kỵ thì thiệt hại không cam lòng. Quan hệ giữa Kỵ với Kỵ mang cảm giác oan uổng, đáng lẽ không nên xảy ra.

Tử Tức tự hóa: chuyện con cái và chuyện đào hoa

Cung nằm ngay cạnh Phu Thê giữ chuyện sinh nở, và với con cái thì tự hóa luôn mang nghĩa dư thừa.

Với cung Tử Tức, tự hóa nghĩa là dư ra, không muốn thêm. Từng loại:

  • Tự hóa Lộc: không muốn sinh thêm, có thai thì bỏ.
  • Tự hóa Quyền: cũng không muốn sinh thêm, nhưng muốn bỏ thì có phiền phức.
  • Tự hóa Khoa: tương đối tốt, bỏ đi cũng không ảnh hưởng sức khỏe.
  • Tự hóa Kỵ: có thể sảy thai, hoặc phải mổ bụng sinh.

Khi Tứ Hóa năm sinh Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ nhập Tử Tức, chúng nói lên cách đối đãi với con cái tốt xấu thế nào. Mặt khác, chỉ cần có một hóa tinh nhập Tử Tức là đã dẫn động đào hoa. Nếu cung ấy lại tự hóa thì tuy có đào hoa nhưng kết giao không thành.

Tài Bạch tự hóa và mười hai cung vị trong cách đọc chung

Muốn khỏi đọc nhầm, cần nhớ mỗi cung đang gánh chuyện gì trong đời trước khi gắn hóa tinh vào.

  • Tài Bạch tự hóa Lộc: rất biết kiếm tiền và cũng rất biết tiêu tiền. Tài Bạch và Quan Lộc tự hóa thì đọc giống Mệnh cung.
  • Mệnh cung và Thiên Di nói về tính cách; Phụ Mẫu và Tật Ách nói về lòng dạ bên trong và tính khí.
  • Điền Trạch và Tử Tức, ngoài việc dẫn động đào hoa, còn nói về cách dùng tiền.
  • Phúc Đức nói về việc dùng tiền và hưởng thụ.
  • Cần đặc biệt chú ý Tứ Hóa nhập Mệnh cung, Thiên Di, Phụ Mẫu, Tật Ách và Phu Thê, vì các cung này sâu hơn nhiều.

Ý nghĩa lớn của mười hai cung vị kể trên, nếu gặp tự hóa cùng loại thì triệt tiêu nhau. Vậy nên thấy Kỵ ở Phu Thê đừng vội kết luận ly hôn: hãy xem Kỵ ấy có tự hóa không, rơi ở tứ mã, tứ khố hay tứ chính, hóa tinh đi kèm là Lộc, Quyền hay Khoa, rồi mới cân nhắc.

Gương mặt và lòng dạ: Mệnh cung khác Phụ Mẫu ở chỗ nào

Cùng gọi là tướng mạo, nhưng một cung giữ hình dáng, còn một cung giữ biểu tình hiện lên khi tâm động.

Phụ Mẫu là Thiên Di của Tật Ách, còn Mệnh cung là Thiên Di của Thiên Di, nên có người thắc mắc cả hai đều nói về tướng mạo thì khác nhau ở đâu. Cách phân biệt: Mệnh cung xem hình dáng khuôn mặt, tức hình thái của diện mạo. Phụ Mẫu xem biểu tình của khuôn mặt, tức bảy tình sáu dục lộ ra ngoài sắc mặt. Mệnh cung tọa sao nào thì diện mạo mang hình dáng của sao ấy.

Tật Ách chủ tâm lượng và tính khí; còn đối cung Phụ Mẫu mới là nơi xem biểu tình lộ ra, tức cái từ nội tâm phát ra ngoài. Khi tam hợp của Phụ Mẫu có hóa Kỵ xung, hội Kỵ tinh, hoặc có tự hóa Lộc, Quyền, Kỵ thì vẫn phải tham khảo chủ tinh để biết đó là loại Sát Phá Lang hay Cự Môn ám tinh. Sắc mặt sẽ biến đổi theo từng loại. Nếu tinh tính trong cung không rõ ràng như Thiên Cơ, người ấy lúc tức giận hay trở mặt đều thể hiện ngay trên khuôn mặt.

Còn tự hóa Quyền nhập Mệnh thì tính bướng bỉnh, bá đạo hơn.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tự hóa