Bài tổng quan
Đọc tài vận, mệnh ông chủ và độ bền công việc bằng Tứ Hóa
Một nữ mệnh ba mươi mốt tuổi đang đi đại hạn kiếm tiền lớn, nhưng chỉ một chữ Kỵ rơi vào Điền Trạch cũng đủ làm năm sau thất thoát. Ai làm ông chủ, ai chỉ đi làm thuê, và công việc nào bền, đều có thể đọc ra từ chỗ Lộc, Quyền, Kỵ chui vào…
Mục lục · 7 phần
- 01Một nữ mệnh ba mươi mốt tuổi: lấy Tài Quan đại hạn làm thước
- 02Lộc, Quyền, Kỵ đi qua lưu niên, thi cử và nghề học
- 03Kỵ của Mệnh: vận mệnh không thuận kéo dài bao lâu
- 04Những mệnh bàn khác: tiền mặt hay nhà cửa, làm chủ hay làm thuê
- 05Cổ phiếu, ngũ hành và quầy hàng
- 06Mệnh ông chủ: nam xem Thái Dương, nữ xem Thái Âm
- 07Công việc có ổn định không, dọn nhà, giải ách và lương bổng
Một nữ mệnh ba mươi mốt tuổi: lấy Tài Quan đại hạn làm thước
Người nữ này sinh dương nữ, Kim Tứ Cục, Mệnh cung Nhâm Dần, năm nay ba mươi mốt tuổi và đang đi đại hạn 24 đến 33 ở cung Nhâm Tý. Muốn đoán cát hung lớn thì phải lấy Tứ Hóa của Tài Bạch, Quan Lộc, Điền Trạch trong đại hạn rồi nhập vào Phụ Mẫu, Tật Ách, Quan Lộc, Phu Thê của bản mệnh bàn để làm hạn. Cung Huynh Đệ xung Nô Bộc thì nói về anh em, thân thích, bạn bè.
- Tài Bạch đại hạn mang can Mậu: Tham Lang hóa Lộc, Thái Âm hóa Quyền. Lộc xung chiếu Tài Bạch của bản mệnh, mà đó cũng là Quan Lộc của đại tài, xung Phu Thê. Quyền vào Phụ Mẫu của bản mệnh xung chiếu Tật Ách. Người này kiếm tiền lớn: chồng bà hiện có vài chục triệu, đi xe sedan nhập khẩu.
- Tài Bạch của bản mệnh mang can Bính, Thiên Đồng hóa Lộc vào Tật Ách chiếu Phụ Mẫu.
- Nếu Lộc và Kỵ cùng vào Phụ Mẫu xung chiếu Tật Ách, hoặc ngược lại, hoặc cùng nằm trên trục Quan, Phu Thê, thì vừa kiếm vừa tổn. Nếu Lộc và Kỵ mỗi bên chiếm một đầu đối cung thì cũng có lợi có tổn, nhưng nhiều hay ít thì phải xét: Lộc Kỵ tọa Phụ Mẫu, Quan Lộc là mạnh, là nhiều; tọa Tật Ách, Phu Thê là yếu, là ít.
- Cung Quan Lộc cho thấy sự nghiệp lớn nhỏ và mức mạnh yếu của việc kinh doanh. Nếu Tài Bạch đại hạn hóa Lộc vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách, mà Quan Lộc đại hạn lại hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách, thì đoán sự nghiệp lỗ vốn, kinh doanh rất không tốt, nhưng tiền vẫn có. Đó là tiền phụ chứ không phải do sự nghiệp kiếm được.
- Khi đoán Phụ, Tật, Quan, Phu Thê phải chú ý Tài, Quan của đại hạn đang là cung nào của bản mệnh. Nếu Tài Bạch đại hạn chính là Nô Bộc của bản mệnh thì cát hung tổn lợi dính đến bạn bè. Biết giữ gìn khi qua lại với bạn bè thì dù mệnh có định số vẫn giảm được thiệt hại xuống mức nhẹ nhất. Nô Bộc xung Huynh Đệ, nên đồng thời phải để ý anh em, người gần thân.
- Nếu người này đi đại hạn 34 đến 43 ở cung Tân Hợi, Tài Bạch đại hạn mang can Đinh: Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, rơi vào Phụ Mẫu và Tật Ách của bản mệnh xung nhau, chắc chắn kiếm tiền lớn. Nhưng Cự Môn mang can Đinh hóa Kỵ vào Điền Trạch Ất Tỵ, xung đại hạn bản mệnh, lại là Mệnh lưu niên của năm sau, Quý Hợi. Vì thế năm sau tiền tài có tổn thất, liên quan đến trong nhà hoặc Điền Trạch, tức kho.
Lộc, Quyền, Kỵ đi qua lưu niên, thi cử và nghề học
Cùng một kiểu hóa nhập, nhưng đổi từ đại hạn xuống lưu niên thì thời gian ứng nghiệm rút từ mười năm xuống một năm, rồi xuống một tháng.
- Tứ Hóa của Tài Bạch, Quan Lộc lưu niên nhập Phụ, Tật, Quan, Phu Thê của đại hạn: năm nhập cung hoặc xung cung, trong tuổi của đại hạn ấy, có tổn lợi. Nhập Phụ, Tật, Quan, Phu Thê lưu niên thì ứng vào tháng.
- Hỏi thi cử: Quan Lộc lưu niên hóa Lộc, hóa Khoa vào Tật Ách của bản mệnh, hoặc đại hạn, hoặc lưu niên, chiếu Phụ Mẫu, chắc chắn đậu. Cũng đúng khi Phụ Mẫu chiếu Tật Ách, Quan Lộc chiếu Phu Thê, Phu Thê chiếu Quan Lộc. Hóa Quyền thì vẫn cần cố gắng, hóa Kỵ thì không đậu.
- Học hành: Quan Lộc lưu niên hóa Lộc, hóa Quyền vào Phụ Mẫu lưu niên, năm đó chắc chắn đứng đầu bảng.
- Thiên Lương thuộc y, kỹ thuật, công nghiệp. Thái Âm thuộc văn khoa. Vũ Khúc thuộc thương khoa. Xương, Khúc thuộc hệ thống thông thường. Sát, Phá, Lang thuộc trường quân đội, cảnh sát. Hóa Khoa là thuận lợi, không phiền toái, phiền não.
- Dương tinh nhập Tử Tức, Điền Trạch thì làm kinh doanh sản xuất, chế tạo, như Thái Dương. Âm tinh nhập Tử Tức, Điền Trạch thì làm mua bán, gia công, như Thái Âm, Liêm Trinh.
Kỵ của Mệnh: vận mệnh không thuận kéo dài bao lâu
Thiên can Mệnh cung hóa Kỵ vào Phụ Mẫu của bản mệnh xung Tật Ách, hoặc Quan Lộc xung Phu Thê, là vận mệnh không thuận.
- Kỵ của Mệnh đại hạn: mười năm vận không thuận. Kỵ của Mệnh bản mệnh: cả đời vận không thuận.
- Thiên can Mệnh đại hạn hóa Kỵ vào Phụ Mẫu đại hạn xung Tật Ách đại hạn, hoặc Quan Lộc đại hạn xung Phu Thê đại hạn: một năm không thuận. Thiên can Mệnh lưu niên hóa Kỵ vào Phụ Mẫu của đại hạn: một năm không thuận. Thiên can Mệnh lưu niên hóa Kỵ vào Phụ Mẫu của lưu niên xung Tật Ách lưu niên: một tháng không thuận.
- Tài Bạch của Huynh Đệ, tức Tật Ách, hóa Kỵ vào Phụ xung Tật, Quan xung Phu của bản mệnh: tài vận của anh em không thuận.
- Lộc, Quyền, Kỵ của Phụ Mẫu, Quan Lộc, Tài Bạch rơi vào tuyến tử vong kép thì có tổn có lợi.
Những mệnh bàn khác: tiền mặt hay nhà cửa, làm chủ hay làm thuê
- Một nữ mệnh có Tài Bạch ở Canh Tuất: Thái Dương hóa Lộc vào Tử Tức chiếu Điền Trạch, nên giàu. Vũ Khúc chính tài tinh ở Tài Bạch tự hóa Quyền, sớm muộn gì cũng giàu. Nhưng Thiên Đồng hóa Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu, thân thể không tốt, chắc chắn tổn tài. Hiện bên cạnh bà không có nhiều tiền mặt mà có nhiều nhà cửa. Lộc vào Tử Tức nên bà làm mua bán, mậu dịch; vì là Thái Dương hóa Lộc nên làm ngành chế tạo thì tốt hơn.
- Tài Bạch tự hóa Lộc: không giữ được tiền, vì chiếu Phúc Đức nên sẽ tiêu hết vào hưởng thụ. Tài Bạch hóa Lộc vào Nô Bộc, Huynh Đệ: dựa vào bạn bè, anh em, thân thích để kiếm tiền. Tài Bạch hóa Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh: tự lực kiếm tiền, dựa vào chính mình.
- Tài Bạch đại hạn hóa Lộc vào Phúc Đức: hưởng thụ. Hóa Lộc vào bốn cung Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch: tự lực tự lập, nhưng nếu rơi vào Thiên Di, Mệnh thì bận rộn, bôn ba, phiền lòng vì tiền tài sự nghiệp.
- Tài Bạch đại hạn hóa Lộc vào Tử Tức chiếu Điền Trạch: Điền Trạch nhiều. Hóa Lộc, Quyền vào Phụ Mẫu, Tật Ách, đồng cung hay tương chiếu: kiếm tiền lớn. Hóa Lộc vào Tật Ách là mệnh lạc thiên.
- Một mệnh tạo đi đại hạn 42 đến 51 ở Mậu Thìn, là Quan Lộc của bản mệnh. Quan Lộc đại hạn mang can Nhâm: Thiên Lương hóa Lộc vào Tật Ách của bản mệnh chiếu Phụ Mẫu, hóa Quyền vào Phúc Đức chiếu Tài Bạch, nên sự nghiệp có tượng hưng vượng. Nhưng Vũ Khúc hóa Kỵ ở Thiên Di xung Mệnh đại hạn, là Phu Thê bản mệnh xung Quan Lộc bản mệnh, tức Quan Lộc đại hạn hóa Kỵ xung Quan Lộc bản mệnh, lực mạnh. Kỵ ấy tọa cung Tuất lưu niên 49 tuổi, nên đến năm đó thì không tốt. Năm sau, lưu niên can Ất, Thiên Cơ hóa Lộc vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách, Thiên Lương hóa Quyền vào Tật Ách của bản mệnh xung Phụ Mẫu: Lộc Quyền tương chiếu, sự nghiệp chắc chắn hưng vượng, dù Thái Âm hóa Kỵ vào Điền Trạch của bản mệnh xung Tử Tức thì ảnh hưởng đến sự nghiệp cũng ít. Năm 67 tuổi, tức 1978, tài chính khá eo hẹp, vì Tài Bạch đại hạn mang can Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh, lại là Phúc Đức đại hạn, Canh Ngọ xung Tài Bạch; mà Canh Ngọ chính là Mệnh lưu niên năm 67.
- Hóa Kỵ nhập Mệnh không dính gì, không chủ hung, chỉ là khá khổ nhọc.
- Vũ Khúc, Tham Lang hóa Lộc vào Quan Lộc: sự nghiệp làm sẽ lớn. Lớn đến mức nào thì phải xem Lộc, Quyền của thiên can Quan Lộc nhập cung nào và sao hóa nào.
- Quan Lộc đại hạn hóa Lộc vào Phụ Mẫu mà Phụ Mẫu tự hóa Kỵ: đại hạn này có từng kiếm tiền, có cơ hội nhưng không nắm được, hoặc dễ thỏa mãn, không quá tham vọng.
- Tài Bạch và Quan Lộc đại hạn cùng hóa Lộc vào Phụ Mẫu của bản mệnh chiếu Tật Ách: lẽ ra sự nghiệp, tài lộc đều hưng vượng. Nhưng Tài Bạch đại hạn tự hóa Kỵ, còn Quan Lộc đại hạn nhập Tử Tức xung Điền Trạch, tức Mệnh đại hạn, nên hai bên bị kiềm chế. Phụ Mẫu đại hạn tự hóa Kỵ, vốn là Điền Trạch bản mệnh, thì Quan, Tài bị kiềm chế: người làm kinh doanh không tốt, người đi làm thuê vẫn có thể được.
Cổ phiếu, ngũ hành và quầy hàng
Từ chuyện mua bán chứng khoán đến chỗ đặt quầy trong cửa hàng, phi tinh đều chỉ cho một hướng: Lộc chiếu thì vào, Kỵ xung thì ra.
- Làm chứng khoán thì Kỵ xung phải bán, Lộc chiếu phải mua. Xem tính ngũ hành của sao để biết lên hay xuống. Nếu tháng 7 năm nay là Mậu Thân, Tham Lang hóa Lộc, sao Mộc hóa Lộc, thì ngành trúc thuộc Mộc có thể mua. Cách này cũng đoán được biến hóa khí tượng. Ngành điện tử thuộc Kim, ngành điện khí thuộc Hỏa. Kiếm tiền phải xem tính chất sao, liên quan đến pháp giải ách.
- Muốn định hành thiếu của trẻ sơ sinh, xem thiên can năm sinh hóa Kỵ rơi vào cung nào, theo vị trí bát quái, mà định hành thiếu.
- Cung Tài Bạch xem ngành nghề, nên kết hợp với Mệnh cung, lấy tính chất sao hóa Lộc của thiên can hai cung để tham khảo ngành nghề. Quan Lộc xem trạng thái kinh doanh, cũng nên tham khảo Mệnh cung thì mới đoán được sự nghiệp thuận hay không.
- Cung vị mà Tài Bạch hóa Lộc vào, cùng cung chiếu của nó, là chỗ có lợi về tiền. Hóa Quyền vào là chỗ tốn sức. Hóa Khoa vào là chỗ an ổn. Hóa Kỵ vào, cùng cung xung của nó, là chỗ hao tổn.
- Trong cửa hàng quan trọng nhất là quầy hàng, nên đặt quầy ở hướng hóa Lộc của mỗi tháng. Vì thế không nên đóng đinh chết quầy mà nên để di động. Hình tam giác có tác dụng kiềm chế các phương vị.
- Mệnh cung, Tài Bạch, Quan Lộc ở tam hợp phương có tác dụng ảnh hưởng và kiềm chế lẫn nhau. Tài Bạch đại hạn hóa Lộc chiếu bản mệnh: tài vận tốt. Hóa Kỵ xung bản mệnh: tài không tốt. Tức đồng loại tương chiếu là cát, xung là hung.
- Quan Lộc hóa Lộc vào Phụ Mẫu: ngành nghề kinh doanh liên quan đến văn thư, cơ quan chính phủ.
Mệnh ông chủ: nam xem Thái Dương, nữ xem Thái Âm
Nhật Nguyệt vốn phân nam nữ nên nam xem Thái Dương, nữ xem Thái Âm.
- Nam mệnh: xem Thái Dương tọa cung nào, nếu thiên can cung ấy hóa Lộc vào Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch thì chắc chắn có mệnh ông chủ, tuyệt không dựa dẫm vào người khác. Nếu hóa Lộc vào Điền Trạch, Tử Tức thì sẽ làm kinh doanh nhưng chưa chắc là người phụ trách, có thể chỉ là cổ đông, vì nhập Điền, Tử thì ít nghiêm trọng. Nếu hóa Quyền vào Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch thì lao lực bôn ba, mệnh ông chủ mà thân người làm thuê. Thái Âm hóa Lộc vào Phu Thê thì sự nghiệp do vợ quản lý. Nếu Thái Âm hóa Lộc vào Phu Thê, hoặc Thiên Di của Phu Thê tức Quan Lộc, Quan Lộc của Phu Thê tức Phúc Đức, Tài Bạch của Phu Thê tức Thiên Di, thì vợ có tài, quản lý sự nghiệp.
- Nữ mệnh: xem Thái Âm cùng cách ấy. Thái Âm hóa Lộc vào Phu Thê: được chồng che chở. Hóa Lộc vào Điền Trạch: có tài khố. Hóa Lộc vào Quan Lộc chiếu Phu Thê: mệnh ông chủ.
- Nam mệnh đại hạn hóa Lộc vào Huynh Đệ, Nô Bộc: làm kinh doanh phải hợp tác với người. Vào Tử Tức, Điền Trạch: có thể tự làm hoặc hợp tác. Vào Phụ Mẫu: làm sự nghiệp văn thư hoặc công chức. Vào Phu Thê chiếu Quan Lộc: có vợ rồi mới làm được ông chủ. Vào Tử Tức chiếu Điền Trạch: có con rồi mới làm được ông chủ. Vào Tật Ách: không có khả năng khởi nghiệp, chỉ đi làm thuê.
- Hóa Lộc năm sinh chuyển Lộc là tính chất ngành nghề của bản mệnh, nhưng hành vận làm nó đổi, nên lấy tính chất sao hóa Lộc của Tài Bạch đại hạn và Mệnh đại hạn mà định ngành nghề có lợi, dùng sinh khắc chế hóa.
Công việc có ổn định không, dọn nhà, giải ách và lương bổng
- Mệnh đại hạn hóa Kỵ vào Quan Lộc đại hạn: công việc cố định, đi làm thuê, mười năm cố định. Hóa Kỵ năm sinh vào Quan Lộc: cả đời làm thuê đến nghỉ hưu. Quan Lộc đại hạn hóa Kỵ vào Mệnh cung: sự nghiệp biến động, năm Kỵ xung thì biến động. Nam nên làm ngành kinh doanh lạnh, nữ thì sau kết hôn lui về làm nội trợ.
- Điền Trạch lưu niên hóa Kỵ vào Phụ Mẫu lưu niên, tức Mệnh đại hạn, mà thiên can Phụ Mẫu lưu niên lại hóa Kỵ vào Thiên Di lưu niên xung Mệnh cung: vì không hợp với cha mẹ mà dọn nhà. Có người nói Điền Trạch hóa Kỵ xung Mệnh là hiện tượng dọn nhà. Nếu Phụ Mẫu hóa Kỵ không vào Mệnh lưu niên thì không dọn nhà, nhưng Điền Trạch biến động, hoặc nơi làm việc, môi trường biến động.
- Giải ách của vận mệnh thì phải biết nhân tìm quả. Như Phu Thê hóa Kỵ xung Mệnh, vợ chồng không hợp, nên biết lý do mới giải được. Truy nhân quả thì trước Lộc sau Kỵ, hoặc trước Kỵ sau Lộc. Mệnh hóa Lộc vào Tài Bạch là có tài vận, mà Tài Bạch hóa Kỵ vào Nô Bộc thì vì bạn bè mà tổn tài. Lộc, Kỵ cùng vào Mệnh thì có tượng muốn biến động mà rốt cuộc không biến động.
- Mệnh cung và Thiên Di đều là mệnh: Mệnh là bản mệnh, Thiên Di là mệnh bôn ba bên ngoài. Phu Thê và Quan Lộc đều là vợ: Phu Thê là vợ trong nhà, Quan Lộc là vợ bên ngoài. Tài Bạch và Phúc Đức đều là tài: Tài Bạch là tài chính, Phúc Đức là tài hưởng thụ, chi tiêu bên ngoài.
- Hỏi lương mỗi tháng bao nhiêu: lấy Điền Trạch của Tài Bạch lưu niên, tức Huynh Đệ, xem hóa Lộc rơi vào cung can chi nào mà biết. Hóa Kỵ xung Điền Trạch của Tài Bạch: kinh doanh có tổn tài. Điền Trạch của Quan Lộc là Tật Ách, nên tốt xấu ở Tật Ách cho biết tình trạng sự nghiệp.
- Tài Bạch hóa Lộc vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách: kiếm tiền nhiều. Nhưng Tài Bạch hóa Kỵ vào Phúc Đức tự xung: vừa kiếm vừa tổn, kết quả kiếm nhiều tổn ít. Nếu Tài Bạch hóa Lộc vào Phúc Đức tự chiếu mà lại hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách: kiếm ít tổn nhiều.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
