Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Kỵ năm sinh là món nợ và tháng ứng nghiệm theo đẩu quân

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh04/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Kỵ năm sinh là món nợ và tháng ứng nghiệm theo đẩu quân

Người đàn ông hỏi về tiền bạc, nghề nghiệp và một chuyến đi, và câu trả lời nằm ở tháng nào Kỵ của năm rơi xuống. Trước tháng ấy chưa thể luận điều gì, còn sau tháng ấy…


Một nam mệnh sinh năm 1939: tiền, nghề và chuyến đi tháng Giêng

Người nam này sinh năm Kỷ Mão 1939, lúc xem là năm Nhâm Tuất, 44 tuổi. Ba câu hỏi đặt ra là tiền bạc, sự nghiệp và việc ra ngoài, và cả ba đều được trả lời bằng cách xem Kỵ của năm rơi vào tháng nào.

Tiền tài: chờ qua tháng 10

Tài Bạch lưu niên mang can Canh, Thiên Đồng hóa Kỵ rơi vào Ất Hợi. Ất Hợi lại là Tài Bạch của lưu nguyệt tháng 10 Đinh Mão, vì đẩu quân khởi từ Canh Ngọ. Cho nên phải qua tháng 10 thì tài mới thấy tốt. Lúc đang hỏi là tháng 6, lưu nguyệt Ất Hợi đang bị Kỵ nhập, nên tiền bạc tháng này không thuận. Còn Thái Dương mang can Canh hóa Lộc nhập Đinh Sửu, Đinh Sửu là Tử Tức lưu nguyệt tháng 11 Mậu Thìn chiếu Điền Trạch, tài sẽ tốt lên.

Sự nghiệp: chờ qua tháng 4

Mệnh lưu niên là Giáp Tuất, Thái Dương hóa Kỵ nhập Đinh Sửu. Đinh Sửu là Quan Lộc của Quý Dậu. Đẩu quân chuyển từ Canh Ngọ sang Quý Dậu là tháng 4, nên phải từ tháng 5 trở đi sự nghiệp mới dần thuận, còn trước tháng 4 chắc chắn không tốt. Người đưa lá số cho biết đúng như vậy: trước tháng 4 quả thật bất lợi, tiền bạc lúc này cũng chưa tốt, nhưng bắt đầu có những cuộc tiếp xúc, đàm phán công việc nên cảm giác đang khá dần. Một lưu ý: nếu quãng trước tháng 4 đã không tốt thì không cần phải xem lại sự nghiệp quãng ấy nữa.

Ra ngoài và việc của người phối ngẫu

Muốn xem đi xa, dùng Quan Lộc lưu niên của Thiên Di, tức Phu Thê lưu niên. Quan Lộc của cung Mậu Thìn là Nhâm Thân, Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Bính Tý, là Thiên Di của bản mệnh, xung đẩu quân tháng Giêng Canh Ngọ: tháng Giêng có việc. Trong thực tế, mùng 2 tháng Giêng đã gặp tai nạn xe.

Với việc của người phối ngẫu, dùng Hóa Kỵ của Phu Thê lưu niên. Nếu Hóa Lộc của nó nhập Thiên Di chiếu Mệnh thì đó là đào hoa. Nếu Kỵ nhập Thiên Di bản mệnh xung Mệnh cung của người vợ thì chuyến ra ngoài của bà gặp vấn đề. Nhâm Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Bính Tý, mà Bính Tý là Tử Tức đại hạn của đại hạn Đinh Mão, xung Điền Trạch nên khi hành tới tháng 4 chắc chắn có việc.

Về đào hoa: Tử Tức lưu niên mang can Tân, Cự Môn hóa Lộc nhập Tử Tức bản mệnh, vì thế có con cái và năm nay có đào hoa. Nhưng Tử Tức bản mệnh can Đinh, Cự Môn tự hóa Kỵ, nên dẫu có đào hoa, bản thân người ấy không muốn.

Đoán giới tính của các con

  • Tử Tức bản mệnh là vị trí của con trai đầu. Đinh Cự Môn tự hóa Kỵ: không có con trai. Đinh Thái Âm hóa Lộc nhập Tật Ách chiếu Phụ Mẫu, nên biết con đầu là gái. Nếu là Thái Dương hóa Lộc thì vẫn là con trai.
  • Con thứ hai xem Tài Bạch can Bính: Thiên Đồng hóa Lộc là sao nam, chủ con trai.
  • Con thứ ba xem Tật Ách can Đinh: Thái Âm hóa Lộc (tự hóa), Cự Môn hóa Kỵ nhập Tử Tức, nên sinh con gái.

Những đại hạn chưa gặp được vị trí Kỵ

Đại hạn Đinh Mão có Cự Môn tự hóa Kỵ, cung Kỵ là Quan Lộc lưu niên. Qua được Kỵ thì mới dần tốt, nhưng trong cả đại hạn này không lưu niên nào đi tới vị trí ấy, nên cả đại hạn không tốt. Đại hạn 45 đến 54 tuổi Bính Dần có Liêm Trinh hóa Kỵ tự xung, trước khi qua Kỵ thì vẫn trồi sụt, phải đến lưu niên Mậu Thìn mới là Quan Lộc. Mệnh này là trước Lộc sau Kỵ nên đoạn trước còn khá hơn. Đại hạn 25 đến 34 tuổi Mậu Thìn, Thiên Cơ hóa Kỵ ở Đinh Mão, cũng không gặp Quan Lộc lưu niên. Về sau khi đoán mệnh không cần chú ý đến lục cường cung.

Công thức tìm tháng ứng nghiệm

Mỗi câu hỏi mở ra một cung riêng, nhưng cách tìm tháng lúc nào cũng cùng một lối: xem Kỵ của năm rơi vào cung nào, rồi coi cung ấy như cung của một tháng.

  • Hỏi sự nghiệp: cung nhận Hóa Kỵ từ thiên can Mệnh lưu niên là Quan Lộc của một lưu nguyệt. Trước tháng đó không tốt, qua tháng đó rồi mới luận thuận hay nghịch.
  • Hỏi tài bạch: cung nhận Hóa Kỵ từ Tài Bạch lưu niên là Tài Bạch của một lưu nguyệt. Trước tháng ấy tiền không thuận, qua rồi mới luận tốt xấu.
  • Hỏi con cái: cung nhận Hóa Kỵ từ Tử Tức lưu niên là Tử Tức của một lưu nguyệt, tháng sau đó thấy tốt.
  • Hỏi đi xa: cung nhận Hóa Kỵ từ Thiên Di lưu niên là Quan Lộc của Thiên Di lưu nguyệt, tháng đó ra ngoài bất lợi.
  • Hỏi vợ chồng: Phu Thê bản mệnh phi Kỵ nhập Phu Thê lưu niên thì năm ấy người phối ngẫu có việc. Phu Thê lưu niên phi Kỵ nhập Thiên Di bản mệnh thì người phối ngẫu ra ngoài sinh chuyện, và tháng đoán ra từ cung đẩu quân bị xung. Kỵ rơi vào Thiên Di là tai họa bất ngờ.

Thêm vài kết luận đi theo: Tử Tức lưu niên phi Lộc nhập Tử Tức bản mệnh là đã có con và có đào hoa, nhưng Tử Tức tự hóa Kỵ thì kiềm chế. Phu Thê phi Quyền nhập Mệnh dễ có chuyện lên xe trước rồi mới cưới. Tật Ách tự hóa Lộc thì nhiệt tình, sôi nổi, tự nguyện, một lòng một dạ. Kiếp là tận cùng, số là thời gian. Tật Ách và Phu Thê là hai cung chủ chuyện nam nữ, còn Tử Tức chủ đào hoa. Điền Trạch xem thị phi bằng cách nhìn Điền Trạch của Quan Lộc, tức Tật Ách: nếu tự hóa Kỵ thì chắc chắn có thị phi. Việc gì cũng lấy Quan Lộc của cung sự việc làm cung để xem.

Kỵ năm sinh là một món nợ

Hóa Kỵ năm sinh mang ý thiếu nợ, nợ từ đời trước, nên Kỵ năm sinh được coi là Kỵ tốt. Mỗi cung nhận Kỵ cho biết món nợ ấy được trả ở đâu, và Kỵ này khác hẳn Kỵ phi từ thiên can cung, vốn là Kỵ không tốt.

  • Kỵ nhập Mệnh: nợ chính mình, phải tự lực phấn đấu.
  • Kỵ nhập Thiên Di: nợ bên ngoài, ở ngoài không có quý nhân.
  • Kỵ nhập Phụ Mẫu: nợ cha mẹ, nên hiếu thuận với cha mẹ.
  • Kỵ nhập Tật Ách: nợ thân thể, nên sức khỏe không tốt.
  • Kỵ nhập Tử Tức: nợ con, nên yêu thương con.
  • Kỵ nhập Điền Trạch: nợ nhà cửa, tự mua nhà, kiếm tiền thì dồn vào nhà.
  • Kỵ nhập Phu Thê hoặc xung Phu Thê: muộn hôn, nhưng rất thương yêu người phối ngẫu, nên dễ đa nghi, ghen tuông. Với nam mệnh, thương vợ, yêu vợ mà không nhiệt tình với sự nghiệp.
  • Kỵ nhập Quan Lộc xung Phu Thê: muộn hôn, nhưng sau hôn nhân đối xử với chồng tốt. Cũng là thiếu nợ Quan Lộc nên không thể tự lập nghiệp kinh doanh, hợp đi làm cố định hoặc nghề kỹ thuật.
  • Kỵ nhập Điền Trạch xung Tử Tức: muộn có con, nhưng có rồi thì đối xử với con tốt.

Cũng có những dấu hiệu đi kèm. Điền Trạch tự hóa Kỵ xung Điền Trạch thì có nhà cũng như không có. Can cung Điền Trạch phi Kỵ nhập Điền Trạch đại hạn hay lưu niên là có tiền thì đều dùng vào nhà cửa. Hóa Lộc năm sinh chủ phúc ấm, của đời trước hay kiếp trước.

  • Hóa Khoa năm sinh nhập Phu Thê: bạc đầu giai lão, nhưng bản thân thỉnh thoảng có chuyện ăn vụng. Phu Thê phi Khoa nhập Mệnh: bạc đầu giai lão, song người phối ngẫu thỉnh thoảng ăn vụng. Phu Thê phi Quyền nhập Mệnh: lên xe trước rồi cưới sau, vì Quyền mang nghĩa xâm chiếm.
  • Văn Xương hóa Khoa nhập Nô Bộc: thời đi học bạn bè phần nhiều là người học hành, về sau bạn bè cũng phần lớn có văn hóa và không có quan hệ lợi hại với ta.
  • Hóa Quyền ở Huynh Đệ: anh em giỏi hơn ta. Xung Nô Bộc: bạn bè đều mạnh hơn ta, không dính tới xâm chiếm. Khái niệm xâm chiếm chỉ dùng ở hai cung Phu Thê và Tật Ách, tức chuyện vợ chồng, nam nữ.
  • Tử Tức liên quan đời sống tình dục. Tử Tức phi Lộc nhập Phu Thê là ta có ngoại tình.

Việc thân thể đọc qua Quan Lộc của Tật Ách

Muốn xem thân thể thì nhìn Quan Lộc của Tật Ách. Với lưu niên Quý Tỵ, Quan Lộc của Tật Ách là Đinh Dậu, Cự Môn hóa Kỵ nhập Canh Tý, lưu niên của Phúc Đức, đương nhiên liên quan tới thân thể và bệnh tim (Cự Môn thuộc Thủy, hóa Kỵ của Thận Thủy khắc Hỏa ẩn). Có người đoán là dạ dày ruột không tốt, chủ năm nay có việc. Nếu hỏi bệnh thì nên lấy năm phát bệnh để đoán.

  • Quan Lộc của Tật Ách bản mệnh là Canh Dần, ứng với Giáp Ngọ, Thái Dương hóa Kỵ nhập đại hạn 34 đến 43 tuổi. Thái Dương thuộc Hỏa, chủ tim, tọa Kỵ thì nhẹ vì ở Phúc Đức của Tật Ách, xung Tài Bạch của Tật Ách: tiêu tiền thì không sao, và không liên quan đến thọ nguyên.
  • Quan Lộc của Tài Bạch cho biết cách dùng tiền. Quan Lộc của Tài Bạch can Tân Mão là Ất Mùi, Thái Âm hóa Kỵ nhập Điền Trạch Mậu Tuất: chưa kiếm ra tiền ở đại hạn 14 đến 23, vẫn đang tiêu, và sau này chắc chắn sẽ mua nhà.
  • Quan Lộc của Phu Thê, tức Phúc Đức, nói về sự nghiệp của chồng. Với Quý Tỵ, Quan Lộc của Phu Thê là Đinh Dậu, Cự Môn hóa Kỵ nhập Nô Bộc Canh Tý: giao bạn trai không giữ được, vì Kỵ nhập Nô Bộc thì đào hoa không giữ nổi.
  • Quan Lộc của Nô Bộc là Tử Tức của ta. Tử Tức Nhâm Thìn, Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Tài Bạch Tân Mão: bạn bè giao thiệp phần nhiều làm tổn tài của ta.

Một nữ mệnh sinh năm Kỷ Dậu

Người nữ này sinh năm 1959 Kỷ Dậu, lúc xem là lưu niên Nhâm Tuất, 24 tuổi.

  • Lưu niên can Giáp, Thái Dương hóa Kỵ nhập Quan Lộc lưu niên rồi xung đẩu quân: năm nay vận không tốt. Kỵ ấy lại ngồi ở Quan Lộc của lưu nguyệt tháng 3, và ở Điền Trạch của tháng 4, nên sau tháng 4 mới luận tốt xấu.
  • Tài Bạch lưu niên can Canh, Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Tài Bạch bản mệnh. Cung nhận Kỵ ấy vừa đúng là Tài Bạch của lưu nguyệt tháng 9 Mậu Thìn. Sau tháng 9 mới luận được tiền tốt xấu, hiện tại tiền chưa thuận.
  • Hôn nhân: Phu Thê lưu niên can Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc nhập Thiên Di lưu niên chiếu Mệnh lưu niên: năm nay có bạn khác giới, vì Lộc nhập bản mệnh. Quan Lộc của Phu Thê là Bính Tý, Thiên Đồng tự hóa Lộc. Phu Thê lưu niên Nhâm, Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Điền Trạch lưu niên: Phu Thê tức đối phương bị ta kiềm chế, nên năm nay sẽ kết hôn.
  • Quan Lộc của Phu Thê can Canh Ngọ, Thiên Đồng hóa Kỵ ở Bính Tý rồi tự xung chính nó, nên nếu qua lưu niên 26 tuổi (cung Bính Tý) rồi mới kết hôn thì tốt hơn. Chú ý Bính có hai cung, Bính Tý và Bính Dần. Phu Thê tiên thiên mang can Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ ở Quý Dậu, xung Phu Thê lưu niên 29 tuổi Đinh Mão nên trước 29 tuổi quan hệ vợ chồng có thể không tốt.
  • Tử Vi của người nữ này rơi vào Phụ Mẫu: người trọng lợi, mắt cao hơn đầu. Tử Vi nhập Nô Bộc thì lao lực mà giỏi nịnh người. Tử Vi nhập cung lục thân là cung nhàn, không có sức mạnh. Tử Vi là sao quý của Quan Lộc nên nhập Quan Lộc là tốt nhất.
  • Mệnh cung Mậu Thìn có Thiên Lương nhập Mệnh, mà Mậu Thiên Cơ tự hóa Kỵ: không có duyên với cha mẹ, tài cao khó hòa hợp.
  • Quan Lộc của Điền Trạch là Ất Hợi, Thiên Cơ hóa Lộc nhập Mệnh: cha mẹ có sản nghiệp, nhưng Ất Thái Âm hóa Kỵ xung Phúc Đức nên không có phúc được che ấm từ tổ tiên, và cuối cùng sẽ tự mua sản nghiệp. Quan Lộc của Điền Trạch Thiên Cơ hóa Lộc nhập Mệnh cũng cho thấy vẫn sống cùng cha mẹ, có thể hiểu là đại hạn 3 đến 12 tuổi hoặc lưu niên 24 tuổi hiện nay. Ất Thái Âm hóa Kỵ xung Phúc Đức lưu niên, xung vào Phúc Đức bản mệnh: ông bà nội ngoại đã có người qua đời. Phúc Đức là đại hạn 23 đến 32.

Biến động nghề nghiệp và tai nạn đi lại

Xem sự nghiệp có biến động hay không, lấy Quan Lộc của Thiên Di của Quan Lộc lưu niên, tức Quan Lộc của Phu Thê lưu niên, cũng là Phúc Đức lưu niên. Ở lá số này là Bính Tý, Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Quý Dậu xung Đinh Mão, lưu nguyệt tháng 8. Kỵ nhập Quý Dậu, cung được coi là vị trí biến động của Điền Trạch, nên sẽ có biến động. Theo tháng lệnh thì tháng 8 biến động, nhưng tháng 5 Bính Tý cũng có thể biến động vì đó là cung phát ra Hóa. Liêm Trinh hóa Kỵ xung Phụ Mẫu của Quan Lộc, nên kết quả của biến động không tốt.

Hóa Kỵ xung tứ chính vị của cung chủ hóa tức là biến động. Hóa Kỵ nhập Mệnh thì cố định, không nên đổi. Xung Quan Lộc cũng là không thích đổi. Nếu cung chủ hóa Bính Tý phi Kỵ nhập Mệnh lưu niên Giáp Tuất hoặc Quan Lộc lưu niên Bính Dần thì là cố định, không biến động. Thiên Di của Quan Lộc lưu niên chính là vấn đề đi ra ngoài.

Thiên Di của Quan Lộc lưu niên Bính Dần mang can Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc nhập Thiên Di lưu niên Mậu Thìn nên có biến động, mà Nhâm Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Điền Trạch lưu niên nên đã có tượng không biến không được. Nếu hỏi tai nạn xe, tức vấn đề đi ra ngoài, thì dùng Hóa Kỵ của Quan Lộc của Thiên Di lưu niên rơi vào hoặc xung tháng lệnh nào thì phải đặc biệt cẩn thận ở tháng đó.

Nhâm Vũ Khúc hóa Kỵ ở Phu Thê lưu niên là sao quả tú, bất lợi cho vợ chồng. Mậu Thiên Cơ tự hóa Kỵ là Phúc Đức của Thái Dương, tức cha, nên không có phúc ấm của cha mà có phúc ấm của mẹ.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh