Bài tổng quan
Hai cung cùng hóa Kỵ vào một cung: lẽ “vì… mà…”
Có khi hai cung cùng hóa Kỵ vào một chỗ là món nợ chồng món nợ, có khi đó lại là chiếc phanh giữ cho tiền khỏi trôi đi. Chỉ cần biết cung nào làm nguyên nhân, cung nào làm kết quả, câu vì vợ mà được tiền và câu vì vợ mà mất tiền sẽ hiện ra rất khác nhau. Còn khi hai chữ Lộc cùng chảy về một nơi thì đáng mừng hay đáng ngại…
Mục lục · 6 phần
- 01Hai cung cách hai ô cùng hóa Kỵ vào một cung
- 02Phanh của đường thẳng đối cung: chỉ đúng khi hai cung cùng can
- 03Khi Song Kỵ nhập vào mà không thành đường thẳng
- 04Điền Trạch và Phụ Mẫu cùng hóa Kỵ vào Nô Bộc
- 05Kỵ nhập mà cung lại tự hóa Lộc: thấy Lộc chưa chắc cát
- 06Vô duyên phối ngẫu và lẽ cảm ứng âm dương
Hai cung cách hai ô cùng hóa Kỵ vào một cung
Với số dương, hai cung gặp nhau cách hai ô thì Tứ Hóa của chúng tạo thành một đường thẳng nối hai cung đối nhau. Ví dụ Mệnh cung hóa Kỵ nhập Quan Lộc, Phu Thê cũng hóa Kỵ nhập Quan Lộc. Cách hóa này, trong mười hai loại Kỵ của Tứ Hóa phi tinh, không được xếp thành một tên gọi riêng. Cách giải thích của nó giống văn pháp “vì… mà…”.
Vì vợ mà được tài, vì vợ mà phá tài
Phu Thê hóa Kỵ nhập Phúc Đức, Tài Bạch cũng hóa Kỵ nhập Phúc Đức: Phúc Đức và Tài Bạch thành đường thẳng đối cung. Cách này đọc là “vì phối ngẫu mà được tài”. Lúc ấy chữ Kỵ coi như mang ý trợ giúp; tuy không chủ đại cát nhưng vẫn là một mặt cát. Hiểu đơn giản: lấy vợ hay lấy chồng rồi sau đó mới kiếm được tiền.
Khác hẳn nếu Phu Thê hóa Kỵ nhập Điền Trạch, Tài Bạch cũng hóa Kỵ nhập Điền Trạch rồi cả hai xung sang Tử Tức. Lúc này Kỵ chủ hung, nghĩa là vì vợ mà phá tài. Hai cung phát ra cách nhau hai vị trí, theo ý “vì… mà…”: vì cung bên này ra sao mà cung bên kia ra vậy, và ý tượng được kích hoạt từ cung bên phải. Cũng vì thế, nếu Tài Bạch hóa Kỵ nhập Điền Trạch thì là vì phối ngẫu mà tổn tài. Đó là Kỵ biến vào một cung vị khác chứ không còn là hai cung phát ra ban đầu là Phu Thê và Tài Bạch chuyển cho nhau, nên mới chủ hung.
Cách đọc bằng A, C, G, I
Có thể đặt hai cung phát ra là A và C. Đối cung của A là G, đối cung của C là I. Nếu A và C cùng hóa Kỵ đến G thì ý là “vì C mà A”; nếu cùng đến I thì ý là “vì A mà C”. Chữ “vì” lấy bên không thành đường thẳng làm nguyên nhân, còn bên thành đường thẳng là quả. Nếu cả hai cung phát ra đều không thành đường thẳng thì Song Kỵ nhập hoặc xung vào cung nào, cung đó sẽ có hiện tượng mất. Đó là cách hóa tương đối tốt; nếu A hóa đến C rồi C lại hóa đến E thì khác nhau rất xa.
- Phúc Đức hóa Lộc nhập Thiên Di, Mệnh cung cũng hóa Lộc nhập Thiên Di: “vì Phúc Đức mà được tài hoặc nhân duyên”, gọi là tạo hóa của con người.
- Quan Lộc hóa Kỵ nhập Tài Bạch, Phúc Đức cũng hóa Kỵ nhập Tài Bạch: “vì sự nghiệp có thu nhập mà hưởng phúc”. Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ ở góc độ này đều không có mặt xấu, vì nó biểu thị ý kiềm chế: muốn hưởng thụ thì phải nỗ lực làm việc.
- Phu Thê hóa Lộc nhập Phúc Đức, Tài Bạch cũng hóa Lộc nhập Phúc Đức: vợ chồng đều biết kiếm tiền, cũng biết tiêu tiền. Khi chưa kết hôn, Tài Bạch hóa Lộc nhập Phúc Đức chủ có tiền hưởng thụ, còn hóa Kỵ thì dùng tiền sai chỗ, lãng phí. Sau kết hôn, Kỵ ấy biến thành lực trợ giúp, còn Lộc nghĩa là kiếm được tiền thì mọi người cùng tiêu.
Các cung vị nói trên phải là Dần và Tý cùng can, hoặc Mão và Sửu cùng can; các trường hợp còn lại không có khả năng này.
Phanh của đường thẳng đối cung: chỉ đúng khi hai cung cùng can
Chiếc phanh chỉ có tác dụng khi hai bên cùng đẩy về một hướng; chỉ cần lệch một chút, nó thành chiếc xe không còn ai giữ.
Cần để ý hai cung hóa phải tạo thành đường thẳng đối cung mới sinh tác dụng kiềm chế. Nếu cấu thành góc độ kiềm chế, hóa Lộc là chủ cùng có, cùng hưởng; không có tiền thì đi kiếm là có, kiếm được thì mọi người dùng chung. Với Kỵ thì nó kiềm chế mặt hung, chuyển hung thành cát, khiến Kỵ không còn tác dụng xấu.
Chẳng hạn Tài Bạch hóa Kỵ nhập Phúc Đức vốn là tiết Kỵ ra ngoài, mà Kỵ xuất thì bất lợi. Nhưng nếu Phu Thê cũng hóa Kỵ nhập Phúc Đức thì sinh ra tác dụng kiềm chế và chuyển thành cát lợi. Nếu hóa Lộc thì là có kiếm có tiêu chung. Lộc Quyền, Lộc Khoa đều chủ kiếm tiền. Góc độ kiềm chế này, nếu cấu thành bằng tam hợp thì tốt nhất; khi ấy dù là Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ đều chủ cát.
Phúc Đức tọa Kỵ năm sinh thì sao
Nếu Phúc Đức tọa Kỵ năm sinh thì cung Tài Bạch lại càng cát lợi, vì đó là Nghịch Thủy Kỵ của Tài Bạch. Công thức: hai cung A, C hóa Kỵ vào G mà G có Kỵ năm sinh thì là Nghịch Thủy Kỵ của A, cung A cát lợi; cũng vậy, A, C hóa Kỵ vào cung I thì là Nghịch Thủy Kỵ của C, cung C cát lợi.
Còn nếu Phu Thê hóa Kỵ nhập Mệnh, Thiên Di cũng hóa Kỵ nhập Mệnh, thì đó không phải cách nhảy hai ô của A và C nên không dùng lẽ kiềm chế phản cát. Góc độ “vì… mà…” bắt buộc phải là hai cung cùng can.
Khi Song Kỵ nhập vào mà không thành đường thẳng
Với Mệnh cung có Song Kỵ nhập, dù thế nào Kỵ nhập tổng cộng vẫn là không tốt, vẫn có tổn; Lộc nhập là thu lợi. Nếu Thiên Di có Nghịch Thủy Kỵ rồi Phu Thê lại hóa Kỵ nhập Mệnh thì phải tách ra: Nghịch Thủy Kỵ của Thiên Di chủ nhiều dịch mã, đó là cách của Thiên Di; còn Phu Thê hóa Kỵ nhập Mệnh là chuyện khác. Trong chuyện sau, Phu Thê không được tự hóa Lộc; nếu Phu Thê hóa Lộc nhập Mệnh thì Phu Thê không được tự hóa Kỵ, nếu không hôn nhân chắc chắn biến đổi.
Ghi nhớ: cung nào hóa Lộc nhập 1, 5, 9, 10 thì cung đó không được tự hóa Kỵ, nếu không thì cung đó có họa. Cung nào hóa Kỵ nhập 1, 5, 9, 10 thì cung đó không được tự hóa Lộc, nếu không cũng có họa.
Biến Kỵ và Song Lộc nhập chung một cung
Dần cung hóa Kỵ nhập Sửu, Tý cung cũng hóa Kỵ nhập Sửu thì gọi là biến Kỵ; Lộc nhập thì gọi là nhập Song Lộc. Song Kỵ và Song Lộc đều không phải hiện tượng tốt. Nếu Dần là Mệnh cung đại hạn, Tý là Phu Thê đại hạn, cả hai cùng hóa Kỵ nhập cung Huynh Đệ ở Sửu, thì có tượng phá. Song Lộc nhập Huynh Đệ cũng là tượng phá, vì vợ chồng đều đào hoa nặng nên cũng chủ hung. Còn nếu hai cung cách hai ô mà can khác nhau, như Đinh và Kỷ, rồi hóa Kỵ thành hai sao đồng cung, thì không hợp lẽ kiềm chế “vì… mà…”; mỗi sao có ý nghĩa hóa Kỵ riêng, và gặp vị trí 6, 4 thì lấy cách 6, 4 làm chuẩn.
Nô Bộc và Điền Trạch cùng hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu rồi xung Tật Ách là “vì bạn mà tổn tài”.
Nhâm Vũ Khúc và Quý Tham Lang cùng hóa Kỵ vào Mùi
Có người hỏi: Nhâm Tý và Nhâm Dần có Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Mùi, Quý Sửu và Quý Mão có Tham Lang hóa Kỵ cũng nhập Mùi, vậy thế nào? Với Vũ Khúc can Nhâm, Kỵ đối với Mệnh cung hay Phu Thê đều không thành đường thẳng, mà xung vào Huynh Đệ, nên Huynh Đệ chắc chắn không tốt, còn Mệnh và Phu Thê đều nợ bạn bè vì Kỵ nhập Nô Bộc. Với Tham Lang can Quý, Kỵ lại thành đường thẳng đối cung với Huynh Đệ, nên Phụ Mẫu có tác dụng kiềm chế. Ý lúc ấy là “tôi nợ bạn bè”; nếu bạn muốn vay tiền thì có thể đẩy sang cha mẹ, nhờ sự kiềm chế của cha mẹ mà tránh được tổn tài.
Nguyên lý đơn giản nhất: Kỵ nhập vị trí 9 là cất giữ; Phụ Mẫu là 1, Nô Bộc là 9, nên Phụ Mẫu kiềm chế sao Kỵ để biến hung thành cát. Nếu không thì dù bạn vay tôi hay vay phối ngẫu của tôi, với tôi đều là tổn thất.
Mệnh và Tài Bạch cùng hóa Kỵ vào Quan Lộc
Mệnh cung hóa Kỵ nhập Quan Lộc và Tài Bạch hóa Kỵ nhập Quan Lộc là hai chuyện khác nhau. Mệnh hóa Kỵ nhập Quan Lộc chủ vấn đề sự nghiệp, và đi làm thì tốt hơn. Tài Bạch hóa Kỵ nhập Quan Lộc là đầu tư làm ăn. Nếu Song Kỵ xung Phu Thê thì khi luận tài và quan, Kỵ này không hung; khi luận lục thân thì Kỵ này thành lực mạnh; còn khi luận nguyên lý đối đãi tình cảm của vợ chồng thì Kỵ này quan trọng, vì cung đối xử là Tài Bạch cùng Mệnh đều có Kỵ xung Phu Thê.
Sửu hoặc Mão bay Kỵ ra, nếu nhập Mùi hoặc Dậu thì không liên quan. Nhưng nếu nhập một cung khác thì cung bị Song Kỵ xung chắc chắn không tốt, thành “vì… mà tổn…”, trong đó cung ở trước, tức Mão, làm trung gian. Nếu Song Kỵ nhập Điền Trạch thì là vì Mão mà tổn tài; nếu Song Kỵ nhập Tài thì chắc chắn tổn tài. Nếu Song Kỵ đến từ Mệnh và Phu Thê và nhập Điền Trạch thì vợ chồng đều nợ Điền Trạch, tức chủ tiêu dùng vào nhà đất. Nếu Song Kỵ không nhập Điền Trạch mà nhập cung khác, tức không nhập 1, 5, 9, 10, thì chủ tổn thất.
Điền Trạch và Phụ Mẫu cùng hóa Kỵ vào Nô Bộc
Có những khoản nợ không nằm ở người ngoài mà ở chính họ hàng ruột thịt, và lá số chỉ ra điều đó bằng hai chữ Kỵ cùng chỉ vào một cung.
Một lá số: Điền Trạch can Đinh có Cự Môn hóa Kỵ nhập Nô Bộc, Phụ Mẫu can Đinh có Cự Môn hóa Kỵ nhập Nô Bộc, rồi xung sang Huynh Đệ. Huynh Đệ là Phu Thê của Phụ Mẫu, mà Điền Trạch lại hóa Kỵ xung Huynh Đệ nên Huynh Đệ ít, hoặc đó là vấn đề gia vận. Điền Trạch là kho, Nô Bộc nhận Song Kỵ nên là tượng tổn tài. Tài tổn ở Huynh Đệ và thân thích nhiều, tổn ở bạn bè ít: đó là cách nợ anh em họ hàng. Song Kỵ ở Nô Bộc là điều tổn thất với tôi; anh em dựa vào tôi nhiều, giúp tôi ít, nên loại lá số này không thể dựa vào anh em mà là anh em dựa vào tôi.
Có người hỏi Điền Trạch tự hóa Lộc, Phụ Mẫu tự hóa Khoa mà Huynh Đệ, Nô Bộc không tự hóa thì sao. Điền Trạch hóa Kỵ nhập Nô Bộc mà Điền Trạch lại tự hóa Lộc thì với Điền Trạch là tổn và hung: Kỵ nhập mà cung gốc, cách hai ô, tự hóa Lộc thì cung có Lộc phải tổn. Phụ Mẫu tự hóa Khoa lùi hai ô nhập Huynh Đệ, vị trí của mẹ, tức mẹ cũng phải tiêu dùng. Nếu không tổn tài thì cũng tổn Phụ Mẫu.
Nếu Nô Bộc có Song Kỵ nhưng Quyền của Nô Bộc nhập chiếu tam hợp của tôi, thì bạn bè giúp tôi, nhưng Song Kỵ ở Nô Bộc là tôi phải bỏ ra, như làm ăn phải chiêu đãi rồi mới kiếm tiền, cách tài có vào có ra. Nếu lúc ấy Nô Bộc lại tự hóa Kỵ thì là có ra mà không vào, tượng hung.
Kỵ nhập mà cung lại tự hóa Lộc: thấy Lộc chưa chắc cát
Năm nay lưu niên Mệnh ở Hợi, lưu niên Phu Thê ở Dậu. Nếu Phu Thê lưu niên hóa Kỵ nhập Mệnh lưu niên mà Phu Thê lưu niên lại tự hóa Lộc thì là Lộc xuất, chủ tổn; chính là trường hợp lá số có Điền Trạch tự hóa Lộc mà hóa Kỵ nhập Nô Bộc. Quan Lộc lưu niên hóa Kỵ nhập Thiên Di lưu niên mà Quan Lộc lại tự hóa Lộc thì năm nay tuy vì sự nghiệp mà bôn ba bên ngoài, vẫn không kiếm được bao nhiêu tiền.
Với hai cung A và C cách hai ô, cả bốn kiểu sau đều chủ tổn thất: A hóa Kỵ nhập C mà A tự hóa Lộc; C hóa Kỵ nhập A mà C tự hóa Lộc; A hóa Lộc nhập C mà A tự hóa Kỵ; C hóa Lộc nhập A mà C tự hóa Kỵ. Cung tổn thất là cung tự hóa. Từ đây biết thấy Lộc không chắc cát lợi, thấy Kỵ không chắc chủ hung. Tài Bạch tự hóa Lộc là Lộc xuất, lại hóa Kỵ nhập Phu Thê thì tiền tài chắc chắn thấu chi, người làm ăn càng bất lợi.
Một năm tiêu ra mà không kiếm vào
Lưu niên Mệnh cung hóa Kỵ nhập lưu niên Phúc Đức mà Mệnh lưu niên lại tự hóa Lộc: trước hết phải xem có hợp cách dùng 6, 4 hay không. Nếu không thì là vui chơi lạc thiên; làm việc năm nay một việc cũng không thành, tức năm nay chỉ có tiêu ra mà không có kiếm vào. Mệnh lưu niên hóa Kỵ nhập Phúc Đức xung Tài Bạch lưu niên thì năm nay đương nhiên không thu hoạch, và Mệnh lại tự hóa Lộc thì cũng như thế. Lộc nhập mà Kỵ xuất, hoặc Kỵ nhập mà Lộc xuất, đều giống nhau, chủ một việc không thành.
Có người hỏi nếu bản mệnh có hiện tượng này thì có phải cả đời một việc không thành. Câu đáp là không. Vận người đang đi, không thể cả đời như vậy, nếu không thì lấy gì mà sống.
- Phụ Mẫu tự hóa Lộc mà Phụ Mẫu hóa Kỵ nhập Huynh Đệ: anh em ít ở cùng nhau, phải chú ý cổ đông không hợp.
- Điền Trạch bản mệnh hóa Kỵ nhập Mệnh cung đại hạn mà Điền Trạch lại tự hóa Lộc: chủ dịch mã. Nếu Tài Bạch bản mệnh hóa Kỵ nhập Mệnh mà Tài Bạch lại tự hóa Lộc thì chủ tài xuất, nhưng với Điền Trạch thì đa phần chủ dịch mã.
- Điền Trạch hóa Lộc nhập Mệnh mà Tử Tức cũng hóa Kỵ nhập Mệnh: không gọi là dịch mã, muốn ra ngoài đi lại cũng không được, tức ra ngoài bất lợi.
Vô duyên phối ngẫu và lẽ cảm ứng âm dương
Phu Thê hóa Kỵ nhập Mệnh, Quan Lộc cũng hóa Kỵ nhập Mệnh thì vô duyên với chồng hoặc vợ, chủ mệnh không có phối ngẫu. Khi hai cung đối thành đường thẳng và cả hai đầu hóa Kỵ về một cung khác, Song Kỵ đồng cung, chắc chắn tổn. Dù Lộc nhập hay Kỵ nhập, cuối cùng cũng rỗng không.
Nếu hai cung đối hai bên đều tự hóa thì không sao. Ví dụ Phu Thê tự hóa Kỵ, Kỵ xuất, còn Quan Lộc tự hóa Lộc, Lộc xuất: vợ chồng bình an vô sự. Lý này đến từ nguyên lý cảm ứng âm dương, vì bản cung và đối cung chính là âm và dương, như Mệnh và Thiên Di.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
