Bài tổng quan
Mười tám sao chủ phi và cách đọc mệnh cách qua Tứ Hóa
Tử Vi tọa Bính Dần, và chỉ riêng thiên can Bính đã cho thấy một người làm ăn bằng tiền của công, tùy hợp mà không tính toán. Mười tám sao chủ phi mang theo những nghĩa riêng cho từng lần hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, và mỗi nghĩa ấy mở ra một mệnh bàn khác…
Mệnh cách xem sao chủ phi, hành vận xem Tứ Hóa
Xem căn nguyên vận mệnh của một người thì dùng phép mười tám sao chủ phi. Xem chuyện đang diễn ra trong từng chặng đường, tức hành vận, thì dùng Tứ Hóa. Hai việc khác nhau, không lẫn vào nhau.
Mười tám sao được chọn làm sao chủ phi gồm: Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân, Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc và Lộc Tồn. Riêng Tử Vi chiếm Trung cung, đứng một mình.
Nghĩa của Hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ nơi từng sao
Cùng một lần hóa, nhưng sao nào hóa thì nghĩa khác hẳn: Hóa Kỵ của Thiên Cơ là điềm hung, còn Hóa Kỵ của Cự Môn là thị phi đang đến.
Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương
- Tử Vi không có chủ kiến riêng, hội sao nào thì biến hóa theo sao ấy. Tử Vi chủ tai mềm, chỉ khi gặp Tả Phù, Hữu Bật mới hiển quý. Đây là chủ tinh của Quan Lộc, sao đế vương, có công giải ách. Hóa Quyền là năng lực mạnh, có tài. Hóa Khoa là tùy hợp, qua loa.
- Thiên Cơ là hàng ngang vai, người gần gũi như anh em, bạn bè, không dính đến thân nhân ở xa, và là ngôi sao trí tuệ duy nhất. Hóa Lộc là thông minh. Hóa Quyền là có tài. Hóa Khoa là trí tuệ. Hóa Kỵ là điềm hung.
- Thái Dương là chủ tinh của Quan Lộc. Ở nữ mệnh, sao này mang ý đoạt quyền chồng, bất lợi cho cha, chồng, con và cho chính nữ mệnh. Hóa Lộc vẫn là chủ Quan Lộc. Hóa Quyền là cương cường. Hóa Kỵ là điềm hung, hại cha, chồng, con.
Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh
- Vũ Khúc vừa là chính tài tinh, vừa là Quả Tú, nên Kỵ nhập Phu Thê rất đáng ngại. Hóa Lộc là sao tiền tài, để xem có tiền hay không. Hóa Quyền là khởi nghiệp, vì tài tinh mang Quyền, nhưng cũng là điềm tai: cấm nhập Tật Ách vì có tai nạn bất ngờ, kiểu đao kiếm. Hóa Kỵ là cô khắc, nhập cung lục thân đều không hợp, nhập Mệnh thì có thể đi tu hoặc ăn chay.
- Thiên Đồng là sao của phúc và thọ. Hóa Lộc là giải ách, phúc khí, cùng nghĩa với Hóa Khoa, để xem có phúc khí hay không. Hóa Kỵ là tổn phúc, tổn thọ.
- Liêm Trinh là đào hoa, cũng là chủ tinh Quan Lộc. Đây là âm tinh, và Quan Lộc của Liêm Trinh là trạng thái chứ không phải quyền lực, nên không hóa Quyền. Hóa Lộc là đào hoa, Quan Lộc. Hóa Kỵ là thị phi hành chính: phạt đơn, phạt tiền, quan phi.
Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn
- Thiên Phủ là sao của kho lộc. Hóa Lộc là chủ lộc khố. Hóa Quyền là có tài, nắm quyền, bá đạo.
- Thái Âm hóa Lộc cũng là lộc khố. Đây là chủ tinh của Điền Trạch, bất lợi cho mẹ, vợ, con gái. Hóa Quyền là tăng thêm, để xem Điền Trạch có thêm hay không. Hóa Khoa là dư thừa, tức tiền riêng. Hóa Kỵ là không có tài lộc, bất lợi cho mẹ, vợ, con gái.
- Tham Lang vừa là đào hoa, vừa là thọ tinh, vừa là tài tinh. Hóa Lộc mang đủ ba nghĩa ấy. Hóa Quyền là có tài, có thành tựu. Hóa Kỵ là đào hoa tranh chấp.
- Cự Môn chủ khẩu thiệt, thị phi, phiền phức. Hóa Quyền là phiền phức, nhìn xem nó gây rối ở cung nào. Hóa Kỵ là chắc chắn có thị phi tới, thị phi về chuyện người với người, còn quan phi thì thuộc Liêm Trinh, và người ấy hay chen vào việc của kẻ khác.
Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân và các phụ tinh
- Thiên Tướng là ấm tinh, ấn và ấm cùng giải ách. Hóa Khoa là ấm. Hóa Kỵ là giả mạo: giả mạo văn thư, chứng từ, con dấu, hàng giả.
- Thiên Lương là sao của cha mẹ, trưởng bối, thượng cấp. Hóa Lộc là tài và là sự che chở của bậc trên. Hóa Khoa là cha mẹ khỏe mạnh, ở chung hòa thuận. Hóa Kỵ là tổn lục thân, chủ yếu bậc trên chứ không phải hàng ngang vai.
- Thất Sát là tướng tinh, là sát của sát. Hóa Quyền là nắm quyền. Hóa Kỵ là chính sát tinh, mang tính bất ngờ và là sao tử vong.
- Phá Quân chủ vợ chồng, con cái, bạn bè. Hóa Lộc là ba nhóm người ấy có chỗ lợi. Hóa Quyền là ba nhóm ấy nhiều tai ách. Hóa Kỵ là ba nhóm ấy bị tổn hại.
- Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hóa Khoa đều là giải ách. Hai sao Xương, Khúc hóa Kỵ thì thêm phiền phức, văn thư, xe cộ.
Tử Vi tọa Bính Dần: đọc mười lăm sao trên một mệnh bàn
Thử đặt từng sao vào cung của nó, nhìn thiên can mở ra Lộc, Quyền, Kỵ rơi vào đâu, rồi dịch nghĩa bằng tính của sao.
- Tử Vi tọa Bính Dần, cung Phúc Đức. Thiên can Bính khiến Thiên Cơ hóa Quyền vào Phụ Mẫu: Quan Lộc, sự nghiệp, làm kinh doanh của nhà nước, công chức, kiếm tiền của công gia. Văn Xương hóa Khoa vào Mệnh: con người tùy hợp, không tính toán.
- Thiên Cơ tọa Đinh Sửu, cung Phụ Mẫu. Thái Âm hóa Lộc vào Điền Trạch: sao trí tuệ vào Điền Trạch là vào trong nhà mình, nên người trong nhà trí tuệ cao và dùng trí ấy ngay trong nhà. Điền Trạch chiếu Tử Tức, nên con cái thông minh, chỉ số IQ cao. Thiên Đồng hóa Quyền vào Tử Tức: con cái có tài. Thiên Cơ tự hóa Khoa ở Phụ Mẫu: cha mẹ, bậc trên đầu óc tốt. Cự Môn hóa Kỵ vào Nô Bộc xung Huynh Đệ: anh em không hợp.
- Thái Dương tọa Ất Hợi, cung Huynh Đệ. Thiên Cơ hóa Lộc vào Phụ Mẫu: dính đến cơ quan công vụ, làm kinh doanh của đoàn thể, công chức. Thiên Lương hóa Quyền vào Tật Ách xung Phụ Mẫu: Quyền rơi vào chỗ bệnh nên lực của Quyền tiêu mất, không tác dụng. Thái Âm hóa Kỵ vào Điền Trạch xung Tử Tức: bất lợi cho con; thực tế Kỵ vào Điền Trạch, trong nhà, nên còn bất lợi cho cha.
- Vũ Khúc tọa Giáp Tuất, cung Phu Thê. Liêm Trinh hóa Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh: tự kiếm tiền, vì Lộc vào tam hợp của bản mệnh là tự lực. Phá Quân hóa Quyền vào Mệnh: tự lực khởi nghiệp, cùng lẽ ấy. Thái Dương hóa Kỵ vào Huynh Đệ xung Nô Bộc: bất lợi cho bạn bè cùng giới.
- Thiên Đồng tọa Quý Dậu, cung Tử Tức. Phá Quân hóa Lộc vào Mệnh: có phúc khí, thọ tinh, có công giải ách. Tham Lang hóa Kỵ vào Quan Lộc: trong sự nghiệp bận rộn mà tổn phúc.
- Liêm Trinh tọa Canh Ngọ, cung Thiên Di. Thái Dương hóa Lộc vào Huynh Đệ chiếu Nô Bộc: không vào tam hợp của bản mệnh nên không mang đào hoa nơi thân mình, gặp dịp thì chơi, đào hoa nằm bên ngoài. Liêm Trinh là chủ Quan Lộc mà nhập Huynh Đệ, nên dính đến sự nghiệp của anh em. Thiên Đồng hóa Kỵ vào Tử Tức xung Điền Trạch: trong số con cái có người học luật, hoặc gây thị phi hành chính.
- Thiên Phủ tọa Bính Dần, cung Phúc Đức. Thiên Đồng hóa Lộc vào Tử Tức: lộc khố nằm trong tay con cái. Thiên Cơ hóa Quyền vào Phụ Mẫu: có tài, bá đạo, nắm quyền, giành quyền của cấp trên. Văn Xương hóa Khoa vào Mệnh: xử thế hòa thuận.
- Thái Âm tọa Đinh Mão, cung Điền Trạch. Thái Âm tự hóa Lộc ở Điền Trạch: tự mình có nhà đất. Thiên Đồng hóa Quyền vào Tử Tức chiếu Điền Trạch: con cái sẽ tăng thêm bất động sản. Tử Vi hóa Khoa vào Phúc Đức chiếu Tài Bạch: về già bên cạnh có tiền hưởng phúc. Cự Môn hóa Kỵ vào Nô Bộc xung Huynh Đệ: Thái Âm là sao của mẹ, vợ, con gái, mà Kỵ không vào Phụ Mẫu, Phu Thê hay Tử Tức nên không phát tác, chỉ xung Huynh Đệ, có thể chị em không tốt hoặc không hợp.
- Tham Lang tọa Mậu Thìn, cung Quan Lộc. Tham Lang tự hóa Lộc: tự lực khởi nghiệp, trong sự nghiệp có tài lộc phụ. Thái Âm hóa Quyền vào Điền Trạch: con người có tài, có thành tựu. Thiên Cơ hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách: đào hoa tiêu mất, không đào hoa.
- Cự Môn tọa Kỷ Tỵ, cung Nô Bộc. Tham Lang hóa Quyền vào Quan Lộc: cùng bạn bè làm việc có phiền phức về nhân sự. Văn Khúc hóa Kỵ vào Phúc Đức: vì tranh chấp nên không có phúc mà hưởng.
- Thiên Tướng tọa Canh Ngọ, cung Thiên Di. Thái Âm hóa Khoa: trong nhà có người che chở. Thiên Đồng hóa Kỵ xung Điền Trạch, nhập Tử Tức: con cái mua bất động sản gặp chuyện giả mạo con dấu, chứng từ.
- Thiên Lương tọa Tân Mùi, cung Tật Ách. Cự Môn hóa Lộc vào Nô Bộc chiếu Huynh Đệ: Thiên Lương chủ bậc trên nên vào cung ngang hàng thì không tác dụng. Văn Khúc hóa Khoa vào Phúc Đức: bậc trên khỏe mạnh, thực tế nam khỏe còn nữ không khỏe. Văn Xương hóa Kỵ vào Mệnh: tổn bậc trên. Có Xương hay có Khúc còn phân ra được nam nữ, vì Khúc thiên về nữ giới, Xương thiên về nam giới.
- Thất Sát tọa Nhâm Thân, cung Tài Bạch. Tử Vi hóa Quyền vào Phúc Đức tự chiếu, lại chiếu Thân cung: sau bốn mươi tuổi giỏi quản lý tài chính, nắm quyền. Vũ Khúc hóa Kỵ vào Phu Thê: sát tinh vào Phu Thê, người phối ngẫu thân thể không tốt. Đây lại là cung xung của đại hạn trước, ở đại hạn trước thì thân thể khỏe, còn hiện đang ở cung lưu niên, nên qua lưu niên này sẽ khỏi.
- Phá Quân tọa Bính Tý, cung Mệnh. Thiên Đồng hóa Lộc vào Tử Tức: Nô Bộc là chủ của Tử Tức nên con cái tốt, thông minh, có thành tựu. Thiên Cơ hóa Quyền vào Phụ Mẫu: không tác dụng. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Thiên Di tự xung: Phá Quân là sao hao tổn, người ấy cô độc.
- Lộc Tồn tọa Bính Dần, cung Phúc Đức. Thiên Đồng hóa Lộc vào Tử Tức: con cái tài lộc dồi dào. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh: chính mình cũng sẽ tiêu tiền, tổn tài.
Ngày sinh và phương vị lúc chào đời
Người ở mệnh bàn Lộc Tồn kể trên sinh ngày mùng 3 tháng 9. Đẩu Quân khởi từ tháng Giêng tại Tý, tháng 9 rơi vào Thân, ngày mùng 3 rơi vào cung Ất Hợi. Tháng lệnh tọa Tài Bạch, ngày tọa Huynh Đệ, và ngày chính là Điền Trạch của tháng.
- Ngày mang can Ất: Thái Âm hóa Kỵ vào Điền Trạch, nghĩa là lúc sinh ra nhà không có sản nghiệp. Thiên Cơ hóa Kỵ vào Phụ Mẫu, nên cha mẹ cũng từng làm việc ở cơ quan công vụ, đoàn thể.
- Nếu hai người có cùng một mệnh bàn, những biến hóa tinh vi của mệnh còn liên quan đến phương vị lúc sinh. Phương vị khác thì quái lý khác, âm dương có sai lệch, và nhờ đó mà phân biệt được mệnh của họ.
- Thiên Hình thuộc về chó, là bệnh phong, nên Hóa Kỵ vào Điền Trạch có thể là chuyện bị chó cắn mà mắc bệnh dại. Hồng Loan thuộc về uyên ương, Thiên Hỷ là khổng tước.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
