Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Đào hoa, hôn nhân và Lộc Kỵ cùng đổ lên một sao

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa03/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Đào hoa, hôn nhân và Lộc Kỵ cùng đổ lên một sao

Cung Tử Nữ vẫn bị gọi là cung ngoại tình, nhưng có đúng không, hay đã có người bị oan? Hôn duyên thành hay vỡ còn tùy chiếc cầu nào nối hai cung, và khi Lộc cùng Kỵ rơi xuống một sao, tốt xấu phải đo bằng ta hay người…


Cung Tử Nữ không phải cung ngoại tình: đừng kết án oan

Có người dựa vào cung Tử Nữ để phán chắc như đinh đóng cột về chuyện đào hoa, và cách luận ấy đã làm oan không ít người. Lý do đơn giản: Tử Nữ là Tật Ách của cung Phúc Đức, là cung chủ về hưởng thụ của thân thể. Gọi nó là cung đào hoa một cách tuyệt đối thì gây hàm oan thiên cổ.

Cung Tử Nữ đứng sau cung Phu Thê một bước, nên đương nhiên là tình cảm sau hôn nhân. Chưa ly hôn thì Tử Nữ là tình ngoài giá thú, tức ngoại tình; ly hôn rồi thì Tử Nữ là cuộc hôn nhân kế tiếp. Vì thế nó là cung đào hoa, nhưng không thể coi là tuyệt đối. Bởi nếu tái hôn thì Tử Nữ chính là cung phối ngẫu lần hai, mà phối ngẫu là chuyện chính đại quang minh, không thể lẫn với đào hoa bất minh.

Xưa nay cung Tử Nữ vẫn dùng để xem con cái. Muốn luận có đào hoa, trừ khi Tử Nữ có hóa xuất hoặc hóa nhập đồng thời xâu qua Liêm Trinh hoặc Tham Lang, hai sao đào hoa, thì mới luận được là có chuyện đào hoa; nếu không thì không thể.

Đào hoa trong mệnh lý không phải một khuôn. Nó có nhiều cách cục, mỗi cách một sắc thái.

Năm cách cục đào hoa

Thứ nhất, Mệnh, Tật Ách, Phúc Đức, ba cung tính cách, hóa Lộc Liêm Trinh hoặc Lộc Tham Lang: người dễ đa tình. Ba cung ấy hóa Kỵ Liêm Trinh hoặc Kỵ Tham Lang: người dễ si tình, lụy tình. Ba cung hợp thành Liêm Trinh hay Tham Lang Lộc Kỵ đồng cung: người đa tình đa dục, dễ vướng tình yêu sét đánh. Đặc biệt khi Tật Ách và Phúc Đức có Liêm Trinh hoặc Tham Lang Lộc Kỵ đồng cung, lại thêm Kỵ năm sinh hay Mệnh xâu thành Lộc Kỵ hội về sao đào hoa, thì cần phòng dục tình, dục vọng làm mình say mê mụ mị.

Thứ hai, ba cung tính cách ấy hóa Lộc Liêm Trinh hoặc Tham Lang vào Thiên Di (biểu tượng của Mệnh), Phụ Mẫu (biểu tượng của Tật Ách) và Tài Bạch (biểu tượng của Phúc Đức), ba cung biểu tượng: người dễ lộ ra biểu hiện động tình, qua bức vách cũng đánh hơi được mùi xuân tình.

Thứ ba, Thiên Di hay Phụ Mẫu, hai cung biểu tượng, hóa Lộc Liêm Trinh hoặc Tham Lang vào Mệnh, Tật Ách, Phúc Đức, cũng dễ mắc chuyện đào hoa. Lấy Tật Ách và Phúc Đức mà nói, có thể ngoắc tay là thành hôn; xâu sao đào hoa đa Lộc là cảnh hoa nở khắp nơi. Thiên Di hay Phụ Mẫu hóa Lộc sao đào hoa vào Giao Hữu thì rất giỏi giao tế; vào Phu Thê thì thường chủ động tìm kiếm đối tượng; vào Tử Nữ thì ngoắc tay là thành hôn; vào Sự Nghiệp thì cũng có thể phát sinh đào hoa. Đặc biệt nếu Thiên Di hay Phụ Mẫu hỗ hóa Lộc sao đào hoa, hoặc bản cung tự hóa Lộc xuất sao đào hoa, thì rất dễ có sức hút với người khác phái, đương nhiên cũng dễ trêu hoa ghẹo nguyệt.

Thứ tư, Mệnh, Tật Ách, Phúc Đức cùng Phu Thê, Tử Nữ, Giao Hữu mà ngồi Kỵ năm sinh hay Mệnh hóa thành Lộc sao đào hoa, hoặc bản cung sao đào hoa tự hóa Lộc xuất, cũng dễ sinh chuyện đào hoa, trăng gió.

Thứ năm, ngược lại, Thiên Di và Phụ Mẫu, hai cung biểu tượng, tọa Kỵ Liêm Trinh hoặc Kỵ Tham Lang, thì chắc chắn vụng chuyện tán trai tán gái. Hoặc Thiên Di, Phụ Mẫu hóa Kỵ Liêm Trinh hay Tham Lang vào Mệnh, Tật Ách, Phúc Đức, Phu Thê, Tử Nữ, Giao Hữu, Sự Nghiệp, cũng vụng chuyện tình cảm với người khác phái. Hợp thành song Kỵ trở lên thì càng vụng hơn, chỉ có thể lấy người quen thân hoặc qua mối giới thiệu, khó tự mình tán được.

Có người đa tình thì cũng có người khó yêu, và điều ấy hoàn toàn hợp nguyên lý âm dương.

Mệnh cách khó yêu, ít sa ngã

Đàn ông hay đùa nhau rằng trên đời chỉ có hai loại đàn ông: háo sắc, và cực kỳ háo sắc, cho tới khi gặp những mệnh cách khó yêu. Điều này khớp với nguyên lý âm dương: có người đa tình thì cũng có người lãnh cảm, khó yêu, không có gì lạ.

Mệnh cách khó yêu biểu hiện ở chỗ không giỏi giao tế: Thiên Di hóa Kỵ vào Phu Thê, chuyển Kỵ vào Tài Bạch, hội Phúc Đức và Kỵ năm sinh, hợp thành 3 Kỵ phá. Tính cách như thế không sa vào tình cảm và tình dục, không chỉ không biết mê hoa ham rượu bên ngoài mà cả thói hư tật xấu quán bar, bay lắc cũng không có. Mệnh, Tật Ách, Phúc hóa Kỵ không xâu qua Liêm Trinh, Tham Lang thì sẽ không sa ngã vào tình dục, cũng không sa vào ăn uống rượu chè bê tha. Nếu Mệnh, Tật Ách, Phúc hóa Lộc cũng không xâu tới Liêm Trinh, Tham Lang, và không có Hóa Kỵ vào Phu Thê thì cũng không đa tình đa dục. Ngoài ra Mệnh hóa Kỵ vào Tật, tự hóa Kỵ xuất thì là người ưa sạch sẽ, tính cần mẫn và hơi bảo thủ.

Hôn nhân: chọn Thể, chọn Dụng cho đúng

Đề tài hôn nhân bao gồm các trạng thái: kết hôn, ly hôn, quan niệm không kết hôn, duyên hôn dày mỏng, ngoại tình. Lấy Phu Thê, Điền Trạch hoặc Phụ Mẫu làm Thể; Mệnh, Phúc, Thiên Di làm Dụng. Xâu Kỵ để luận chuyện xấu, xâu Lộc để luận chuyện thành.

Luận ly hôn. Phu Thê, Điền Trạch hoặc Phụ Mẫu xâu với Mệnh, Phúc, Thiên Di mà hợp thành từ 4 Kỵ trở lên thì phá cục. Có kết cấu phân ly, cần xét mạnh yếu để phán định; duyên hôn bị phá bại lại bạc nhược thì có thể luận hôn nhân không bền, có khả năng ly hôn, nhưng không phải chắc chắn ly hôn. Cần hiểu rằng cách cục ly hôn có nhiều biến hóa phức tạp.

Luận quan niệm không kết hôn. Lấy Phúc Đức Kỵ xuất làm chính, xâu Phu Thê, Điền Trạch hoặc Phụ Mẫu thành từ 3 Kỵ trở lên, rồi xem duyên hôn dày mỏng. Duyên dày thì chỉ là vấn đề thời gian: khi nghiệp lực chấm dứt, hôn duyên sẽ thành. Duyên mỏng thì có thể là cả đời.

Luận chuyện bị phản bội. Phu Thê hóa Kỵ xâu qua Thái Âm hoặc Cự Môn, thậm chí xâu qua Liêm Trinh hay Tham Lang, lại xâu tiếp Điền Trạch thành phá. Thường cần xâu Cự Môn, sao mang nghĩa hộ tịch, và Điền Trạch, cung hộ tịch, hoặc Văn Xương, Văn Khúc là các sao công văn.

Luận chính mình có ngoại tình không. Tất nhiên phải đã kết hôn mới bàn tới ngoại tình. Lấy các cung tính cách (Mệnh, Phúc, Tật) để xem mình đa tình, chung tình hay thích tình yêu sét đánh; rồi phối hợp nhân tế gặp gỡ, tế ngộ, Sự Nghiệp (tình cảm ngoài hôn nhân, vì là Thiên Di của Phu Thê) và Tử Nữ (tình cảm sau hôn nhân). Cung người khác phi Lộc hội về thì đối phương tới báo ân, sẽ không va chạm; vẫn phải xem cung mình hóa Kỵ xâu thành kết cấu có phá bại không. Cung người khác hóa Kỵ hội về thì là đòi nợ, là kém may mắn trong chuyện đào hoa: hoa dại ven đường chớ hái, biểu thị mình không có phúc khí trong chuyện tình ái, chớ ham mà sập bẫy.

Bên phía Lộc, chuỗi xâu phải đi qua những chiếc cầu, và mỗi chiếc cầu mang một nghĩa riêng.

Năm chiếc cầu nối cho hôn duyên thành

Khi luận hôn nhân thành, vẫn lấy Phu Thê, Điền Trạch hoặc Phụ Mẫu làm Thể; Mệnh, Phúc, Di làm Dụng. Cung bắc cầu không phải cung quyết định thành bại, nhưng giữ vai nối. Cách đếm Lộc trong xuyến liên rất nghiêm cẩn, nên khi kết cấu Lộc muốn nối Thể với Dụng thì phải qua cầu, và nhất định phải có xuyến liên thì hôn duyên mới vượng và hôn nhân mới thành. Các cung bắc cầu là:

  1. Tài Bạch: Phu Thê của Phu Thê, là cung đối đãi trong hôn nhân; luận hai người ăn ở, đối xử với nhau ra sao.
  2. Tật Ách: cùng tông sáu vị với Mệnh. Mệnh là cái Ta vô hình, Tật Ách là thân thể, cái Ta hữu hình; thể xác và tinh thần hợp một. Luận sự tiếp xúc thân thể giữa hai người; hóa Lộc nghĩa là tốt đẹp.
  3. Giao Hữu: Tật Ách của Phu Thê, tức thân thể người phối ngẫu, nhất định phải xâu vào cung Phu Thê mới tính. Còn có nghĩa bạn bè làm mối: hôn nhân của ta có thể đến từ bạn bè thân quen giới thiệu.
  4. Sự Nghiệp: gặp nhau qua công việc, nên duyên nhờ quan hệ công tác.
  5. Tử Nữ: bắc cầu qua con cái, gọi là hôn duyên một chút duyên. Thường có hai trường hợp: từng kết hôn trước đó, hoặc kết hôn xong nhanh chóng có con.

Muốn biết ai là chủ thể của sự việc thì xem cung nào chủ động hóa xuất. Mệnh phi tứ hóa vào Phu Thê là ta chủ động. Phu Thê phi tứ hóa vào cung của ta là vợ hoặc chồng chủ động hơn. Còn phi vào cung nào thì cần nghiên cứu cụ thể. Nam là dương nên phía nam chủ động là bình thường; nếu là nữ mệnh theo đuổi thì nhất định phải nghiên cứu kỹ.

Về hôn nhân đồng tính, vì đồng tính được suy luận theo tính cách chứ không theo cung Phu Thê, và cũng vì pháp luật hiện nay chưa thừa nhận hôn nhân đồng tính, nên không dùng cung Phu Thê để xem.

Hôn nhân, tiền bạc hay bạn bè, mọi việc rốt cuộc đều dồn về một thế cờ: Lộc và Kỵ cùng đổ lên một ngôi sao. Cờ ấy cần phân định thắng thua.

Lộc và Kỵ cùng đổ lên một sao: tốt hay xấu tùy ta hay người

Có trường hợp cung A phi Lộc hoặc Kỵ vào sao X nằm ở cung B, trong khi cung C cũng phi Lộc hoặc Kỵ vào đúng sao X ấy ở cung B. Khi hai cung cùng phi Lộc tới một chỗ gọi là giao Lộc, thể hiện sự tốt đẹp; tùy giao trên cùng một sao hay khác sao mà sắc thái khác nhau, nhưng cơ bản là tốt. Hai cung cùng phi Kỵ tới một chỗ gọi là giao Kỵ, hàm ý va chạm, xấu xa. Hai trường hợp ấy tốt xấu rõ ràng. Chỉ khi Lộc và Kỵ cùng gặp trên một sao trong một cung mới cần phân định xem thành song Lộc, tốt, hay thành song Kỵ, xấu. Đây là thủ pháp quan trọng khi xem vận, để đánh giá tương tác tốt xấu giữa các cung liên quan; chuyện tốt xấu xảy ra tại cung có Lộc Kỵ hợp tham và có thể chuyển Kỵ ảnh hưởng sang cung khác.

Trước hết phải chia tha cung và ngã cung. Ngã cung là cung của ta, hàm ý bên trong; tha cung là cung của người, hàm ý bên ngoài. Có hai cách chia, tùy chọn:

  • Cách một: tha cung gồm sáu cung Phúc, Di, Phối, Phụ, Tử, Nô; ngã cung gồm sáu cung Mệnh, Tài, Quan, Điền, Tật, Bào.
  • Cách hai: tha cung gồm sáu cung Huynh Đệ, Di, Phối, Phụ, Tử, Nô; ngã cung gồm sáu cung Mệnh, Tài, Quan, Điền, Tật, Phúc.

Mười hai cung chia thành bốn tam hợp. Tam hợp Mệnh, Tài, Quan là chủ quản. Tam hợp Phúc, Di, Phối cho biết nhân quả. Tam hợp Điền, Tật, Bào là cung thu tàng cất giữ. Tam hợp Phụ, Tử, Nô cho biết giao tiếp.

Khi cả ba cung đều là ngã cung thì mọi chuyện, dù Lộc hay Kỵ, đều nằm trong tầm quản lý của ta, nên dù biến hóa thế nào cũng là tốt đẹp. Khi cả ba đều là tha cung thì dù tốt hay xấu cũng ít ảnh hưởng trực tiếp tới ta. Ngã cung phi Kỵ vào tha cung là ta đang quan tâm, chuyên chú vào điều đó; tha cung phi Kỵ vào ngã cung là người khác đang rình lấy của ta thứ gì.

Mười trường hợp thường gặp, lấy Điền Trạch làm trục:

  1. Mệnh phi Lộc vào Điền, Bào phi Kỵ vào Điền. Cả ba đều là ngã cung; cung Huynh Đệ còn thể hiện thu nhập. Ta cần kiệm tích lũy cho gia đình và thu nhập tốt. Mệnh phi Lộc vào Điền mà Điền tọa Kỵ năm sinh: gia đình là trách nhiệm của ta, khi gia đình cần thì ta cung ứng.
  2. Mệnh ngã cung phi Lộc vào Điền ngã cung, Nô tha cung phi Kỵ vào Điền (đương nhiên trên cùng một sao): ta gây được gia sản và bạn bè tới lấy của ta.
  3. Nô tha cung hóa Lộc vào Điền, Mệnh ngã cung hóa Kỵ vào Điền: ta lo cho gia đình và bạn bè giúp ta. Nô hóa Lộc vào Điền, Điền tọa Kỵ năm sinh: gia đình là trách nhiệm của ta, bạn bè giúp ta khi túng thiếu.
  4. Nô tha cung hóa Lộc vào Điền, Di tha cung hóa Kỵ vào Điền: ta làm ăn kém, quản lý kém gây thất thoát, bạn bè tới giúp ta hòa vốn.
  5. Mệnh ngã cung phi Kỵ vào Điền, Bào ngã cung phi Lộc vào Điền: ta cần kiềm chế quản lý gia đình, và ta có may mắn tăng tài lộc.
  6. Mệnh ngã cung phi Kỵ vào Nô tha cung, Tài ngã cung phi Lộc vào Nô: ta đem tiền giúp bạn, khoản tiền ấy nằm trong tầm tay ta.
  7. Mệnh ngã cung phi Kỵ vào Nô tha cung, Thê tha cung phi Lộc vào Nô: ta giúp bạn, vợ ta ủng hộ ta trong chuyện này.
  8. Nô tha cung phi Kỵ vào Điền ngã cung, Mệnh ngã cung phi Lộc vào Điền: ta lỏng lẻo trong quản lý tiền bạc, tài sản và bị bạn bè lấy mất.
  9. Nô tha cung phi Kỵ vào Tài ngã cung, Phụ tha cung phi Lộc vào Tài: ta nhiều lần bị tiểu nhân hại nhưng cha mẹ, hay bề trên nói chung, giúp ta vượt khó.
  10. Nô tha cung phi Kỵ vào Phụ ngã cung, Mệnh ngã cung phi Lộc vào Phụ: bạn bè có thái độ xấu với ta (Phụ Mẫu là cung giao tiếp của ta, cũng là Thiên Di của Tật) nhưng ta luôn bỏ qua.

Nguồn: Alex Alpha, Giáo trình Phi Tinh Lương phái.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa