Bài tổng quan
Từ Thiên Phủ đến Lộc Tồn: nghĩa Tứ Hóa của mười một sao
Thiên Phủ giữ kho mà tiền sinh ra không mang đến, chết cũng không mang đi. Mười một sao từ Thiên Phủ đến Lộc Tồn, sao nào lo tài, sao nào lo thị phi, sao nào lo con người, đều có một cách hóa riêng…
Mục lục · 8 phần
- 01Tính của sao cũng có xuân, hạ, thu, đông
- 02Thiên Phủ: kho lộc của cả mệnh bàn
- 03Thái Âm: tiền riêng, kho nhà và người phụ nữ trong đời
- 04Tham Lang: tài, thọ và đào hoa trong một sao
- 05Cự Môn: miệng lưỡi, thị phi và lộc ăn uống
- 06Thiên Tướng và Thiên Lương: văn thư, con dấu và sự che chở
- 07Thất Sát và Phá Quân: tướng tinh, dịch mã và hao tổn
- 08Xương Khúc và Lộc Tồn: chuyện dọn nhà, chuyện tiền đi đâu
Tính của sao cũng có xuân, hạ, thu, đông
Mỗi sao mang một mùa, và sao nào phát ở tuổi nào cũng đã được định sẵn theo mùa ấy.
- Vũ Khúc và Tham Lang không phát ở tuổi thiếu niên, hợp với tuổi tráng niên. Riêng Vũ Khúc phát lúc còn trẻ thì không bền.
- Thiên Lương chủ tuổi già. Phúc tinh chủ vãn niên, tài tinh chủ tráng niên, xem theo dương tinh.
- Thiên Cơ là xuân Mộc; nếu hóa Lộc thì hợp kết hôn vào mùa xuân. Thái Dương là Bính Hỏa, vượng vào tháng tư, tháng năm.
Thiên Phủ: kho lộc của cả mệnh bàn
Tiền sinh ra không mang đến, chết cũng không mang đi: sao giữ kho thì ở ngoài, và đúng chỗ thì hóa giải được tai nạn.
Thiên Phủ thuộc Dương Thổ, đối với Tử Vi là âm dương hỗ tương, màu xanh cỏ: Âm Thổ ẩn bên trong, Dương Thổ hiện ra ngoài mà thấy xanh. Đây là sao của lộc khố, chủ tài, chủ ở bên ngoài.
- Hóa Lộc, cùng Tử Vi, có công giải ách. Nhập Phúc Đức, Tật Ách: trên thân thể có công giải ách, khỏe mạnh. Nhập Điền Trạch: có tài khố, vì lộc khố chi tinh thích nhất nhập Mệnh và Điền Trạch.
- Nhập Mệnh, Quan Lộc, Tài Bạch: vì là sao kho nên không có tác dụng lớn về tiền tài, chỉ chủ lực giải ách. Nhập Mệnh: gặp nạn có giải, gặp quý nhân. Nhập Quan Lộc, Tài Bạch: trong sự nghiệp có quý nhân, nhưng tác dụng không lớn.
- Hóa Kỵ nhập Điền Trạch: không có tài khố. Nhập Tử Tức: đem kho tài cho con cái. Nhập Nô Bộc: kho tài vì bạn bè mà dùng hết.
Thái Âm: tiền riêng, kho nhà và người phụ nữ trong đời
Thái Âm thuộc Âm Thủy, màu trắng tinh, chủ sạch sẽ, vừa là tài tinh vừa là sao của kho tài.
- Hóa Lộc nhập Tài Bạch, Điền Trạch: chủ tài. Ở nữ mệnh, xem có cách ông chủ hay không theo cách nam mệnh xem Thái Dương hóa vào cung nào. Nam mệnh xem phối ngẫu thì lấy Thái Âm hóa Lộc nhập Phu Thê hoặc các cung tam phương tứ chính của nó. Như nam mệnh có Thái Âm hóa Lộc nhập Quan Lộc, là Thiên Di của Phu Thê, thì vợ có cách ông chủ; nếu Thái Dương cũng hóa Lộc nhập Quan Lộc thì chính mình cũng có cách ông chủ, vợ chồng mỗi người một sự nghiệp. Thái Âm hóa Lộc chủ yếu xem tài, vì Thái Âm không có công giải ách.
- Hóa Quyền: nữ mệnh nhập Mệnh thì lao lực, bôn ba, khởi nghiệp. Bất kể nam nữ, người khởi nghiệp mà Thái Âm hóa Quyền nhập Huynh Đệ thì chủ chị em; nhập Phụ Mẫu thì chủ mẹ; nhập Nô Bộc thì chủ bạn nữ.
- Hóa Khoa: Thái Âm vừa âm vừa ám nên chủ tiền riêng, vì là lộc khố chi tinh. Bất kể nam nữ, nhập Thiên Di chiếu Mệnh: thích giữ tiền riêng, về già bên cạnh có tiền để hưởng. Nhập Quan Lộc chiếu Phu Thê: giấu tiền riêng. Nhập Tử Tức chiếu Điền Trạch: cũng thích giữ tiền riêng và âm thầm cho con cái tiền. Nhập Điền Trạch: có tình trạng âm thầm mượn danh người khác mua nhà.
- Hóa Kỵ: bất lợi cho nữ tính, chủ tai ách, tương ứng với Thái Dương bất lợi cho nam tính.
Tham Lang: tài, thọ và đào hoa trong một sao
Tham Lang thuộc Thủy, màu gan heo, tức đỏ nâu. Đây là tài tinh, thọ tinh, đào hoa tinh.
- Hóa Lộc nhập Mệnh: tài, thọ và đào hoa. Nhập Điền Trạch: đào hoa, tài, nhưng không chủ thọ. Nhập Phúc Đức, Tật Ách: giải ách, thọ, nhưng dục vọng mạnh. Nhập Quan Lộc, Tài Bạch: kiếm tiền. Tài của Tham Lang là thiên tài, hơi mang tính đầu cơ, khác với Vũ Khúc là chính tài, tiến tài nhờ kinh doanh chính đáng.
- Tham Lang thuộc Thủy nên hóa Lộc nhập Mệnh cung, Thiên Di, Tử Tức, Điền Trạch: thông minh. Nhập Nô Bộc: hào phóng, hiếu khách, tài cho bạn bè.
- Hóa Quyền: thích nắm quyền sở hữu tài sản. Nhập Mệnh: cố chấp, bướng bỉnh. Nhập Quan Lộc, Tài Bạch: khởi nghiệp, nhiều sức xung kích. Tham Lang là thọ tinh nên hóa Quyền không được nhập Tật Ách, Phúc Đức, vì dễ có thương tích; sao hóa Quyền chủ thương tổn bất ngờ. Nhập Tử Tức chiếu Điền Trạch: trong nhà bá đạo, với con cái không hợp.
- Hóa Kỵ nhập Phúc Đức, Tật Ách: thọ tinh hóa Kỵ nên thân thể yếu, nhiều tai họa, đời sống tình dục mạnh, dễ bại thận, không phải bệnh tình dục. Nhập Mệnh: tư tưởng gần cửa Phật, nghiên cứu ngũ thuật sẽ tinh, nhưng thân thể không tốt, có bệnh thì không đủ lực giải ách, thuộc lạnh, thiên lệch, phản nghịch thì có lợi hơn. Nhập Mệnh cũng là trực tiếp có tranh chấp đào hoa.
- Nhập Quan Lộc: sự nghiệp không thuận, và trong sự nghiệp có tranh chấp đào hoa; làm nghề giao dịch tình nhân hoặc giới thiệu hôn nhân thì hợp. Nhập Tài Bạch: tiền tài không thuận, mang tranh chấp đào hoa về tiền, thành khoản phí che giấu. Nhập Phúc Đức, Tật Ách: bệnh thận, không thọ. Nhập Nô Bộc, Huynh Đệ: là chuyện của Nô Bộc, Huynh Đệ, không liên quan đến mình.
- Nhập Điền Trạch: cả đời nhiều tranh chấp đào hoa, vì Điền Trạch là Phu Thê của Nô Bộc, chủ bạn khác giới. Nhập Tật Ách, Phụ Mẫu: trên thân thể có bệnh khó chữa, liên quan đến dương trạch.
Cự Môn: miệng lưỡi, thị phi và lộc ăn uống
Hóa Lộc thì kiếm tiền bằng cái miệng, hóa Kỵ thì cái miệng ấy mang thị phi đến cho cả đời.
Cự Môn thuộc Âm Thủy, màu trắng xám, chủ khẩu thiệt, khẩu phúc, là sao thị phi nhân sự.
- Hóa Kỵ: chủ thị phi nhân sự. Nhập Điền Trạch: có thị phi, có thể có tai ngục. Nhập Tật Ách, Phụ Mẫu: thích xen vào việc người khác, gây thị phi; nữ mệnh là hạng nói nhiều. Nhập Mệnh: cả đời thích gây thị phi. Nhập Tài: thị phi về tiền. Nhập Quan Lộc: thị phi trong sự nghiệp. Nhập Tật Ách, Phụ Mẫu cũng có thể là bệnh khó chữa hoặc bệnh âm, liên quan đến âm trạch.
- Hóa Lộc nhập Mệnh: khẩu tài tốt, khẩu phúc tốt, học gì không chuyên mà lại có ích. Cự Môn không phải tài tinh, nếu hóa Lộc thì dựa vào miệng kiếm tiền, như nhà ngoại giao, người môi giới, người giới thiệu.
- Nữ mệnh không thích sao Cự Môn. Nếu Cự Môn cùng Văn Xương hoặc Văn Khúc tọa Mệnh, bất kể Tứ Hóa thế nào, tất dễ thay đổi. Cự Môn hóa Kỵ, lúc chết chắc chắn ứng vào nữ giới chứ không phải nam, vì Cự Môn ở Phúc Đức của Thái Âm.
- Cự Môn tọa Mệnh mà Nô Bộc có can Tân, Cự Môn hóa Lộc nhập Mệnh: cả đời cùng bạn bè tranh khẩu thiệt, đấu miệng, và kết giao bạn bè rộng. Cự Môn tọa Phúc Đức, can Tân hóa Lộc ngay tại đó: Phúc Đức là chỗ hưởng thụ, nên cả đời có lộc ăn uống. Cự Môn tọa Quan Lộc, can Tân hóa Lộc: thường có lộc ăn uống trong công việc.
Một mệnh tạo: Thái Dương tọa can Bính
- Thái Dương tọa cung Bính, Thiên Đồng hóa Lộc nhập Phúc Đức chiếu Tài Bạch: có mệnh ông chủ.
- Muốn xem làm quan thì xem Thiên Di của Quan Lộc, tức cung Phu Thê. Phu Thê mang can Nhâm: Thiên Lương hóa Lộc nhập Thiên Di chiếu Mệnh, Tử Vi hóa Quyền và Tả Phù hóa Khoa nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu, cơ quan chính phủ: có quan vận, có thể làm quan. Lộc chiếu Mệnh là chủ thẩm định: qua tuyển chọn, điều động nội bộ rồi dần thăng chức; Thiên Lương chủ bậc lão đại nên là điều động nội bộ.
- Thiên Di có can Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Điền Trạch: cơ hội xuất ngoại không lớn. Nhập tứ khố thì ít thích ra ngoài; nhập bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi, tức tứ mã, thì có khả năng xuất ngoại. Muốn xem xuất ngoại thì xem Thiên Di cung can hóa Lộc, rồi lần lượt đến đại hạn, lưu niên. Thái Dương Cự Môn vốn thuộc công việc ngoại giao, nên mệnh này làm công việc ngoại giao hành chính, pháp quy.
Thiên Tướng và Thiên Lương: văn thư, con dấu và sự che chở
- Thiên Tướng thuộc Dương Thủy, màu vàng nhạt. Hóa Khoa nhập bất kỳ cung nào cũng có công giải ách. Hóa Kỵ là thị phi về văn thư, con dấu, khế ước; lần đầu có tranh chấp thị phi thì khá không thuận lợi. Nhập Điền Trạch: mua bán bất động sản có thị phi. Nhập Mệnh: dễ sai sót, thị phi trên giấy tờ. Nhập Nô Bộc: bạn bè thường gây vấn đề về văn thư, con dấu. Nhập Tài Bạch: vấn đề séc, chứng khoán có giá trị.
- Thiên Lương thuộc Dương Thổ, là sao của cha mẹ, thượng cấp, trưởng bối. Hóa Lộc không chủ tài mà chủ ấm, giải ách, phúc thọ. Nhập Mệnh cung, Điền Trạch, Phúc Đức, Tật Ách: có giải ách, thân thể khỏe mạnh trường thọ. Nhập Phụ Mẫu: có sự che chở của cha mẹ. Nhập Điền Trạch: cả đời chắc chắn có nhà ấm, có nhà ở. Hóa Lộc từ cung can của Thiên Lương nhập Mệnh còn chủ thích ngũ thuật âm dương, mệnh lý, y dược.
- Hóa Kỵ là tổn lục thân trưởng bối. Tuy chủ cả nam lẫn nữ trưởng bối nhưng Thiên Lương là dương tinh nên chủ nam nhiều hơn. Nhập Thiên Di xung Mệnh: không có che chở của lục thân. Nhập Quan Lộc xung Phu Thê: người phối ngẫu không có lục thân để dựa, hoặc cha mẹ có hiện tượng mất sớm.
- Một mệnh bàn có Thiên Lương tọa Tật Ách cung Tân, Tân Văn Xương hóa Kỵ nhập Mệnh: không có cha che chở.
Thất Sát và Phá Quân: tướng tinh, dịch mã và hao tổn
- Thất Sát thuộc Âm Kim, màu đen, là tướng tinh, trong số là sát của sát. Hóa Quyền: nắm quyền, bá đạo, khởi nghiệp. Nhập Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch: có thành tựu. Nhập Phúc Đức, Tật Ách: thêm tai họa, vì tướng tinh không được nhập hai cung này. Nhập Phụ Mẫu xung Tật Ách, cung nhàn: không làm nghề chính, ăn chơi lêu lổng. Nhập Điền Trạch: trong nhà bá đạo, không có kho. Hóa Quyền lại chủ dịch mã, nhiều biến thiên.
- Thất Sát hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu xung Tật Ách: không làm việc đàng hoàng, tay ăn chơi, lưu manh. Nhập Tật Ách, Phúc Đức: tổn hại thân thể. Nhập cung lục thân: bất lợi lục thân. Nhập Phụ Mẫu: cha mẹ khó dạy dỗ mình.
- Phá Quân chủ vợ chồng, con cái, bạn bè, thuộc Âm Thủy, màu đen, là sao hao tổn. Hóa Lộc nhập Quan Lộc chiếu Phu Thê, nhập Điền Trạch chiếu Tử Tức, nhập Huynh Đệ chiếu Nô Bộc: ở chung tốt đẹp, nhất là chiếu Phu Thê, Tử Tức, Nô Bộc. Hóa Quyền là dịch mã, nhập bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì dịch mã hiện rõ; Thiên Di xung Mệnh là bôn ba.
- Phá Quân hóa Kỵ nhập Phu Thê, Tử Tức, Nô Bộc: bất lợi vợ chồng, con cái, bạn bè, có hao tổn, không hợp. Nhập Quan Lộc xung Phu Thê: vợ chồng không hợp, phối ngẫu có tổn. Nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu: không dính cha mẹ vì Phá Quân không chủ trưởng bối, mà là vấn đề của cung văn thư. Nhập Nô Bộc: không có trợ thủ đắc lực.
Xương Khúc và Lộc Tồn: chuyện dọn nhà, chuyện tiền đi đâu
- Xương, Khúc hóa Kỵ liên quan đến dọn nhà. Như Điền Trạch có can Kỷ, Văn Khúc hóa Kỵ nhập Tử Tức tự xung Điền Trạch; hoặc can Tân, Văn Xương hóa Kỵ nhập Tử Tức tự xung Điền Trạch; hoặc can Kỷ, Văn Khúc hóa Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh; hoặc can Tân, Văn Xương hóa Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh. Tất cả đều có hiện tượng dọn nhà. Di chuyển vị trí giường cũng có thể tượng trưng cho dọn nhà.
- Văn Xương hoặc Văn Khúc tọa can Đinh, Cự Môn hóa Kỵ nhập Tử Tức xung Điền Trạch: trong nhà có tranh chấp khẩu thiệt mà dọn nhà. Dọn nhà có nhiều tình huống, cần nghiên cứu sâu hơn.
- Lộc Tồn chủ tài. Hóa Lộc cho biết tiền kiếm được từ đâu. Hóa Kỵ cho biết tiền dùng vào đâu. Dựa vào cung can hóa mà tham khảo cung vị.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
