Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Từ Tử Vi đến Liêm Trinh: Tứ Hóa của sáu sao nhập cung

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn04/10/202611 phút đọc4 lượt đọc
Từ Tử Vi đến Liêm Trinh: Tứ Hóa của sáu sao nhập cung

Cùng là Hóa Kỵ, Thiên Cơ hóa Kỵ làm tổn anh em, còn Vũ Khúc hóa Kỵ làm người ta cô quả. Sáu sao đầu mỗi sao một tính, và tính ấy quyết định Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ rơi vào cung nào thì thành phúc hay thành họa…


Tử Vi: sao Trung cung giải ách của cả mệnh bàn

Tử Vi thuộc Âm Thổ, ngự ở Trung cung, mang màu tím tôn quý, và Thổ sinh phúc vật. Đây là chủ tinh của Quan Lộc và có công giải ách. Tử Vi rơi Trung cung nên không thiên lệch, ý nghĩa đổi theo sao hóa và sao nương tựa.

Điều cần hiểu cho đúng: ở đây không phải Tử Vi tự hóa Lộc. Tử Vi tọa một cung nào đó, và thiên can của cung ấy hóa Lộc nhập về những cung khác. Nhiều người đọc lướt mà nhầm chỗ này.

  • Tử Vi tọa cung mà can cung hóa Lộc nhập Mệnh hoặc Thiên Di: đối với tai họa bất ngờ có công giải ách. Ra ngoài gặp nạn có quý nhân cứu, gặp hung hóa cát, hóa hiểm thành yên.
  • Can cung hóa Lộc nhập Phúc Đức, Điền Trạch, Tật Ách: giải ách trên thân thể, gặp bệnh hồi phục nhanh, có quý nhân cứu, thân thể khỏe mạnh.
  • Hóa Quyền nhập Mệnh, Quan Lộc, Tài Bạch là cát, nhất là nhập Mệnh và Quan Lộc thì càng tốt: có người nâng đỡ, thăng tiến nhanh, quan càng làm càng lớn, vì chủ Quan Lộc thích hóa Quyền.
  • Hóa Quyền không được nhập Tật Ách và Phúc Đức, vì trên thân thể nhiều tai ách. Chủ Quan Lộc mà rơi vào chỗ bệnh Tật Ách thì khởi nghiệp thiếu lực.
  • Thổ sinh vạn vật thì phải có Thủy, mà vạn vật lấy Khảm làm đầu.

Thiên Cơ: sao trí tuệ, sao của anh em và tín ngưỡng

Thiên Cơ không cho tiền, chỉ cho cái đầu biết nghĩ, và khi hóa Kỵ thì người đầu tiên chịu thiệt là những người cùng hàng ngang vai.

Thiên Cơ thuộc Âm Mộc, tức Ất Mộc, màu xanh lam trong suốt, biểu tượng của trí tuệ. Về vật phẩm là cái gương, âm, thuộc Thủy; về kiến trúc là giàn giáo, cầu thang; về xe cộ là xe máy. Đây là chủ tinh của Huynh Đệ, sao trí tuệ duy nhất của Đẩu Số, không chủ tài. Thiên Cơ chủ lục thân hàng ngang vai và mang tính nam, vì sao này luôn tọa ở cung Phúc Đức của Thái Dương; tuy thuộc Âm Mộc nhưng khi xếp mệnh phải xem theo dương tính. Thiên Cơ còn là sao tôn giáo, và là sao chủ việc nhà.

Thiên Cơ hóa Kỵ

  • Dễ tổn lục thân là nam tính, hoặc người ngang hàng là nam. Vào cung lục thân nào cũng không tốt. Không chủ phá tài, chủ chuyện lục thân và tai ách.
  • Vào Mệnh: người không thông minh, không cởi mở, hay chui vào ngõ cụt. Vào Huynh Đệ, vốn là chủ tinh của cung này, thì tối kỵ: anh em có tổn, rất không tốt.
  • Thiên Cơ tọa Mệnh tự hóa Kỵ, hoặc hóa Kỵ nhập Mệnh: khó nuôi, phải cho thần làm con nuôi. Vào Tử Tức, hoặc Tử Tức tự hóa Kỵ: con cái không dễ nuôi, phải cho thần hoặc người thân đã mất làm cha mẹ nuôi.
  • Can cung Thiên Cơ tọa hóa Kỵ vào Phụ Mẫu: tổn cha. Vào Tài Bạch: có tổn, chỉ còn cách dựa vào trí tuệ bù chỗ thiếu, như xem mệnh có thể có thu nhập. Bất kỳ hóa Kỵ nào vào Tài Bạch cũng là tổn tài.
  • Vào Điền Trạch, hoặc Thiên Cơ ở Điền Trạch tự hóa Kỵ: trong nhà nhiều việc, và biến động. Thiên Cơ chủ lục thân nên vào Điền Trạch là việc nhà nhiều.
  • Nữ mệnh Thiên Cơ hóa Kỵ sợ ngã từ cầu thang xuống. Nam mệnh Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Phu Thê: bố vợ, anh trai, những người nam thuộc hàng thân thuộc có thể mất sớm.
  • Giải ách của vạn vật đều lấy âm vật làm chủ, như gương, bùa chú.
  • Thiên Cơ là sao tôn giáo nên tọa Mệnh dễ tiếp cận tôn giáo và dễ mê tín, tin đạo quá mức.

Cổ thuyết nói Thiên Cơ hóa khí là thiện, nhưng hóa khí ở đây nghĩa là đại hạn hoặc lưu niên hành đến cung Thiên Cơ tọa thì mới hóa khí mà phát sinh tác dụng. Thiên Cơ không phải thiện tinh mà chủ tổn, hóa khí vì ác chứ không vì thiện. Thiện tinh là Thiên Đồng và Thiên Lương. Còn Thiên Cơ hóa Lộc là trí tuệ, tôn giáo, âm dương học, triết học.

Thái Dương: cha, bản thân và con, và mệnh ông chủ của nam giới

Thái Dương thuộc Dương Hỏa, như ngọn lửa cam đỏ. Đây là chủ tinh của Quan Lộc, là cha, là chính mình, là con; ở nữ mệnh là cha, chồng, con. Sao này chủ công danh, giáo dục, trường học. Với Thái Dương, thời ấu niên chủ cha, trung niên chủ chính mình, nam mệnh, hoặc chồng, nữ mệnh, lão niên chủ con. Nam mệnh xếp mệnh bàn, đoán mệnh cách, trước tiên xem sao Thái Dương.

  • Hóa Lộc nhập Mệnh viên, Quan Lộc, Tài Bạch: có thực quyền, là cách ông chủ, không cần xem Tứ Hóa khác, có thể đoán thẳng.
  • Hóa Lộc nhập Tử Tức, Điền Trạch, Nô Bộc, Huynh Đệ: làm được ông chủ nhưng không thực quyền, là cổ đông hợp tác.
  • Hóa Lộc nhập Phụ Mẫu: làm ông chủ cũng không thực quyền, kinh doanh văn thư mà người khác nắm quyền.
  • Hóa Lộc nhập Tật Ách: cung duy nhất tuyệt không có mệnh ông chủ.
  • Hóa Lộc nhập Phúc Đức, Phu Thê: có mệnh ông chủ vì phản chiếu Tài Bạch và Quan Lộc, nhưng không thực quyền. Người đi làm thuê mà Thái Dương hóa Lộc nhập Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch thì có mệnh làm quản lý nắm thực quyền.
  • Hóa Quyền là khởi nghiệp của nam giới; nhập Tử Tức, Điền Trạch thì có hành động khởi nghiệp làm kinh doanh. Nữ tính không được nhập Mệnh cung, nam tính không được nhập Phu Thê: nữ mệnh cứng, có tài, lao lực, nắm quyền nhưng hôn nhân không mỹ mãn. Hóa Quyền cũng không được nhập Phụ Mẫu, vì Phụ Mẫu là Điền Trạch của Phu Thê, nên vợ có tài mà hung dữ. Nữ mệnh Thái Dương hóa Quyền không được nhập Điền Trạch: trong nhà xưng hung nắm quyền.
  • Hóa Kỵ là điềm hung, cấm nhập Quan Lộc: sự nghiệp suy bại, không phấn chấn. Thái Dương chủ nam nhân nên nhập cung lục thân thì lục thân nam giới có tổn. Hóa Kỵ lại chủ Tật Ách, liên quan đến thân thể. Hóa Kỵ xung Mệnh cung thì có tai ách hiển hiện. Tai ách ấy ứng vào trưởng bối nam nếu còn, nếu không còn thì ứng vào chính mình; ở nữ mệnh là chồng.
  • Nếu Thái Dương hóa Lộc nhập Quan Lộc mà hóa Kỵ cũng cùng nhập Quan Lộc: vì Lộc nhập Quan Lộc là mệnh ông chủ nên không kiên nhẫn làm thuê lâu dài; còn Kỵ nhập Quan Lộc là sự nghiệp nhiều sóng gió không thuận.

Đẩu giáo kết hợp Hà Lạc lý số, chủ yếu ở chỗ xem khí số.

Vũ Khúc: sao tiền tài, tướng tinh và Quả Tú

Vũ Khúc kiếm tiền bằng nghề chính đáng, nhưng chỉ một lần Hóa Kỵ là đủ thành sao cô quả.

Vũ Khúc thuộc Dương Kim, màu trắng sữa, ở vật phẩm chủ là lon đồ hộp. Đây là tài tinh, tướng tinh, và là Quả Tú khi hóa Kỵ.

  • Hóa Lộc nhập Điền Trạch, Tài Bạch: cả đời không sợ thiếu tiền vì sẽ kiếm tiền. Nhập Mệnh: tính cương cường mà cũng rất biết kiếm tiền.
  • Hóa Quyền nhập Mệnh: tính cương cường, vì Hóa Quyền là tướng tinh. Nam mệnh không được nhập Phu Thê, nữ mệnh không được nhập Mệnh, vì tính cương cường. Nhập cung lục thân thì lục thân ấy nắm quyền. Hóa Quyền cũng không được nhập Tật Ách: trên thân thể nhiều tai ách, nhất là nữ mệnh phần lớn sẽ sảy thai, bởi tướng tinh không được vào Tật Ách.
  • Hóa Khoa: chủ tài, vì là chính tài chi tinh.
  • Hóa Kỵ: bất kể nam nữ không được nhập Quan Lộc xung Phu Thê, hoặc nhập Phu Thê xung Quan Lộc, vì muốn kết hôn có khó khăn hoặc kết hôn rồi ly hôn; Hóa Kỵ là Quả Tú, chủ cô quả. Vũ Khúc tọa cung có can hóa Kỵ nhập Điền Trạch: lập gia đình rất khó khăn, nhưng không phải vô duyên, đôi khi bạn khác giới rất nhiều.
  • Hóa Kỵ không được nhập Mệnh: nhập Mệnh thì phải nhận thần làm cha mẹ nuôi, hoặc nhận làm con thừa tự của người thân đã mất, hoặc làm con nuôi cho người ngoài, hoặc là con ngoài giá thú. Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Mệnh gặp Thiên Cơ, ngoài những điều ấy còn từ nhỏ ăn chay; hóa Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh cũng cùng nghĩa.
  • Vũ Khúc tọa cung Ất, Thiên Cơ hóa Lộc nhập Tài Bạch: Thiên Cơ là sao trí tuệ, Vũ Khúc hóa Lộc là chính tài, nên dựa vào trí tuệ, đầu óc để kiếm tiền. Nhưng nếu Thiên Cơ ở Tài Bạch can Mậu tự hóa Kỵ thì lục thân nam trong nhà không giúp được về tiền; lục thân nữ thì có thể giúp.
  • Vũ Khúc tọa cung Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Tài Bạch: Tham Lang vừa là đào hoa vừa là tài tinh, nên có thể dựa vào ăn uống, nghề phục vụ để kiếm tiền.
  • Vũ Khúc hóa Lộc nhập Tài Bạch chắc chắn kiếm tiền, nhưng dựa vào đâu có thu nhập thì phải xem tính chất của sao hóa, tình của sao, ý nghĩa của sao hóa.

Thiên Đồng: sao phúc thọ hay có nạn mà giải được

Hóa Lộc vào đúng chỗ thì hưởng phúc, hóa Kỵ vào đúng chỗ thì mất luôn phép giải ách vốn có.

Thiên Đồng thuộc Dương Thủy, màu trắng sữa, là sao của phúc và thọ.

  • Hóa Lộc nhập Phúc Đức là tốt nhất, có hưởng thụ. Là phúc thọ chi tinh nên thích nhập Phúc Đức, Tật Ách: có nạn thì giải được, nên lại thọ. Hóa Lộc không được nhập Quan Lộc, Tài Bạch và Mệnh cung, vì người ấy không thích làm việc.
  • Hóa Kỵ nhập Phúc Đức, Tật Ách: phúc tinh hóa Kỵ thì mất tính giải ách nên thân thể không tốt. Nhập Quan Lộc: trong sự nghiệp không có quý nhân giúp, chính mình lao lực mà không có phúc.
  • Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Tài Bạch: kiếm tiền ít hơn người khác, thu nhập không đủ sống. Nhập Mệnh: không có mệnh hưởng phúc mà lao lực, dù cố gắng làm việc cũng kiếm tiền không đủ sống; lại là người lười thành tính, không thích làm việc, kiếm được tiền cũng có phúc mà không biết hưởng, có cơ hội cũng không nắm được.
  • Nếu hóa Kỵ nhập cung lục thân thì lục thân ấy không phúc, không hưởng thụ, thân thể không tốt. Nhập Nô Bộc: không có bạn tốt.

Liêm Trinh: đào hoa, Quan Lộc và cờ bạc đầu cơ

Liêm Trinh thuộc Âm Hỏa, màu đỏ thắm. Đây là chủ tinh của Quan Lộc, là đào hoa, và thuộc cờ bạc: không phải loại cờ bạc chính thống như chứng khoán mà là đầu cơ không định tính. Quan Lộc của Liêm Trinh thuộc âm, thuộc nội bộ, nên chủ trạng thái kinh doanh, trạng thái kiếm tiền.

  • Hóa Lộc nhập Mệnh cung, Quan Lộc, Tài Bạch: làm việc thuận lợi. Nhập Điền Trạch: trong nhà bình an. Nhập Mệnh cung, Điền Trạch: có tài mà mang đào hoa. Nhập cung lục thân: lục thân ấy có duyên khác giới, thuộc đào hoa ngầm.
  • Hóa Kỵ: trên thân thể là các bệnh tạp, bệnh nghi, bệnh khó, bệnh ám, hoặc bệnh âm của nữ giới. Nhập Tật Ách, Phúc Đức: tai ách, tai họa bất ngờ, tai nạn xe, ngã bị thương; Thiên Di xung Mệnh cùng nghĩa.
  • Liêm Trinh hóa Kỵ lại là sao thị phi. Nhập Tử Tức, Điền Trạch: trong nhà nhiều thị phi hoặc quan phi hành chính. Nhập Phu Thê, Điền Trạch: thị phi trong sự nghiệp, quan phi hành chính. Nhập Tài Bạch: phiền phức thị phi về tiền tài. Nhập Phụ Mẫu: có thị phi hành chính. Phải dùng tính chất của sao hóa mà đoán cho hợp lý.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn