Bài tổng quan
Hình phú Thái Dương: Sao quan quý và độ sáng từng cung
Đi thuận chiều mặt trời thì bóng đổ về sau lưng, quay lưng lại thì cái bóng chắn ngay trước mặt — hai lối đi ấy làm nên khác biệt giữa Nhật Nguyệt đắc vị và Nhật Nguyệt phản bối. Vậy mà lắm danh nhân, lắm người giàu có lại rơi đúng vào cách bị coi là bạc bẽo kia. Chỗ hóa giải nằm ở bốn chữ người xưa để lại: siêng năng bù được vụng về…
Mục lục · 22 phần
- 01Ý tượng cơ bản của Thái Dương
- 02Tính chất của Thái Dương
- 03Thái Dương tọa mệnh ở cung vượng và cung hãm
- 04Độ sáng của Thái Dương đổi theo mười hai giờ
- 05Sao quan quý, quang minh lỗi lạc
- 06Thái Dương và Thái Âm là cặp sao phối hợp với nhau
- 07"Nhật Nguyệt phản bối" chưa hẳn đã kém
- 08Thái Dương tinh giải: quay lưng với ánh sáng thì bóng ở phía trước
- 09Nhật Nguyệt ở cung vị thích đáng
- 10Một ví dụ: Thái Dương tọa cung Tuất
- 11Nhật Nguyệt mất sáng và duyên phận với cha mẹ
- 12Thái Dương độc tọa ở cung Tí hoặc Ngọ
- 13Thái Dương ở cung Ngọ là "Nhật lệ trung thiên"
- 14"Thái Dương, Thái Âm" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi
- 15Thái Âm là âm thủy, tâm tư tinh tế
- 16"Thái Dương, Cự Môn" ở cung Dần hoặc Thân
- 17Người Cự, Nhật đồng cung
- 18"Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão hoặc Dậu
- 19Thiên Lương gặp Thái Dương thì bớt cứng
- 20Thái Dương độc tọa ở cung Thìn hoặc Tuất
- 21Hai cung Thìn, Tuất là Thiên La Địa Võng
- 22Thái Dương độc tọa ở cung Tị hoặc Hợi
Ý tượng cơ bản của Thái Dương
Thái Dương là chủ tinh của Trung Thiên, hóa khí làm "quý", là thần quang minh, là sao chưởng quản "ánh sáng", "quyền quý"; vừa văn vừa võ; ngũ hành thuộc dương hỏa, ở trên trời là mặt trời, có công năng phát tán nhiệt lực, chủ động, tích cực, có tính chất của người lãnh đạo. Thái Dương là chủ về quan lộc, nhập cung quan lộc là đắc vị, có thể biểu hiện rõ ràng công năng của Thái Dương.
Ý tượng. Thái Dương tượng trưng sự quang minh, cho nên có ý nghĩa của quẻ Li, chủ về giáo hóa, thành tựu, lỗi lạc, lấy tính quang minh để soi rọi chính nghĩa.
Tượng trưng về sự nghiệp và sự vật. Pháp luật, pháp y, chính trị, văn hóa, mậu dịch, truyền bá, bảo hiểm, sự nghiệp từ thiện, nguồn năng lượng điện quang; những gì có đặc trưng là phát tán, lí tưởng và quan niệm mở rộng, phục vụ nhiệt tình, có ý đồ tạo dựng sự nghiệp to tát, lấy tính chuyên nghiệp và mức độ nổi tiếng để kiếm tiền.
Tính chất của Thái Dương
Thái Dương có thể phát ra ánh sáng, phát ra nhiệt; vì vậy hào quang chói mắt; trong đời người nó chủ về thanh danh và hiển quý, trừ phi hội hợp với sao tài phú, nếu không, sẽ chủ về quý, mà không chủ về phú.
Thái Dương trong mệnh bàn, sẽ theo mười hai giờ địa chi mà thay đổi độ sáng, chiếu theo thời gian mọc lặn mà hiển thị độ mạnh yếu: miếu, vượng, cường, nhược. Từ cung Sửu đến cung Mùi, Thái Dương là vượng; từ cung Thân đến cung Sửu, Thái Dương là hãm.
Ánh sáng, hấp tấp, nóng nảy, tích cực, chủ động, bác ái, nhân từ, nhiệt tình, uy nghiêm, kiêu ngạo, xung động, tính hấp tấp, thiếu nhẫn nại, thích làm việc công ích, cứu tế, chú trọng thân phận, địa vị và thể diện.
Thái Dương tượng trưng cho tính dương, đại biểu cho cha và bản thân nam mệnh hoặc con trai; nữ mệnh đại biểu cho chồng. Có thể dùng để luận đoán về cha; khi cha không còn thì đại biểu cho bản thân nam mệnh; nữ mệnh thì lấy Thái Dương làm đại biểu cho chồng, khi chồng không còn thì đại biểu cho con trai.
Thái Dương tọa mệnh ở cung vượng và cung hãm
Nếu Thái Dương tọa mệnh ở cung vượng, nam mệnh: tính tình hào sảng, ưa thích thi ân, làm việc thiện, chí khí cao ngạo, thông minh lanh lợi, có tầm nhìn về cục thể và tích cực truy cầu sự trác việt, kiêu ngạo tự tôn.
Nếu tọa ở cung hãm thì làm việc có đầu không đuôi, sức bền không đủ, trước siêng sau lười, cầu học nhưng học không sâu, cũng có hàm ý hào nhoáng mà không có thực chất.
Thái Dương tọa mệnh ở cung vượng, nữ mệnh: tính cách trinh liệt, hào sảng, có khí khái đàn ông, phần nhiều là người thông minh tài trí, có thể tranh cao thấp và có ưu thế trong nghề nghiệp, hơn nữa còn mẫn tuệ tốt bụng, phúc lớn, độ lượng.
Nếu tọa ở cung hãm, tính tình hấp tấp, lao tâm, thành công nhiều mà thất bại cũng nhiều, vất vả, siêng năng nhưng nhiệt tình sôi nổi nhất thời, con đường tình cảm cũng nhiều chao đảo.
Hình thái. Dáng người hùng tráng, mặt vuông hơi tròn. Bộ vị cơ thể đại biểu là tròng mắt, tim mạch, đại trường.
Vị trí địa lí. Lầu cao, những vật thể nhô ra như tháp bằng sắt — trụ điện lớn, trụ thu phát sóng… — cột điện cao áp.
Độ sáng của Thái Dương đổi theo mười hai giờ
Lấy giờ để nói: giờ Tí là mười một giờ đêm đến mười hai giờ năm mươi chín phút ngày hôm sau, còn giờ Sửu là từ một giờ đến hai giờ năm mươi chín phút, còn lại cứ vậy mà suy ra thì có thể tưởng tượng ra độ sáng của Thái Dương — mặt trời.
Cho nên Thái Dương ở vào cung ban ngày là vượng — miếu, vượng là các sao ở vào trạng thái tốt nhất; còn ở vào cung ban đêm là hãm địa — lạc hãm là các sao ở vào hoàn cảnh không thích hợp, có thể khiến cho cát tinh thì vô lực, hung tinh thì tăng tính hung, khuyết điểm dễ xuất hiện.
Lúc Tử Vi ở cung Tí, thì Thái Dương nhập cung Dậu, là mô thức tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương". Lúc Tử Vi ở cung Ngọ, thì Thái Dương ở cung Mão, cũng là tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương". Thái Dương ở cung Mão nhiệt lực nhất định mạnh hơn ở cung Dậu, cho nên lúc luận giải mệnh bàn, không thể vì đều là tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương" mà đưa ra luận đoán giống nhau.
Về phương diện Thiên Lương, nó cũng sẽ vì lực tác động của cung Mão thuộc mộc, cung Dậu thuộc kim, là địa khí khác nhau mà bị ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau.
Sao quan quý, quang minh lỗi lạc
Thái Dương là sao quan quý, quang minh lỗi lạc, chủ về công danh, quyền quý, trọng danh không trọng lợi, chủ về quý mà không chủ về phú, tính cách dương cương, lạc quan, khẳng khái, hiếu thuận, chăm lo cho gia đình, có lòng cứu tế phò nguy.
Thái Dương cũng giống Tử Vi và Thiên Phủ, thích được "bách quan triều củng", ưa gặp các cát tinh Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật để làm tăng thêm quý khí cho cách cục, chủ về người này tài kiêm văn võ, cuộc đời có thể có thành tựu lớn.
Mức độ dục vọng truy cầu quyền thế và danh vọng của Thái Dương chỉ kém Tử Vi. Tình hình nó ở trong mệnh bàn có thể đoán ra thành tựu cao thấp về học vấn và sự nghiệp của một người. Nhưng Thái Dương cũng có hàm ý hình khắc và thị phi.
Thái Dương và Thái Âm là cặp sao phối hợp với nhau
Hai sao Thái Dương và Thái Âm là cặp sao phối hợp với nhau; lúc cổ nhân mang Thái Dương và Thái Âm ở trên trời đưa vào mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, là hàm chứa rất nhiều huyền cơ. Nếu nói trong thế giới Tử Vi Đẩu Số người ta lấy hai sao này làm chủ đạo thì cũng không phải là quá; thực ra, Tử Vi là trời, Thiên Phủ là đất, ban ngày có Thái Dương, ban đêm có Thái Âm.
Thái Dương xuất hiện vào ban ngày — từ Dần đến Ngọ — thì Thái Âm tất nhiên sẽ xuất hiện vào ban đêm — từ Thân đến Tí.
Người được Nhật, Nguyệt đắc vị thì đời người ít khổ sở, cá tính đại khái là cởi mở, chủ động, tích cực, tự tin, nhiệt tình và có khí chất lãnh đạo; lúc gặp vấn đề khổ não cũng sẽ dễ vượt qua, người khác giới hay đồng giới đều thích họ. Có lúc biểu hiện bề ngoài của họ quá ư lạc quan, nhưng nội tâm thực ra đang ẩn chứa nhiều điều ưu phiền.
Dưới ánh mặt trời tất phải có bóng râm, vì vậy cung tam phương của Thái Dương luôn luôn thấy Cự Môn.
Người có Thái Dương mất sáng thường thấy ý chí không được kiên định, chỉ sôi nổi nhất thời hoặc lúc đầu siêng lúc sau lười, hào nhoáng mà không có thực chất; người này nội tâm lo nghĩ nhiều, cũng khá vất vả.
Nhật, Nguyệt còn đại biểu cho cha mẹ, cho nên có liên quan đến duyên phận tình thân và sự che chở của bậc trưởng bối về phương diện sự nghiệp, tài chính của mệnh tạo.
"Nhật Nguyệt phản bối" chưa hẳn đã kém
Về lí luận, người bị Nhật Nguyệt phản bối — trở mặt — rất khó có thành tựu. "Nhật Nguyệt phản bối" là vị trí của Thái Dương ở từ cung Thân đến cung Tí, còn vị trí của Thái Âm ở từ cung Dần đến cung Ngọ. Các trường hợp này so với các trường hợp Thái Dương và Thái Âm ở đúng vị trí, khác nhau thế nào? Đây cũng là hướng nghiên cứu tìm hiểu khá thú vị trong Tử Vi Đẩu Số.
Trên thực tế, người thuộc cách cục "Nhật Nguyệt phản bối" không nhất định sẽ có thành tựu trong xã hội kém hơn người thuộc cách cục "Nhật Nguyệt ở đúng vị trí"; tuy có thể lúc nhỏ nguồn vốn vận dụng của họ không bằng người khác, nhưng nếu họ không ngừng chăm chỉ, cần mẫn trong hoàn cảnh gian nan, thì có lúc cũng sẽ nảy sinh cơ hội chuyển biến, bao nhiêu vất vả rốt cuộc cũng có thành tựu. Một người chỉ cần cố ý nỗ lực thì sẽ có cơ hội đạt được cảnh giới như lí tưởng, có thể có cơ hội "nhân định thắng thiên".
Thái Dương tinh giải: quay lưng với ánh sáng thì bóng ở phía trước
Đi theo mặt trời hay quay lưng lại với nó, cái bóng ngả về phía nào, chuyện ấy cũng là một lối xem mệnh.
Hướng theo đường đi của mặt trời, sẽ để lại cái bóng phía sau; quay lưng lại với đường đi của ánh dương quang, cái bóng sẽ ở phía trước.
Trong Tử Vi Đẩu Số, Thái Dương ở cung Ngọ gọi là "Nhật lệ trung thiên", lúc đó bóng râm rất ít, mà còn bị đạp dưới chân; phản nghĩa của "che giấu cái dơ bẩn" là "bày ra dưới ánh dương quang", cũng chính là nói, dưới ánh dương quang mọi thứ dơ bẩn, ô uế đều khó có chỗ trốn.
Mặt trời phát tán ánh sáng là phóng xạ chủ động, còn ánh sáng của mặt trăng là phản chiếu ánh dương quang, là một loại phản xạ bị động. Cho nên độ sáng, nhiệt độ của hai sao này không tương đồng.
Thông thường người ta đi tắm nắng, chỉ có những cặp tình nhân và thi nhân có nhã hứng mới đi "tắm trăng". Ban đêm mới có không khí lãng mạn, mới có nhã hứng, thích hợp cho các đôi tình nhân tâm sự.
Trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, lúc vị trí Thái Dương và Thái Âm tọa lạc được gọi là "Nhật Nguyệt phản bối", tức là vị trí của Thái Dương ở từ cung Thân đến cung Tí, còn vị trí của Thái Âm ở từ cung Thân đến cung Ngọ.
Những người ở vào trường hợp ngược lại như thế nào? Đã có "Nhật Nguyệt phản bối" tất phải có chỗ khác nhau với "Nhật Nguyệt chính tọa".
Thái Dương xuất hiện vào ban ngày — từ cung Sửu đến cung Ngọ — tất nhiên Thái Âm sẽ tọa lạc vào ban đêm — từ cung Mùi đến cung Tí; cá tính của người này khá trong sáng. Còn trường hợp "Nhật Nguyệt phản bối" là chủ về nhiều lo nghĩ, vất vả và cũng nhiều.
Về lí luận, người thuộc cách "Nhật Nguyệt phản bối" khó đạt được thành tựu, nhưng trong thực tế, có rất nhiều danh nhân và tỉ phú là thuộc nhóm mệnh cách "Nhật Nguyệt phản bối"; điều này khiến cho người ta phải nhớ đến câu cổ nhân nói "siêng năng có thể bù đắp chỗ kém cỏi":
Cần năng bổ chuyết.
Nhật Nguyệt ở cung vị thích đáng
Người có Nhật Nguyệt ở cung vị thích đáng thì đường đời sẽ ít khổ sở. Nói "ở cung vị thích đáng" là chỉ Thái Dương tọa từ cung Dần đến cung Ngọ, Thái Âm tọa từ cung Thân đến cung Tí.
Thái Dương và Thái Âm tùy theo tọa cung mà có các tình huống vượng tướng, lạc hãm, mất sáng. Cũng cùng một lí, các sao khác ở các cung vị khác nhau cũng có tình trạng miếu vượng, lạc hãm; vì giữa thuộc tính ngũ hành của các sao và thuộc tính ngũ hành của cung vị có mối tương quan sinh khắc chế hóa.
Trong ý tượng cơ bản, người có Thái Dương mất sáng thường thấy ý chí không kiên định, chỉ sôi nổi nhất thời hoặc lúc đầu siêng lúc sau lười, hào nhoáng mà không có thực chất. Thực ra những hình dung về mặt trái này có thể nói là bệnh thường thấy của con người.
Một ví dụ: Thái Dương tọa cung Tuất
Lấy trường hợp Thái Dương tọa cung Tuất của ông X để làm ví dụ, có thể sẽ nhận định ông ta là "hào nhoáng mà không có thực chất"; thực ra câu hình dung này chỉ có thể áp dụng ở "phương diện tinh thần" của ông ta.
Hơn nữa, từ rất nhiều biểu hiện của mệnh tạo có thể thấy được ông ta không phải là người có ý chí bạc nhược. Như vậy lí luận về Thái Dương trong Tử Vi Đẩu Số không áp dụng được đối với ông ta? Hay là có điều gì đó chưa được biết đến?
Mệnh bàn thứ nhất: Cự Môn thủ mệnh tại cung Ngọ, Thái Dương Hóa Lộc ở cung quan lộc.
| Tị Huynh Đệ Liêm Trinh Tham Lang | Ngọ Mệnh Cự Môn | Mùi Phụ Mẫu Thiên Tướng | Thân Phúc Đức Thiên Đồng Thiên Lương |
| Thìn Phu Thê Thái Âm Khoa | Dậu Điền Trạch Vũ Khúc Thất Sát | ||
| Mão Tử Nữ Thiên Phủ | Tuất Quan Lộc Thái Dương Lộc | ||
| Dần Tài Bạch Vô chính diệu | Sửu Tật Ách Tử Vi Phá Quân | Tí Thiên Di Thiên Cơ | Hợi Nô Bộc Vô chính diệu |
Hóa Lộc năm sinh của ông X là ở "ngã cung", Hóa Kị năm sinh cũng ở "ngã cung" — cung phúc đức; về lí luận, có thể đoán định cuộc đời có thành tựu là nhờ bản thân nỗ lực.
Nói một cách khác, "dục vọng" của ông X bất luận có đoan chính hay không, mọi mưu cầu của ông đều thu được kết quả tốt; cũng vì "hào nhoáng mà không có thực chất", cho nên công phu chăm chút bề ngoài của ông rất ra dáng là "ông lớn".
Nếu Hóa Kị là nhập "tha cung", thì những câu hình dung như "chỉ sôi nổi nhất thời" mới ứng trên người mệnh tạo. Cũng cùng một lí, lúc một cô gái đến tuổi thành niên có thể kết hôn, thì Thái Dương là tượng trưng cho "chú rể", việc có tứ hóa hay không ở trong cung nó tọa lạc sẽ có rất nhiều vấn đề để đào sâu nghiên cứu.
Nhật Nguyệt mất sáng và duyên phận với cha mẹ
Mệnh bàn của ông X là Cự Môn tọa mệnh ở cung Ngọ, cung quan lộc ở Tuất, trong cung có Thái Dương Hóa Lộc tọa thủ, còn cung phu thê thì có Thái Âm Hóa Khoa; Nhật và Nguyệt tọa cung đều mất sáng.
Thái Dương là chủ quan lộc lại không đắc vị; một sự thực khác là Nhật, Nguyệt chia ra nhập cung Thiên La Địa Võng, thấy Thái Âm Hóa Khoa, còn Thái Dương Hóa Lộc.
Lúc mệnh tạo còn chưa thành niên, "Nhật, Nguyệt" là biểu trưng của cha mẹ; "Nhật, Nguyệt" mất sáng cho nên đối với ông, cha mẹ trợ lực không nhiều, không cung cấp đủ nguồn tài chính cho ông.
Nhưng trong cung thấy Nhật, Nguyệt Hóa Khoa và Hóa Lộc, là hôn nhân của song thân kiện toàn, là người trung hậu chất phác.
Giả thiết mệnh bàn có kết cấu cùng dạng, nhưng năm sinh Giáp, như vậy mệnh tạo sẽ có hai mẹ — Thái Dương Hóa Kị, còn cung huynh đệ thấy Liêm Trinh Hóa Lộc: một là, song thân li dị, cha tái hôn; hai là, mẹ ruột qua đời, cha tục huyền; ba là, cha của mệnh tạo có hai vợ. Càng có thể đoán quan hệ giữa mệnh tạo với cha không được hòa hợp, mà thân thiết với mẹ hơn.
Thái Dương độc tọa ở cung Tí hoặc Ngọ
Mặt trời đứng chỗ nào trên bầu trời thì soi tới chỗ ấy; nay lần lượt xem nó đứng ở từng cung một.
Mặt trời đứng ở đâu trên bầu trời thì soi tới đó; nay lần lượt xem nó đứng ở từng cung một.
Thái Dương độc tọa ở vượng địa, phần nhiều là người chủ động, tích cực, có chí tiến thủ; đặc biệt là Thái Dương ở các cung Thìn, Tị, Ngọ càng đầy sức sống và nhiệt lực.
Họ rất nhiệt tình, lòng tự tin mạnh, có duyên với người khác giới; về tính cách, thích cạnh tranh, trong danh dự, có khuynh hướng theo đuổi công danh, quyền quý, đối với các hoạt động nhằm có địa vị trong xã hội họ đều rất nhiệt tâm.
Chỉ cần mệnh cách không gặp Địa Không, Địa Kiếp phá hoại, mà còn gặp cát tinh và tứ hóa hợp cách, sẽ dễ nổi bật trong lãnh vực chuyên nghiệp.
Còn Thái Dương ở các cung Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu là lúc hoàn toàn mất sáng, chủ về người này một đời vất vả và bôn ba, dù có các cát tinh tụ hội, vẫn không thể giảm bớt khó nhọc, vất vả.
Thái Dương ở cung Ngọ là "Nhật lệ trung thiên"
Thái Dương ở cung Ngọ được gọi là cách cục "Nhật lệ trung thiên", lúc đó bóng râm rất nhỏ, mà còn bị mệnh tạo đạp dưới chân; cổ thư cho rằng là đại phú đại quý.
Nhưng kiểm tra thực tế cho thấy, cách cục này lại hiềm là quá nổi bật, tài phúc tản mất, dễ chuốc đố kị, oán thù; giống như ánh nắng chính ngọ hừng hực của buổi trưa hè khiến cho người ta khó mà chịu nổi, hỏa khí quá độ cũng dễ dẫn đến rối loạn nhịp tim, đánh trống ngực, cảm thấy bất an, thậm chí huyết áp bất thường.
Lúc này rất ưa có Lộc Tồn để thu bớt nhiệt lực quá ư phát tán, để gom tụ ánh sáng quá phát tán, càng thêm phú quý, tránh có mĩ danh "trống rỗng", "hào nhoáng mà không có thực chất".
Thái Dương ở cung Tí hoặc Ngọ ngoại trừ có biểu hiện cởi mở, sảng khoái, trọng bạn, giữ chữ tín, phần nhiều còn có thái độ xử sự tế nhị vững vàng và mưu lược già dặn, đặc biệt không biểu lộ hỉ nộ.
Họ có kinh nghiệm đời, thấu hiểu nhân tình thế thái tinh tế, xử sự phân minh; lúc giao tiếp với người khác luôn giữ khoảng cách lễ độ bình đạm, nhưng trong nội tâm thì rất có ngạo khí và tính xung động.
Nếu Thái Dương có Hóa Kị và sát tinh đồng cung, cá tính vốn hòa hợp, không nóng vội lại biến thành thiếu nhẫn nại và giỏi phê bình, có lúc vô ý hữu ý nói thẳng không kiêng dè, thành lí do cho người phục thì tôn mệnh tạo làm đại ca, người không phục thì ngấm ngầm chống đối.
Do đó, Thái Dương ở cung Tí hoặc Ngọ tuy dễ nổi bật trong những nghề nghiệp có mô hình lớn, nhưng cũng dễ rơi vào cảnh bị chống đối ngấm, tiểu nhân xúm lại đè ép.
Nhất là trường hợp Thái Dương ở cung Tí, là thủy địa khắc hỏa khí của bản thân, tính chất nhiệt tình và tích cực sẽ suy kém dần, dẫn đến tình trạng thiếu dũng khí đối mặt với trắc trở và năng lực xung phong vào chốn chông gai.
Nếu lại gặp tổ hợp sao không tốt, dễ thành người hay tính toán, biếng nhác, thờ ơ, làm việc ít thành, nội tâm cũng dễ cảm thấy cô lập, lòng lo đau đáu.
"Thái Dương, Thái Âm" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi
Thái Âm thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi, ắt đồng cung với Thái Dương, là người sáng suốt, tỉ mỉ, kĩ càng, giỏi quan sát, có mưu lược, có năng lực lí luận, lập kế hoạch và tổ chức, còn có tính kiêu ngạo, tự phụ.
Thái Dương có tính cương, tự thị có tầm nhìn cao xa, khí thế dương dương, sẽ không vì gặp Thái Âm mà giảm bớt các tính chất này, mà sẽ thấy cùng xuất hiện với tính chất của Thái Âm.
Nếu hai loại cá tính này không cách nào dung hợp hợp lí, tính cách sẽ hay thay đổi, lúc thì nhiệt tình, lúc thì lãnh đạm, thường khiến người ta không cách nào đoán được.
Nam mệnh thì cởi mở, sảng khoái, nhưng không được thuần túy, hay mâu thuẫn, do dự; nữ mệnh thì đoan trang nhu mì nhưng thiếu tạo nhã bình hòa, cảm xúc dễ làm biến đổi sắc mặt.
Có thói quen mưu cầu tư lợi trong sự nghiệp, danh lợi; tâm trạng, tình cảm và công việc cũng dễ thay đổi. Nam mệnh nếu Thái Dương gặp sát tinh còn có hàm ý bất lợi trong nhà; do đó, cách cục này ưa sát tinh hội chiếu mà không ưa sát tinh tọa cung mệnh.
Thái Âm là âm thủy, tâm tư tinh tế
Thái Âm là âm thủy, tâm tư tinh tế, mẫn cảm, giàu sức tưởng tượng, nhu nhược bị động, hơi thần kinh chất, tâm trạng lên xuống thất thường, bề ngoài trông nhu hòa, bình tĩnh nhưng bên trong là tình cảm rất sôi nổi.
Thái Âm ở cung Sửu là thổ kèm dư khí thủy đương nhiên có lợi hơn ở cung Mùi, nhưng do Thái Dương ở cung Sửu không sáng, Thái Âm tuy ở vượng địa nhưng độ sáng cũng giảm, hành vi biểu hiện thường vượt ra ngoài quy củ và dễ tự đắc.
Tính cách nội tại thì mâu thuẫn nhau, có lúc chủ quan tích cực, có lúc thì bị động tiêu cực, đối với sự việc hơi thiếu cái nhìn toàn cục, dễ có tâm trạng tính toán so đo và suy nghĩ cân nhắc.
Nếu không gặp cát tinh mà có sát tinh chiếu hội, là chủ về gánh nặng tâm lí cực lớn, thường dùng dằng trong lúc tiến thoái, tuy bụng đầy khát vọng lí tưởng nhưng lại hay trù trừ, thiếu dứt khoát, dễ thay đổi mục tiêu; tính cách nóng lạnh thất thường, tâm trạng rối rắm, hỗn loạn; dễ thành người khoa trương phù phiếm, hơi thiếu thực lực, kết cục thường thường là dẫm chân tại chỗ.
Cung Mùi thuộc tính thổ còn dư khí hỏa, "Thái Dương, Thái Âm" đồng cung tại đây là tính hỏa của Thái Dương lớn hơn tính thủy của Thái Âm. Tính chất của Thái Âm giảm bớt, người như vậy lí tính và cảm tính sẽ có đủ, tâm trạng sẽ không vì tính mẫn cảm mà dao động, tác phong hành sự khá trong sáng và đại độ.
Nhưng do hai sao này kiềm chế nhau, nên lúc gặp chuyện khó quyết đoán, có khuynh hướng tự hạn chế mình, thích hợp phát triển trong hoàn cảnh ổn định, nhưng nếu được tôi luyện trong nghịch cảnh thì có thể kích phát tiềm lực vô hạn.
Trường hợp ở cung Mùi và có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt chiếu hội, là chủ về có khả năng làm việc độc lập, sự nghiệp có thành tựu.
Nếu được Lộc Tồn, sao Hóa Lộc, Thiên Mã chiếu hội thì có lợi về kinh doanh buôn bán. Nếu có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu hội, thì sự nghiệp không thuận lợi, hoặc tình cảm gặp nhiều sóng gió trắc trở, nữ mệnh càng bất lợi. Nếu gặp Địa Kiếp, Địa Không, Thiên Không thì bất lợi về tiền bạc, nhưng tính cách quang minh lỗi lạc.
"Thái Dương, Cự Môn" ở cung Dần hoặc Thân
"Thái Dương, Cự Môn" ở cung Dần hoặc Thân vị, vì Thái Dương ở cung Dần là mặt trời mới mọc, có thể giải "u ám" của Cự Môn, cổ nhân gọi là cách cục "Húc nhật đông thăng" — mặt trời buổi sớm mọc lên ở phương đông.
Đây chủ về người này có lí tưởng, có tham vọng, có chí tiến thủ, và bác ái. Tuy có kèm tính khép kín của Cự Môn nhưng rất có phong độ và công chính.
"Thái Dương, Cự Môn" ở cung Dần ưu hơn ở cung Thân, cá tính khá tích cực; đó là vì Thái Dương ở cung Thân là mặt trời đã lặn về tây, lực phát tán ánh sáng và nhiệt độ đã yếu; suy diễn rộng ra về cá tính, người này có biểu hiện đầu voi đuôi chuột, khó quán triệt từ đầu đến cuối.
Người Cự, Nhật đồng cung
Người Cự, Nhật đồng cung, tính tình thẳng thắn, tư tưởng tinh tế, rất mẫn cảm, xử sự cẩn thận vững vàng, còn có tài ăn nói.
Cự Môn vốn là sao thị phi, cũng là sao có tinh thần nghiên cứu, phân tích, nhưng thường quan sát sự tình từ góc độ tiêu cực, khá đa nghi, có khí chất u ám, thích "minh tranh ám đấu", giao du với người phần nhiều lúc đầu thiện lúc sau ác, chuyên chủ về điều tiếng thị phi, rất thích được Thái Dương miếu, vượng xua đuổi khí u ám.
Ưu điểm là chịu đựng được gian khổ vất vả, bảo thủ, thu vào; gặp cát tinh thì có thể phát huy khẩu tài, sự nghiệp có thành tựu; nếu có sát tinh chiếu hội phần nhiều dễ bị điều tiếng thị phi, chỉ cần phát tích cũng rất dễ bị đè ép.
Cự Môn thích hợp với công việc cần vận dụng khẩu tài; được Văn Xương, Văn Khúc chiếu hội thì lời nói càng tăng thêm sức thuyết phục, mới có thể "xu cát tị hung".
Người có hai sao này đồng cung, phần nhiều phong độ tiêu sái, tự nhiên, khẩu tài cực tốt, có năng lực dẹp bỏ điều xấu, còn có sở trường lập kế hoạch cho công việc rất tinh tế, thích hợp với các nghề nghiệp có tính chất phục vụ hoặc dùng miệng lưỡi để cạnh tranh.
Rất có duyên với người nước ngoài, nên học nhiều về tiếng nước ngoài để tăng cường năng lực giao lưu. Nếu tam phương có các sao đào hoa chiếu hội, cũng có thể phát triển trong giới biểu diễn nghệ thuật.
Nam giới thủ mệnh ở cung Dần, có duyên vợ chồng khá tốt, có thể lấy được vợ hiền thục, xinh đẹp, còn được vợ trợ lực. Nữ mệnh thì nên kết hôn muộn; về tình cảm, là người có dục vọng chiếm hữu khá mạnh, con đường tình nhiều sóng gió trắc trở, duyên với người khác giới rất tốt.
"Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão hoặc Dậu
Tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương" thủ mệnh ở cung Mão là mẫu người quang minh lỗi lạc, gọi là cách "Nhật xuất phù tang" — mặt trời xuất phát từ cây phù tang; lúc này, Thái Âm nhất định tọa lạc ở cung Hợi.
Phần nhiều đây là người có tính thân thiện, hòa nhã, xử sự tự nhiên còn rất nhiệt tình, không hèn mà cũng không kiêu, quan hệ giao tế rất tốt, có duyên với người chung quanh, có khí chất cao nhã, không thích dây dưa, dùng dằng, mà rất mau lẹ, thẳng thắn, rõ ràng; cho nên người thuộc cách cục này tất sẽ được nhiều người tín nhiệm, có danh tiếng tốt.
Người sinh ban ngày là thượng cách, bởi vì Thái Dương tại Mão là lúc mặt trời mọc lên ở phương đông, còn Thái Âm nhập cung Hợi cũng là vị trí mặt trăng rất thích, cho nên cách cục này khá cao quý.
Nhưng trường hợp "Thái Dương, Thiên Lương" thủ mệnh ở cung Dậu thì không phù hợp với các điều kiện của cách cục vừa kể; bởi vì Thái Dương ở cung Dậu đã mất sáng, mặt trời đã lặn về tây. Cổ nhân đánh giá mẫu người này quý mà không hiển, đẹp mà không có thực chất.
Thái Dương ở cung Mão là đất vượng tướng, nhiệt lực của nó nhất định mạnh hơn ở cung Dậu, có thể hóa giải khí "cô độc hình khắc" của Thiên Lương, khiến Thiên Lương giảm yếu tính chất "hình khắc" mà lộ rõ tính chất "phúc ấm".
Lúc luận giải mệnh bàn, không được vì đều là "Thái Dương, Thiên Lương" mà đưa ra lời đoán giống nhau; bởi vì cung Mão thuộc mộc, cung Dậu thuộc kim, sẽ có ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau đối với Thiên Lương.
Thiên Lương gặp Thái Dương thì bớt cứng
Bản thân Thiên Lương có tính chất thị phi phân minh và thường tự cho mình là đúng, không giỏi giao du, nặng tính nguyên tắc; trong lòng tự có thước đo để định lí lẽ phải trái, đúng sai, vì vậy họ là người khó thỏa hiệp, không thích bị ước thúc.
Lúc được Thái Dương ở cung Mão chiếu sáng, làm cho ấm áp, sẽ thay đổi tính cô độc, ngoan cố.
Cung Mão thuộc mộc, Thái Dương thuộc hỏa, Thiên Lương thuộc thổ, là cách cục sinh phù: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ; Thái Dương là sao lớn hơn Thiên Lương, ở trong tình trạng hỏa sinh thổ sẽ làm cho Thiên Lương thổ tăng thêm sức mạnh; cho nên người này sẽ tự động tự phát và có nhiệt tâm đối với việc công ích, nhưng cũng làm tăng thêm ý thức chủ quan.
Cổ nhân cho rằng, người thuộc cách "Nhật xuất phù tang", nếu không phải sinh ra trong gia đình phú quý, thì cũng là người tuổi trẻ đã đắc chí, tức là lúc còn trẻ đã có thể tạo ra thành tựu, thậm chí thanh danh còn truyền xa. Đương nhiên, nếu gặp phá cách thì phải nếm trải nhiều trắc trở.
Thái Dương độc tọa ở cung Thìn hoặc Tuất
Thái Dương ở cung Thìn, Tị là "thăng điện", có hàm ý là đầy hi vọng, có mục tiêu cao xa to tát.
Thái Dương ở cung Thìn gọi là "Nhật du long môn", lúc này "Nhật Nguyệt tịnh minh" — mặt trời, mặt trăng đều sáng; gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, chủ về lúc trẻ đã công danh hiển đạt, thân cận bậc quyền quý.
Thái Dương ở cung Tuất là cách "Nhật Nguyệt phản bối" điển hình, tuy bối cảnh xuất thân không bằng Thái Dương ở cung Thìn, nhưng gặp cát tinh là đại cách cục, không quý cũng phú.
Thái Dương ở vượng địa là chủ về tài học phong phú, kiến văn quảng bác, văn võ song toàn, nhiều bạn bè, đối đãi với bạn bè rất nhiệt tình và rộng rãi, thích giao du thù tạc, tính hấp tấp và ưa nắm quyền, phong lưu tự do, không thích bó buộc, có thái độ quan tâm và dịu dàng đối với người khác giới.
Rất có lợi đối với các công việc như văn hóa giáo dục, truyền bá, khoa học kĩ thuật, ngoại giao, mậu dịch, chính trị, y dược, luật… chức vụ thường thường ở cấp chủ quản.
Thái Dương ở cung Thìn nếu không gặp sát tinh và Hóa Kị, là chủ về hình tượng mạnh mẽ, tính tình cởi mở, sảng khoái, thông minh, tự tin, chân thành, nhiệt tình, phong độ tao nhã, siêng năng, nỗ lực, kì vọng cao vào bản thân, có lòng thương người và khí độ bao dung, có tinh thần hiệp nghĩa, trọng sĩ diện và thích có thân phận, địa vị.
Có duyên với người, miệng mồm lanh lợi, rất biết nói chuyện, xem trọng người nhà và gia đình, có chí hướng, có lí tưởng cao xa, có tinh thần toan tính cho tương lai, có lòng quan tâm đối với xã hội và con người, mẫn cảm tinh tế về tình cảm.
Hai cung Thìn, Tuất là Thiên La Địa Võng
Hai cung Thìn, Tuất là Thiên La Địa Võng, ít nhiều cũng giới hạn tính chủ động tích cực và tinh thần xung kích của Thái Dương, dễ vì sĩ diện mà không chịu khuất phục; theo đuổi mục tiêu không thực tế trong trắc trở khó khăn, khó thoát ra được; nhưng nếu gặp sát tinh thì trái lại, có thể kích phát Thái Dương xung phá gông cùm của Thiên La Địa Võng.
Bất kể ở cung Thìn hay cung Tuất, đều là cách cục bôn ba vất vả, thường thường thời kì đi qua hai cung hạn này nên phòng vì quá lạc quan, hoặc kiêu ngạo mà dẫn đến làm việc thiếu tính toán các tình huống cát hung họa phúc.
Gặp sát tinh, phần nhiều là người kiêu ngạo tự phụ và cố chấp, thiếu nhẫn nại mà vọng động, hiếu thắng, không biết chịu thua, trong lòng cũng có phần tư tư, tính toán so đo.
Thái Dương phát tán nhiệt tình ra bên ngoài, nhưng bên trong lại dễ bị tình trạng quá nghiêm đến mức khó chịu; tuy thành người nhà của Thái Dương sẽ được Thái Dương bảo vệ, nhưng quá gần gũi thì lại dễ bị uy nghiêm của họ làm tổn thương.
Nữ mệnh Thái Dương là người giỏi giang, vừa có lí tính vừa có cảm tính, có sức quyến rũ hấp dẫn sự chú ý của người khác giới, thế giới tình cảm phong phú, nhưng thường thường phải trải qua trắc trở mới nếm được vị ngọt của tình yêu.
Họ thường là người phụ nữ mạnh mẽ trước mặt người khác, là đại nữ nhân trong công việc, nhưng trong tình cảm và gia đình họ lại là người gánh vác trách nhiệm, khổ sở cho ra mà cũng không xong.
Thái Dương độc tọa ở cung Tị hoặc Hợi
Thái Dương ở cung Tị, tam phương sẽ được Thái Âm đắc vị, Cự Môn ở thủy địa, Thiên Lương ở cung Sửu, các sao đều đẹp.
Mệnh bàn thứ hai: Thái Dương độc tọa tại cung Tị.
| Tị Mệnh Thái Dương | Ngọ Phụ Mẫu Phá Quân | Mùi Phúc Đức Thiên Cơ | Thân Điền Trạch Tử Vi Thiên Phủ |
| Thìn Huynh Đệ Vũ Khúc | Dậu Quan Lộc Thái Âm | ||
| Mão Phu Thê Thiên Đồng | Tuất Nô Bộc Tham Lang | ||
| Dần Tử Nữ Thất Sát | Sửu Tài Bạch Thiên Lương | Tí Tật Ách Liêm Trinh Thiên Tướng | Hợi Thiên Di Cự Môn |
Đã có Thái Dương tâm tính cởi mở, sảng khoái và Thái Âm giỏi biết ý người, quan trọng hơn đó là đã hóa giải thiên tính "u ám" của Cự Môn và thiên tính "cô độc hình khắc" của Thiên Lương, làm tăng ưu điểm mà giảm khuyết điểm của các sao.
Nếu lúc này là Thái Dương cư Hợi, tuy là thời khắc Thái Dương hoàn toàn mất sáng, nhưng cũng sắp gần lúc tờ mờ sáng, dù khó nhọc, vất vả và bôn ba.
Nhưng phần nhiều vẫn có thể trông đợi và hi vọng ngày mai trời lại sáng; gặp cát tinh chiếu cố thì sau khi trải qua gian khổ sẽ có thành tựu.
Thái Dương ở cung Tị, chủ về người này tâm chí như mặt trời chói lọi, tính tình lạc quan, thẳng thắn, trung trực, hoạt bát, hướng ngoại, từ thiện, bao dung, trí tuệ cao, có năng lực quan sát, có tinh thần toan tính cho tương lai, ham muốn làm lãnh đạo, có nhuệ khí và tài năng, có nguyên tắc, có chí hướng cao xa, có khẩu tài, có năng lực nghiên cứu phân tích và lập kế hoạch.
Có bản sắc trượng nghĩa và trực ngôn, bụng dạ rộng rãi, có duyên với người khác giới, trọng sĩ diện, thích biểu hiện phẩm cách, có khẩu phúc, thích làm người phát ngôn trước đám đông, có thói quen nắm đại cục, ưa phát biểu ngôn luận nhưng không thích bị phê bình chỉ trích; một khi bị công kích sẽ dễ kích phát tính tranh cường hiếu thắng.
Gặp cát tinh là chủ về ý khí phát mạnh, tuổi trẻ đắc chí, thông minh, giỏi tính toán, có tinh thần cạnh tranh mạnh mẽ, kiêu ngạo, quật cường, thường không cách nào chịu lép vế hay thừa nhận mình sai lầm; có lúc cố chấp, kiên trì kiến giải của bản thân, cô độc và đa nghi, tâm tư dễ thay đổi. Gặp sát tinh, phần nhiều dễ phải đối mặt với sóng gió trắc trở, nhưng rốt cuộc có thể khắc phục được.
Thái Dương ở cung Hợi đương nhiên ưa được cát tinh phò trợ để tiến lên, nhưng vẫn bị động, bận rộn, khó nhọc vất vả, là cách cục thành tựu muộn.
Đáng mừng là được gặp cát tinh, có thể thành đại cục; trong hoàn cảnh thuận lợi, có thể tự tin phát huy khí độ và năng lực mưu tính sách lược; lúc gặp nghịch cảnh sẽ dễ có lối suy nghĩ tiêu cực, ngại vấn đề sĩ diện khiến vận thế càng trầm lắng.
Gặp sát tinh phần nhiều cuộc đời không ngừng gặp sóng gió, hoặc tâm tư biến thành xảo trá, tự oán tự trách, làm việc không có sức bền, nên phòng bị mặt đen tối của nhân tính và tính lười biếng chế ngự tâm tính.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
