Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Khai nghiệp, hạn kết hôn và cục số đọc từ Thất tinh

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh04/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Khai nghiệp, hạn kết hôn và cục số đọc từ Thất tinh

Muốn biết ngày khai trương có hợp mệnh mình hay không, người ta lập luôn một lá số cho giờ mở cửa hàng rồi đặt nó chồng lên lá số của chủ tiệm. Cùng cách ấy được đem thử vào chuyện tìm năm kết hôn, và kết quả còn nhiều chỗ chưa trúng. Còn năm nào khó đi thì chỉ cần cục số với tuổi là nhẩm ra…


Lập lá số cho ngày giờ khai trương rồi đặt lên lá số chủ tiệm

Giả sử ai đó chọn giờ Mão ngày mùng sáu tháng Giêng năm Giáp Tý để khai nghiệp hoặc nhận một công việc mới. Lấy đúng tháng, ngày, giờ ấy để an Thất tinh định điểm, dùng Tứ Hóa của định điểm kết hợp vào bản mệnh, rồi xem nó rơi vào cung nào của đại hạn thì biết năm hạn của sự nghiệp hay công việc đó.

Hùn vốn với cổ đông: khởi Thất tinh từ Tử Tức

Nếu là kinh doanh hợp tác với cổ đông thì lấy Tử Tức, vị trí của cổ đông, làm gốc để khởi Thất tinh định điểm.

  • Nếu hóa Kỵ xung Huynh Đệ hoặc Nô Bộc thì cổ đông tan rã.
  • Nếu Kỵ xung Mệnh thì bản thân rút cổ phần.
  • Nếu xung Quan Lộc hoặc Tài Bạch thì sự nghiệp không thuận, khó khởi sắc.
  • Nếu Thất tinh định điểm hóa Kỵ nhập Tài Bạch rồi nhập Quan Lộc thì kinh doanh khó làm, phải đợi Kỵ đi qua, có Lộc Quyền Khoa chiếu đến mới khá lên.

Từ nguyên tắc này có thể áp dụng vào bất kỳ cung nào để đoán nhiều việc.

Khai công tính từ lúc nào

Có người hỏi khai công được định nghĩa thế nào. Với xây dựng, lấy lúc đánh móng làm thời gian khai công. Với nhà máy thì lấy giờ đã chọn để tế cáo trời đất rồi khởi động máy móc làm thời gian khai công.

Thêm tuổi vào Thất tinh để đoán việc chi tiết hơn

Hai người cùng tuổi, cùng cung, nhưng Mệnh mỗi người nằm một chỗ; lá số phải phân biệt họ bằng điểm gốc.

Với nữ mệnh sinh năm Nhâm Thìn, Phu Thê của Thất tinh định điểm mang can Đinh, Cự Môn hóa Kỵ nhập Quan Lộc bản mệnh rồi xung Phu Thê. Đó cũng là Phu Thê năm Mậu Ngọ xung vào Mệnh cung đại hạn. Cách xem là lấy Phu Thê làm gốc khởi Thất tinh định điểm, vì đang hỏi chuyện chồng.

Chị 27 tuổi, 2 cộng 7 bằng 9, tức Quan Lộc, nên lấy Quan Lộc của năm Mậu Ngọ, năm can Canh, để đoán chuyện Phu Thê. Kết hợp Thất tinh với số tuổi sẽ cho kết quả chi tiết hơn. Quy tắc: lấy Thất tinh định điểm của bất kỳ cung nào làm số 1, đếm ngược tới cung vị mà số cộng tuổi chỉ ra, rồi dùng Tứ Hóa của can cung đó để đoán việc.

Với chị, Mệnh cung của Thất tinh định điểm là cung Tử Tức. Số cộng tuổi 2 cộng 7 bằng 9, nên lấy Tử Tức của lưu niên đếm ngược 9 cung tới cung can Đinh, rồi dùng Tứ Hóa của Đinh. Năm nay chị 32 tuổi, Thất tinh định điểm của lưu niên ở Tài Bạch, đếm ngược 5 cung (3 cộng 2) và dùng Tứ Hóa của can Giáp.

Vì sao phải kèm Thất tinh định điểm

Có người hỏi: Quan Lộc bản mệnh can Giáp, Phu Thê can Canh, Mệnh tọa Thái Dương, Lộc Kỵ giao chiến ngay ở Mệnh, thì duyên chồng vốn đã không rõ? Câu đáp là đúng, và vừa đúng năm Lộc Kỵ xung cung kết hôn thì mới hiện hung.

Chị lấy tuổi hiện nay là 3 cộng 2 bằng 5 để xem Tài Bạch lưu niên cũng được, nhưng muốn tinh tế hơn thì kết hợp số cộng tuổi với Thất tinh định điểm. Đoán vận lưu niên thì lấy Thất tinh định điểm của chính lưu niên ấy, kết hợp số cộng tuổi để tìm cung vị rồi dùng Tứ Hóa của nó. Nếu chỉ dùng cung vị của số cộng tuổi thì mọi người sinh năm Nhâm Thìn, 32 tuổi, 3 cộng 2 bằng 5, có Mệnh lưu niên đều ở Hợi, trọng điểm của tất cả đều rơi vào Đinh Mùi, cùng Tứ Hóa và cùng hành động, điều đó không hợp lý. Kết hợp Thất tinh định điểm mới hợp lý và có phân biệt, vì vị trí Mệnh cung mỗi người khác nhau nên Thất tinh định điểm cũng khác nhau.

Năm kết hôn: những đầu mối đang được thử

Người hỏi nêu lại chuyện của chị: năm 27 tuổi, Phu Thê lưu niên hóa Kỵ xung Mệnh lưu niên, vốn không nên kết hôn, mà cứ kết hôn thì có tai ương vợ chồng.

Với năm kết hôn, cần một góc nhìn thống nhất, nhưng hiện chưa rõ, nhiều chỗ chưa trúng. Có hai đầu mối đang thử:

  • Lấy cung mà Phu Thê bản mệnh hóa Kỵ rơi vào, dù có tự hóa hay không; phần lớn là kết hôn trong đại hạn đó. Chuyện Kỵ ở Phụ Mẫu xung Tật Ách, hoặc Huynh Đệ xung Nô Bộc đều không liên quan.
  • Lấy Phu Thê đại hạn hóa Lộc, Quyền hoặc Khoa nhập các cung 1, 5, 9, không xem Kỵ; nếu có nhập mà Kỵ nhập Điền Trạch năm đó thì năm ấy kết hôn. Phu Thê đại hạn hóa Lộc, Quyền hoặc Khoa mà Kỵ nhập Điền Trạch năm đó cũng có thể.

Dấu hiệu kết hôn trong lưu niên chắc có định số nằm trong đó, cần xác minh thêm, mong nhiều người cùng kiểm nghiệm để có góc nhìn chính xác hơn.

Những dấu hiệu đi kèm

  • Năm kết hôn mà gặp Cự Môn hóa Kỵ thì hôn nhân chắc có vấn đề, như không được cha mẹ đồng ý, hoặc chưa chính thức nhập hộ tịch.
  • Năm mà Phu Thê hóa Kỵ xung Mệnh thì tốt nhất đừng kết hôn; nếu cứ kết hôn thì chắc chắn có việc không như ý.
  • Lấy Phu Thê của Đẩu quân hóa Lộc nhập tam hợp của Phu Thê bản mệnh, hoặc tam hợp của Mệnh cung đại hạn hay Mệnh cung bản mệnh, rồi hóa Kỵ nhập Tật Ách hoặc Điền Trạch, thì đều có thể coi là hạn kết hôn.
  • Khi có người đến hỏi đã kết hôn chưa, lấy Tứ Hóa của Phu Thê Đẩu quân lưu niên: nếu nhập Mệnh cung bản mệnh hoặc Phu Thê bản mệnh thì đã kết hôn.

Hai năm 26 và 27 tuổi của nữ mệnh

Năm 26 tuổi Đẩu quân ở Đinh Mùi, Phu Thê can Ất ở Tỵ có Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Phúc Đức bản mệnh xung Tài Bạch. Xét về đối đãi thì lúc ấy chưa kết hôn, và vị trí Kỵ xung lại là Phu Thê của đại hạn. Năm 27 tuổi Đẩu quân ở Mậu Thân, Phu Thê can Bính ở Ngọ có Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Tử Tức đại hạn xung Điền Trạch. Phu Thê hóa Kỵ nhập Tử Tức đã là tượng đào hoa; Liêm Trinh hóa Kỵ nhập đúng vị trí Tử Tức đại hạn, trùng với Tật Ách bản mệnh, tức thân thể và đào hoa lẫn vào nhau, chuyện tình đã đi đến chỗ gần gũi thể xác.

Giả sử hôm nay nữ mệnh này đến hỏi: can Giáp có Liêm Trinh hóa Lộc nhập Tật Ách Đinh Mùi, chuyển thành Cự Môn hóa Kỵ nhập Quan Lộc xung Phu Thê; Giáp Thái Dương hóa Kỵ nhập Mệnh, chuyển Lộc can Nhâm Thiên Lương hóa Lộc nhập Thiên Di. Đó là Lộc chiếu Mệnh, Kỵ xung Phu Thê, có thể đoán chuyện vợ chồng. Ghi chú: nếu lấy Quan Lộc làm vị trí chồng tái hôn thì Quan Lộc can Giáp có Thái Dương hóa Kỵ nhập Mệnh, sang năm đại khái sẽ tái hôn; lại có Phu Thê đại hạn can Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Điền Trạch lưu niên 32 tuổi, nay đã chung sống, chi tiết chưa rõ. Phu Thê đại hạn can Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Điền Trạch bản mệnh, đào hoa rất rõ.

Phản cung Kỵ: Kỵ của đại hạn đụng vào Kỵ năm sinh

Có loại Kỵ khiến người ta mất tiền, và có loại Kỵ khiến người ta làm ăn khá lên; muốn biết là loại nào phải xem nó đi từ cung nào.

  • Mệnh cung hóa Kỵ nhập Quan Lộc gặp Kỵ năm sinh thì là Phản cung Kỵ. Nhưng Phúc Đức hóa Kỵ nhập Quan Lộc gặp Kỵ năm sinh thì không phải, vì phải là các cung 1, 5, 9 hóa Kỵ vào nhau.
  • Với đại hạn, cũng phải là các cung 1, 5, 9 của đại hạn hóa Kỵ lẫn nhau vào các cung 1, 5, 9 của bản mệnh rồi gặp Kỵ năm sinh mới được.
  • Quan Lộc đại hạn hóa Kỵ nhập Quan Lộc bản mệnh gặp Kỵ năm sinh thì không phải, đó là Kỵ của chính Quan Lộc bản mệnh nhập vào, không liên quan. Nhưng Mệnh cung đại hạn hoặc Tài Bạch hóa Kỵ nhập Quan Lộc bản mệnh gặp Kỵ năm sinh thì mới là Phản cung Kỵ.

Quan Lộc đại hạn hóa Kỵ nhập Quan Lộc bản mệnh gặp Kỵ năm sinh gọi là Kỵ nhập, không liên quan; nhưng khi lưu niên bước vào Phu Thê bản mệnh, tức cung xung với Quan Lộc, thì có thị phi, cần tham khảo thêm tính sao.

Có người hỏi Phản cung Kỵ ở Quan Lộc xung Phu Thê thì vợ chồng có tốt không. Nếu Phu Thê tự hóa và Quan Lộc cũng tự hóa thì vợ chồng không sao, nhưng tuyệt đối không được chỉ tự hóa một bên. Nếu Phản cung Kỵ nhập Quan Lộc mà Phu Thê lại hóa Kỵ nhập Quan Lộc thì lại có thêm Nghịch Thủy Kỵ; muốn tốt thì Mệnh cung lưu niên phải nhập Phu Thê. Tượng này đi kèm chuyện nuôi quá nhiều ở bên ngoài, không về nhà, vợ nhiều, hay gửi nuôi ở ngoài. Phản cung Kỵ đem làm kinh doanh thì rất tốt.

Cục số và số cộng tuổi: phép nhẩm cho năm khó đi

Với Thất tinh quyết, nếu gặp quan hệ giữa cục số và số cộng tuổi theo cách sau thì năm ấy không được thuận lắm. Mỗi lá số đều có cục số, và cục số với vận mệnh không phải không liên quan. Ví dụ chị 27 tuổi, Mộc tam cục, 2 cộng 7 bằng 9, mà 9 là bội số của 3 nên năm 27 tuổi không tốt. Nói gọn: số cộng tuổi là bội số của cục số thì năm đó bất lợi, ai cũng như nhau.

  • Thủy nhị cục gặp số cộng tuổi là 2, 4, 6, 8 thì năm không thuận.
  • Mộc tam cục gặp 3, 6, 9.
  • Kim tứ cục gặp 4, 8.
  • Thổ ngũ cục gặp 5 hoặc 10; nhưng số chỉ dùng đến 9 nên 10 không dùng mà dùng 4, vì thế Thổ ngũ cục gặp 4 và 5.
  • Hỏa lục cục gặp 3 và 6; 12 đã vượt nên dùng 3.

Cục dương, tức Mộc tam cục và Thổ ngũ cục, dùng số đến 9. Cục âm, tức Thủy nhị cục, Kim tứ cục và Hỏa lục cục, dùng số đến 8. Nữ mệnh Mộc tam cục này sang năm 33 tuổi, 3 cộng 3 bằng 6, là bội số của Mộc tam cục nên sang năm không tốt lắm.

Thủy nhị cục tệ nhất vì có quá nhiều số chẵn 2, 4, 6, 8. Còn khi số cộng tuổi gặp 10 cũng không tốt, vì 10 nằm ngoài số nên không dùng mà đổi thành số sinh nhỏ nhất là 4; nhờ vậy năm tuổi 10 thì Thủy nhị cục và Kim tứ cục đều bất lợi. Cục số là tuổi khởi vận, nhưng trước cục số chẳng lẽ không có vận mệnh, nên cũng dùng cách này để nhận định. Quan hệ giữa cục số và tuổi chỉ để tham khảo, không thể làm cơ sở đoán mệnh. Đây là nguyên tắc lớn: ai cũng có tình huống giống nhau, nó chỉ là ý khái quát.

Một ghi chú về bệnh: Thiên Đồng Cự Môn tọa Tật Ách, hóa Kỵ hội Liêm Trinh là ung thư miệng. Thiên Đồng chủ phúc ở miệng, Cự Môn chủ miệng, còn Liêm Trinh là bệnh chưa rõ.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh