Bài tổng quan
Tìm năm kết hôn và đào hoa qua Tử Tức, Điền Trạch, đẩu quân
Có một cách tính năm kết hôn từng được đem ra thử, nhưng đối chiếu với đời thực thì độ chính xác không cao. Điều thật sự đáng tin là một trình tự mà ai xem hạn cũng phải đi theo, bắt đầu từ…
Đẩu quân: chiếc cầu nối các tầng vận
Đẩu quân là điểm kết nối của cả hệ thống Đẩu Số, không thể chỉ dựa vào tháng để xem. Khi đọc, lấy đẩu quân làm một cung "hư", giả định nó là Mệnh, tức mượn danh nghĩa để kết hợp với Mệnh lưu niên. Nếu thiên can cung đẩu quân phi Kỵ vào Mệnh lưu niên thì chiếc Kỵ hư ban đầu hóa thành Kỵ thật khi chạm vào Mệnh.
- Cung đối diện đẩu quân được mượn làm Thiên Di. Xem Kỵ của nó rơi vào đâu để biết tai họa bất ngờ.
- Hóa Lộc hay Hóa Kỵ của đẩu quân nhập cung nào của mệnh bàn, thì lấy cung lưu nguyệt tương ứng làm tháng xảy ra việc. Cung xung của chỗ Kỵ rơi vào cũng tính tương tự.
- Nếu Kỵ xung Điền Trạch lưu niên mà Kỵ lưu nguyệt lại xung Điền Trạch lưu nguyệt thì có nguy cơ tới tính mạng.
- Thiên Di của đẩu quân phi Kỵ vào Điền Trạch: nguy hiểm tính mạng. Thiên Di nguyệt lệnh phi Kỵ vào Tài Bạch: kiếp tài, mất tiền, không phải kiếp sinh tử.
- Kỵ nhập Phu Thê lưu niên, mà cung ấy lại là Phúc Đức đại hạn: việc xảy ra trong năm dính tới kinh doanh.
- Thiên Lương hóa Lộc nhập Tật Ách rồi xung Phụ Mẫu: nhà có việc vui, và việc vui liên quan đến cha mẹ.
Hạn kết hôn: tính thế nào cho đúng
Có một cách tính từng được thử: lấy cung Tử Tức của bản mệnh bàn có Hóa Kỵ, nghĩa là đào hoa bị quản chế, rơi vào cung thứ tư theo lưu niên và coi đó là năm kết hôn. Chiều đi dựa vào âm dương của thiên can Tử Tức, dương tiến, âm lùi, cung dương tiến bốn cung, cung âm lùi bốn cung. Sau khi đối chiếu với thực tế, độ chính xác của cách này không cao.
Lời chỉ dẫn đưa ra là: trước tiên phải xem đại hạn có tượng kết hôn hay không, rồi mới tìm năm trong đại hạn ấy. Nếu không đi theo trình tự đó thì cứ mười hai năm sẽ có một năm trông giống năm kết hôn.
Về lưu nhật, cách xem là lấy ngày mùng 1 tháng Giêng hằng năm khởi đẩu quân rồi đếm liên tục tới ngày 30 tháng Chạp. Không được lấy cung mà đẩu quân rơi vào mỗi tháng làm ngày mùng 1 để đoán. Nếu khởi đẩu quân mỗi tháng từ ngày mùng 1 thì sẽ không chính xác.
Đào hoa của chính mình: lấy Tử Tức làm Mệnh
Chuyện đào hoa không đọc ở Phu Thê mà đọc ở cung vốn mang hơi thở chăn gối. Còn chuyện kết hôn thì phải sang nơi khác để nhìn.
Xem đào hoa thì lấy Tử Tức làm chính. Xem kết hôn thì phải xem Điền Trạch. Để đọc đào hoa, coi Tử Tức như một cung Mệnh khác: lúc này Mệnh bản mệnh trở thành Điền Trạch của Tử Tức, Điền Trạch trở thành Thiên Di, và Thiên Di trở thành Tử Tức. Có hay không có đào hoa được phân biệt bằng Lộc và Kỵ.
Lộc rơi vào đâu, đào hoa mang dáng nào
- Thiên can Tử Tức phi Lộc vào các cung ở tứ chính vị (Mệnh, Thiên Di, Điền Trạch, Tử Tức), hoặc phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh, hoặc vào thẳng Mệnh: cả đời nhiều đào hoa. Nếu cung nhận Lộc đó lại có thiên can tự hóa Kỵ thì đào hoa bị kìm lại, còn không thì không điều gì ngăn nổi.
- Tử Tức tự hóa Lộc, hoặc phi vào Điền Trạch rồi tự chiếu, hoặc Điền Trạch tự hóa Lộc chiếu Tử Tức: đào hoa nhục dục, ít hưởng tinh thần. Chỉ khi cung nhận Lộc tự hóa Kỵ mới kiềm chế được.
- Tử Tức phi Lộc vào Thiên Di hoặc Mệnh: đào hoa tinh thần, thích phong hoa tuyết nguyệt, ca sảnh vũ tạ, gần gũi nữ sắc.
- Tử Tức đại hạn phi Lộc: mười năm có đào hoa theo các dáng trên. Tử Tức lưu niên phi Lộc: một năm.
- Hóa Khoa nghĩa là có người giới thiệu: Tử Tức phi Khoa vào Mệnh thì đào hoa ấy do người khác giới thiệu mà đến. Hóa Quyền chưa chắc có đào hoa nhưng thuộc loại gian tình táy máy tay chân.
Đào hoa của người bạn đời
Tật Ách là Phu Thê của Tử Nữ, nên muốn xem đào hoa của người phối ngẫu thì lấy Tật Ách làm điểm định, dùng thiên can Tật Ách phi Lộc vào Quan Lộc chiếu Phu Thê. Cách đọc giống với việc Tử Tức phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh là đào hoa của ta. Tóm lại đào hoa của ta đọc từ Tử Tức, vì Tử Tức đại diện đời sống tình dục. Đào hoa của người phối ngẫu đọc từ Tật Ách.
- Tử Tức của ta phi Lộc vào Quan Lộc chiếu Phu Thê, hoặc vào Phu Thê: ta đối tốt với người phối ngẫu. Tật Ách của ta phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh, hoặc vào Mệnh: người phối ngẫu đối tốt với ta. Nếu là Hóa Kỵ thì không tốt, hoặc không ưa.
- Tật Ách phi Lộc vào Nô Bộc hoặc Huynh Đệ: người phối ngẫu có chuyện ngoại tình. Phi vào Tài Bạch hoặc Phúc Đức cũng tương tự. Tài Bạch, Phúc Đức nghiêng về tiêu tiền hưởng thụ và duyên với khác giới. Nô Bộc, Huynh Đệ nghiêng về nhục dục, trọng chuyện sắc.
- Nếu Tử Tức phi Lộc vào Tài Bạch, Phúc Đức, Nô Bộc hoặc Huynh Đệ thì chính ta có ngoại tình, lý do cũng như trên.
- Huynh Đệ, Nô Bộc, Tài Bạch, Phúc Đức là bốn cung đào hoa bên ngoài. Trong đó Nô Bộc là đồng loại, tức cùng giới, còn Điền Trạch là khác giới.
- Nữ mệnh có Tử Tức phi Lộc vào Nô Bộc hoặc Huynh Đệ: duyên với khác giới dày, có thể là người nữ sống đời phong trần hoặc làm trong ngành dịch vụ tương tự.
Kỵ năm sinh và những chỗ dễ nhầm
- Kỵ năm sinh tọa Tử Tức mà Tử Tức lại tự hóa Lộc: yêu chiều con cái. Xung Điền Trạch thì liên quan tổ nghiệp. Những điều này không dính gì tới đào hoa, nhưng tứ hóa phát từ thiên can Tử Tức thì có, không được lẫn.
- Kỵ năm sinh nhập Phu Thê, xung Quan Lộc: sự nghiệp gắn với người phối ngẫu, rất cưng chiều vợ, xung Quan Lộc nên thích hợp làm nhân viên hoặc kỹ thuật viên. Nếu thiên can Phu Thê tự hóa Lộc thì người phối ngẫu cũng cưng chiều ta.
- Hóa Lộc nhập Phu Thê là có duyên. Nếu thiên can Phu Thê lại tự hóa Kỵ thì bị kiềm chế, người phối ngẫu không dám buông lung.
- Tử Tức phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh là đào hoa của ta. Nhưng nếu Thiên Di tự hóa Kỵ thì không còn chuyện đào hoa nữa, mà ra ngoài không có quý nhân. Còn nếu Thiên Di tự hóa Lộc thì đào hoa mạnh, đẹp, có quý nhân, không sinh tranh chấp.
- Tử Tức phi Kỵ vào Mệnh hoặc vào Thiên Di xung Mệnh: bản tính không thích đào hoa.
Quan hệ ngoài hôn nhân đọc từ Điền Trạch
Khi một người đã có gia đình mà vẫn có thêm một mối giao thiệp khác giới, Điền Trạch là cung kể về mối ấy, và đường Lộc Kỵ của nó cho biết đối phương là ai.
Ngoại tình sau hôn nhân, chuyện giao thiệp với người khác giới, xem ở Điền Trạch. Điền Trạch là Nô Bộc của Phu Thê, mà Nô Bộc là đồng loại, vì thế Điền Trạch đứng cho người khác giới. Cách xem cũng như nhau với đại hạn, lưu niên: Điền Trạch đại hạn nói mười năm, Điền Trạch lưu niên nói một năm.
Đối phương là người thế nào
- Điền Trạch tự hóa Kỵ: đối phương chưa kết hôn. Tự hóa Lộc: đối phương từng giao thiệp khác giới, hoặc hiện đang có thêm bạn khác giới.
- Điền Trạch phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh: duyên phận. Vì Thiên Di là Điền Trạch của Điền Trạch nên đối phương là người đã có phối ngẫu.
- Điền Trạch phi Kỵ vào Mệnh: đối phương chưa có con. Phi Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh: tình cảm vợ chồng của đối phương không tốt, đó là Lộc Kỵ xung nhau. Phi Kỵ vào Thiên Di và phi Lộc vào Tử Tức: đối phương có con và có thể đã ly dị.
- Điền Trạch đại hạn phi Lộc vào Huynh Đệ (Điền Trạch của Tài Bạch): đối tượng làm nghề phục vụ phái đẹp hoặc là người nữ phong trần.
- Nữ mệnh có Điền Trạch phi Lộc vào Huynh Đệ: chưa chắc giao thiệp với đàn ông nhưng vẫn là đào hoa nhất thời. Đây là người sẽ nhận được tiền từ bạn trai, nên hợp với ngành xây dựng, kinh doanh bất động sản.
Mối giao thiệp ấy diễn ra thế nào
- Điền Trạch phi Kỵ vào Mệnh: mối quan hệ có thể kéo dài. Nếu phi Kỵ vào Thiên Di xung Mệnh thì không lâu.
- Điền Trạch phi Lộc vào Mệnh: đối phương có duyên với ta, có ấn tượng tốt, có thể có đào hoa nhưng không nhất định có giao thiệp. Phi Lộc vào Thiên Di chiếu Mệnh cũng đọc như vậy.
- Người đã kết hôn dùng tứ hóa Điền Trạch lưu niên để đoán đào hoa. Nếu Điền Trạch lưu niên phi Kỵ vào Tử Tức rồi tự xung thì không có đào hoa.
- Điền Trạch phi Kỵ vào Mệnh: đào hoa tốn ít tiền, đối phương yêu ta, chiều ta, bám lấy ta. Điền Trạch phi Lộc vào Mệnh: có duyên phải giao thiệp và phải tốn tiền, muốn có đối phương thì phải chi. Lộc Kỵ của Điền Trạch cũng liên quan đời sống tình dục.
- Điền Trạch phi Kỵ xung Mệnh: người này có quan niệm gia đình. Điền Trạch tự hóa Kỵ hoặc tự hóa Lộc: có gia thất. Hóa Kỵ chủ ly dị, hóa Lộc chủ không ly dị mà ra ngoài buông thả. Áp dụng công thức này vào hệ cung của đối phương thì cách giải cũng như thế.
Muốn biết người phối ngẫu có ngoại tình hay không, nhìn Phụ Mẫu, vì Phụ Mẫu là Phu Thê của Điền Trạch.
Với lưu niên, Tử Tức lưu niên tự hóa Kỵ có thể ngoại tình với người chưa kết hôn. Tử Tức lưu niên tự hóa Lộc có thể ngoại tình với người đã kết hôn. Trong cả hệ thống này, đại hạn đọc mười năm còn lưu niên đọc một năm, và đại hạn luôn phải được xét trước.
Sao nổi theo chi năm: độn thiên can mới ra năm ứng
Hồng Loan, Hàm Trì, Bạch Hổ, Tang Môn và những sao bày ra theo địa chi của năm sinh đều là hư thần, tức là những sao trôi nổi. Chi thì chỉ có một mà thiên can lại khác nhau: cùng là năm Ngọ nhưng có Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ. Nếu chỉ nhìn chi thì cứ bốn năm, bốn tháng lại thấy sao ấy trở lại một lần, rất khó chính xác. Cách làm đúng giống như đoán Bát Tự: lấy thiên can ẩn trong địa chi, tức dùng thiên can của cung mà sao nổi ngồi rồi độn theo Ngũ Hổ.
- Ví dụ Hồng Loan ngồi ở cung Canh Dần. Canh khởi Mậu Dần theo Ngũ Hổ độn. Từ cung Canh Dần khởi Giáp rồi đi thuận, tới cung Giáp Ngọ thì gặp Mậu. Nghĩa là hễ gặp năm mang thiên can Mậu, thiên can thái tuế của lưu niên, thì Hồng Loan phát tác. Mệnh cung ở Giáp Ngọ, lưu niên 18 tuổi đi tới Mậu nên Hồng Loan ứng vào tuổi ấy.
- Hàm Trì, Bạch Hổ, Tang Môn xem theo cách tương tự.
- Người sinh năm Giáp khởi Bính Dần, lưu niên gặp Kỷ thì phạm đào hoa sát, tức Hàm Trì. Người sinh năm Bính khởi Mậu Dần, lưu niên gặp Đinh cũng là đào hoa sát.
- Nguyên tắc chung: Hồng Loan ngồi ở cung nào thì độn theo thiên can của cung ấy. Hồng Loan tọa Canh, Canh khởi Mậu Dần, từ đó cứ lưu niên nào có can chi thái tuế gặp Mậu là có đào hoa.
Thêm một nhận xét nhỏ: Tham Lang, Thiên Tướng, Cự Môn thường là người từng học qua mệnh tướng.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
