Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Luận đoán lưu niên: bỏ tiểu hạn, tìm năm ứng nghiệm

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh20/09/202619 phút đọc0 lượt đọc
Luận đoán lưu niên: bỏ tiểu hạn, tìm năm ứng nghiệm

Đại vận nêu sự việc, lưu niên định năm sự việc ấy xảy ra; muốn nối được hai tầng này thì phải dùng Thái Tuế lưu niên có đủ thiên can, chứ phép lập tiểu hạn chỉ khiến lịch sử cứ mười hai năm tái diễn một lần. Sao ở thiên bàn chỉ phát tác khi tứ hóa đại vận hay lưu niên khơi động, và sáu tổ hợp Hóa Kị cho biết năm nào ứng hung. Vậy Kình Dương nằm sẵn trong cung, năm nào mới thật sự ra oai?


ĐẠI VẬN MƯỜI NĂM BIỂU THỊ NHỮNG SỰ KIỆN SẼ XẢY RA, CÒN LƯU NIÊN LÀ THỜI ĐIỂM CHÚNG ỨNG NGHIỆM. Muốn tìm cho đúng năm ứng nghiệm, trước hết phải hiểu cung chức dời chỗ theo đại vận ra sao, phải chọn đúng phép tính lưu niên, rồi mới lần theo tứ hóa mà truy dấu sự việc.

Mối Tương Quan Giữa Đại Vận Và Lưu Niên

"Định số" là mệnh, "biến số" là vận

Lấy cung tài bạch làm ví dụ: đó là vị trí từ cung mệnh đi nghịch chiều kim đồng hồ đến cung thứ 5. Theo tuổi tác tăng lên, số tuổi hiện giờ không thể dừng lại ở cung mệnh; người ta đã ở vào đại vận thứ hai, thứ ba.

"Đại vận" là vận trình 10 năm. Nếu mệnh tạo ở trong đại vận thứ hai thì cung mệnh của đại vận đã trùng điệp với cung huynh đệ hay cung phụ mẫu của thiên bàn. Nếu là cung huynh đệ, thì lấy cung huynh đệ của thiên bàn làm "1", đi nghịch chiều kim đồng hồ đến cung tật ách của thiên bàn là "5"; vậy cung tật ách của thiên bàn chính là cung tài bạch của đại vận thứ hai. Nếu cung mệnh của đại vận thứ hai là cung phụ mẫu của thiên bàn, thì từ đó đếm "1", cũng đi nghịch đến cung số "5"; vậy cung tử nữ của thiên bàn là cung tài bạch của đại vận thứ hai. Nếu đã vào đại vận thứ ba, cung tài bạch của đại vận sẽ là cung phu thê hoặc cung thiên di của nguyên cục.

Đó là "định số" của hình thái cố định; theo thời gian lưu chuyển, những "định số" ấy dời sang cung khác. Chỉ cần cung di động là sinh ra "biến số". "Biến số" ấy chính là "vận", tinh hoa của mệnh lí; còn "định số" chính là "mệnh".

Thái Tuế lưu niên hay "lập tiểu hạn"?

Lúc luận vận thế lưu niên có hai chủ trương. Một là dùng Thái Tuế lưu niên, tức lấy tuế vận để luận đoán. Hai là dùng phương thức "lập tiểu hạn".

Phương thức tiểu hạn khá đặc biệt và có nhiều chỗ mâu thuẫn. Tiểu hạn lấy địa chi của năm sinh làm y cứ: người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất thì cung Thìn là năm thứ nhất; người sinh năm Thân, Tí, Thìn thì cung Tuất là năm thứ nhất; người sinh năm Hợi, Mão, Mùi thì cung Sửu là năm thứ nhất; người sinh năm Tị, Dậu, Sửu thì cung Mùi là năm thứ nhất. Tức là lấy cung vị địa chi Mộ Khố lục xung làm năm tiểu hạn đầu tiên.

Xét kĩ sẽ thấy chỗ không hợp lí thứ nhất. Người sinh năm Dần, năm Ngọ, năm Tuất đều phải lấy cung Thìn làm năm thứ nhất; nhưng bất luận sinh năm Dần hay năm Ngọ, năm sinh ra chính là năm thứ nhất của vận trình, không thể dời đến cung Thìn để tính.

Chỗ không hợp lí thứ hai: ứng dụng của tứ hóa trong mệnh bàn bắt nguồn từ thiên can năm sinh. Người sinh năm Giáp Ngọ lấy tứ hóa của can Giáp làm y cứ: Liêm Trinh Hóa Lộc, Phá Quân Hóa Quyền, Vũ Khúc Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Kị. Năm Giáp Ngọ chính là năm thứ nhất của vận trình; nếu dời đến cung Thìn, rồi quay lại lấy thiên can của năm Giáp Ngọ để biểu thị hành vi tạo tác cho năm thứ nhất ở cung Thìn, thì chẳng những kì quái mà về căn bản là không có lí.

Thêm nữa, tứ hóa của mệnh bàn nguyên cục, của đại vận bàn, của lưu niên bàn có tính liên quán một mạch. Nếu lấy tiểu hạn mà dùng tứ hóa của Thái Tuế lưu niên làm "dụng", thì không cách nào luận chính xác và tinh tế vận thế của mệnh tạo; không ứng dụng được tứ hóa của thiên bàn, mà lúc luận tứ hóa của đại vận và của Thái Tuế lưu niên cũng nảy sinh mâu thuẫn cực lớn. Cho nên hiện nay các lưu phái Đẩu Số thường dùng Thái Tuế lưu niên để luận vận thế từng năm. Ví dụ năm 2012 là năm Nhâm Thìn, vậy lấy cung Thìn làm điểm căn cứ; đó cũng là cung mệnh của nhân bàn.

Tứ hóa xuyên suốt, vận trình không lặp lại máy móc

Sự liên quán giữa nguyên cục, đại vận, lưu niên, lưu nguyệt là do tứ hóa xuyên suốt; như vậy mới tính được quỹ tích của mệnh vận một cách hợp lí. Trong khung kết cấu ấy, giữa nguyên cục, đại vận và lưu niên không có sự đứt đoạn, vì thiên can khiến tứ hóa sinh ra lực dẫn động liên tục: can năm sinh, can cung đại vận, can lưu niên, can lưu nguyệt dính liền với nhau để biểu thị sự biến động của các vận trình. Lấy khái niệm "tiểu hạn" để giải đoán thì nhất định không có sự liên quán này. Tuế vận lấy thiên can kết hợp địa chi mà cấu tạo thành năm; tiểu hạn thì khởi vận trong cung mà không dùng đến thiên can; tại sao chỉ dùng địa chi để luận mệnh?

Mệnh bàn có 12 cung, thế đi của lưu niên cứ 12 năm là một vòng tuần hoàn. Năm Giáp Tuất (1994), năm Bính Tuất (2006), năm Mậu Tuất (2018) đều phải quá cảnh cung Tuất; ai cũng biết trong ba lần ấy mệnh tạo gặp cảnh ngộ hoàn toàn khác nhau. Ấy là vì vào đại vận khác nhau, lại có nhân tố thiên can của lưu niên tham dự, nên mỗi lần đến vận thế lưu niên cung Tuất sẽ rất khác; vận trình không lặp lại một cách máy móc. Còn theo cách tính của phái Tiểu Hạn, giả sử một người đã bị tai nạn giao thông, chẳng lẽ cứ 12 năm lại bị tai nạn một lần? Tứ hóa của đại vận không thể tác động đến tiểu hạn, vì số năm tiểu hạn dùng biệt lập với hệ thống thiên can.

Giả thiết ở cung Tuất có Kình Dương; vậy cứ mỗi 12 năm đến cung Tuất, Kình Dương đều phát tác hung tính sao? Nhất định không phải vậy. Nhưng trong phép tính của phái Tiểu Hạn thì không có cách nào khiến Kình Dương như "con sư tử ngủ yên" vào lúc nào đó mà không phát tác oai phong; đó là chỗ phái này không tự hoàn thiện được thuyết của mình, và luận tuế vận theo lối ấy sẽ thành ra cứ 12 năm lịch sử tái diễn một lần. Nếu trong cung Tuất có Địa Kiếp hoặc Địa Không, cứ mỗi 12 năm nhất định lại gặp chúng, đó là sự thực; nhưng có phải lần nào cũng bị chúng gây tác động? Rất nhiều người nghiên cứu Đẩu Số đã lâu năm mà không chú ý đến vấn đề này.

Tinh túy của Tử Vi Đẩu Số là ở chỗ ứng dụng Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị. Đẩu Số mà thiếu tứ hóa thì giống như một vật thể không hoạt động; huống hồ chỉ có tứ hóa mới xuyên suốt được nguyên cục, đại vận bàn, lưu niên bàn và lưu nguyệt bàn một cách hợp lí. Nghiên cứu Tứ Hóa phái trước tiên phải nắm vững nguyên lí và hàm ý của tứ hóa, tức ý nghĩa thực tế của từng hóa diệu và tính chất của mỗi sao sau khi hóa tượng. Cứ cố dẫn dụng tiểu hạn để luận vận trình từng năm, tất sẽ phát hiện nhiều chỗ sai lầm, về thực chất không cách nào ứng dụng được tứ hóa.

Sao của thiên bàn chỉ phát tác khi được khơi động

Ví dụ ông A sẽ kết hôn trong khoảng 10 năm từ 23 đến 32 tuổi. Sẽ sinh con? Sẽ li hôn? Sẽ thăng quan? Hay bị phẫu thuật? Xét vận lưu niên thì suy ra được năm nào kết hôn, năm nào thăng quan, năm nào gặp tai kiếp "huyết quang" phải phẫu thuật. Về lí thuyết, các hiện tượng của đại vận 10 năm sẽ xảy ra thành từng sự kiện trong vòng 10 lưu niên của đại vận ấy.

Nếu tổ hợp sao trong cung mệnh của đại vận 23–32 tuổi của ông A không thấy Linh Tinh, thì 10 lưu niên của đại vận này sẽ không xảy ra chuyện đáng tiếc do Linh Tinh chủ đạo. Ví như ông A đến đại vận có tổ hợp "Thái Dương, Thái Âm", lưu niên năm 2012 đến cung Thìn; dù trong cung Thìn có Linh Tinh, Hỏa Tinh, vẫn có thể xem như không có. Trừ phi can cung đại vận "Thái Dương, Thái Âm" khơi động khiến sao trong cung Thìn có tứ hóa nhập vào, như vậy mới kích động Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh; nếu không, trong năm 2012 sẽ không xảy ra sự cố do hai sao này phát tác. Có như vậy thì không phải cứ mỗi 12 năm lại bị Hỏa Tinh hay Linh Tinh hoành hành. Bằng không, ông A năm 2012 vì Linh Tinh mà li hôn, đến năm 2024 lưu niên lại đến cung Thìn, chẳng lẽ li hôn một lần nữa?

Lực tác động của tứ hóa tùy theo can cung đại vận khác nhau mà nhập vào bốn sao khác nhau. Về lí thuyết, đó là lực tác động; lúc luận mệnh vận, đó là sự kiện hay sự cố sẽ xảy ra.

Ông B: Tử Vi đồng cung Hỏa Tinh ở cung Tí

Ông B có Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí, trong cung còn có Hỏa Tinh. Cung huynh đệ ở Hợi có Thiên Cơ; cung phu thê ở Tuất có Thất Sát; cung tử nữ ở Dậu có Thái Dương, Thiên Lương; cung tài bạch ở Thân có Vũ Khúc, Thiên Tướng; cung tật ách ở Mùi có Thiên Đồng, Cự Môn; cung thiên di ở Ngọ có Tham Lang; cung nô bộc ở Tị có Thái Âm; cung quan lộc ở Thìn có Thiên Phủ, Liêm Trinh; cung điền trạch ở Mão vô chính diệu; cung phúc đức ở Dần có Phá Quân; cung phụ mẫu ở Sửu vô chính diệu.

Hỏa Tinh đồng cung biểu thị Tử Vi có khuyết điểm, vì Hỏa Tinh mà bị tổn thất; cho nên ông B về mặt nhân cách có khiếm khuyết, lúc luận mệnh không thể đem nguyên tính chất của Tử Vi gán cho ông. Giả thiết ông B hiện ở đại vận "Thái Dương, Thiên Lương" tại cung Dậu, mà can cung đại vận này không khơi động sao Tử Vi ở cung Tí; cung Tí cũng không phải cung tam hợp của cung Dậu (tam hợp của Dậu là Tị và Sửu). Cho nên lúc lưu niên đến cung Tí, chỉ thực hiện trọn vẹn tác dụng của Tử Vi, chứ không phải tác dụng của Tử Vi và Hỏa Tinh. Rốt cuộc người "xấu" cũng có lúc "thiện lương"; hoặc đó là năm không bị Hỏa Tinh "hình khắc".

Ngoài ra, không phải ai có Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí cũng có mệnh vận giống nhau, vì cung Tí có nhiều can khác nhau, tức có thêm các điều kiện định hướng đối với mệnh vận.

Lưu niên tìm đáp án ở đại vận, lưu nguyệt tìm đáp án ở lưu niên

Bố cục các sao trong mệnh bàn đã định hình cách cục cao thấp, thậm chí đã có sẵn khung kết cấu cát hung họa phúc. Phép luận lưu nguyệt và lưu niên hoàn toàn khác nhau. Lúc tính lưu niên phải quy về cung vị địa chi của mệnh bàn, lại phải chiếu theo các sao của đại vận và tứ hóa đại vận để rút ra những sự kiện hàm chứa trong đại vận 10 năm có thể xảy ra trong lưu niên ấy.

Lưu nguyệt cũng đại biểu cho thời điểm ứng nghiệm như lưu niên, chỗ khác là phạm vi thời gian rút nhỏ lại. Lưu niên sau khi "tiếp nhận" tác dụng của tứ hóa đại vận và tứ hóa lưu niên thì tìm đáp án từ đại vận bàn; lưu nguyệt sau khi "tiếp nhận" tác dụng của tứ hóa lưu niên và tứ hóa lưu nguyệt thì tìm đáp án từ lưu niên.

Nói cách khác, tứ hóa chính là manh mối để truy tìm tung tích của sự kiện sẽ xảy ra. Chỗ dễ sai lạc lúc luận đoán là hung tinh có xuất hiện ở lưu niên hay không. Hung tinh không xuất hiện ở lưu niên thì tuyệt đối không thể xuất hiện ở lưu nguyệt; không hiểu rõ lẽ này thì khó mà đoán ra chân tướng cát hung và thời điểm của sự việc. Nếu cứ cho Hóa Kị là điềm xấu, thì nguyên cục có Hóa Kị, thêm đại vận, lưu niên, lưu nguyệt, tổng cộng là bốn Hóa Kị, lại tính thêm lục sát tinh, đời người sẽ đầy rẫy nguy cơ, hung hiểm trùng trùng, thật quá bi thảm. Hóa Kị năm sinh ở nguyên cục vốn không quan hệ với các cung của lưu niên, nói gì tới lưu nguyệt; chỉ khi can cung đại vận khiến tứ hóa đại vận tạo ra mối quan hệ giữa tứ hóa lưu niên và tứ hóa năm sinh thì mới phải luận khác.

Tác Động Của Tứ Hóa Đại Vận Và Lưu Niên

Giả thiết cung Hợi có Hóa Quyền năm sinh, lưu niên năm nay là Đinh Hợi, vậy cung Hợi là cung mệnh của lưu niên. Hóa Quyền năm sinh sẽ thi triển uy lực trong năm nay chăng? Mười hai năm trước và mười hai năm sau cũng có một năm đi qua cung Hợi; Hóa Quyền của lúc trẻ, của hiện tại và của 12 năm sau có giống nhau không? Đáp án là không. Hóa Quyền ấy sẽ không phát huy tác dụng nếu tứ hóa đại vận hay tứ hóa lưu niên không khơi động nó. Cũng như "thùy tượng" đang ở trạng thái tĩnh; lúc tứ hóa đại vận hoặc lưu niên tiếp xúc với Hóa Quyền năm sinh thì mới xảy ra các phản ứng khác nhau.

Còn nếu tứ hóa đại vận và lưu niên đều không khơi động Hóa Quyền ở cung Hợi thì sao? Thực ra khả năng này không lớn. Dù không gặp trực tiếp Hóa Quyền năm sinh, chỉ cần tứ hóa nhập cung tam phương tứ chính của cung Hợi cũng đủ khiến Hóa Quyền phát huy tác dụng. Cung mệnh chủ về hình tượng của mệnh tạo; cung tài bạch là năng lực thực hiện, làm cho tiềm năng phát huy; cung quan lộc chủ về năng lực tinh thần; cung thiên di chủ về viễn cảnh của nguyện vọng, dẫn dắt hành động của mệnh tạo. Bất cứ cung nào trong đó có tứ hóa đại vận hay lưu niên đều khiến Hóa Quyền ở cung Hợi phát huy. Bốn cung mệnh, tài, quan, di tạo thành những sự tình tương quan mật thiết với đời sống thường ngày, là những cảnh ngộ nhất định phải thể nghiệm.

Tứ hóa năm sinh, tứ hóa đại vận và tứ hóa lưu niên gặp nhau là sự kiện ngẫu nhiên có thể xảy ra trong năm đó, năm sau có thể không thấy nữa. Giả thiết đến lưu niên Mậu Tí, cung mệnh của lưu niên dời đến cung Tí, cung Hợi biến thành cung huynh đệ của lưu niên. Trong cung Hợi vốn có Hóa Quyền năm sinh, mà tứ hóa đại vận hoặc tứ hóa lưu niên Đinh Hợi không khơi động được; nhưng tứ hóa lưu niên Mậu Tí lại khiến sao Hóa Quyền ấy thành Hóa Lộc, hoặc khiến sao đồng cung Hóa Lộc. Như vậy Hóa Lộc lưu niên khơi động Hóa Quyền năm sinh, thành sự kiện ngẫu nhiên. Mười hai năm sau, lúc lại đến cung Tí, sẽ không thấy tình trạng ấy nữa; nhưng có thể Hóa Quyền gặp Hóa Kị, thành cục "thủy hỏa giao chiến", lại là một sự kiện ngẫu nhiên khác.

Hóa Lộc gặp Hóa Quyền trong cung huynh đệ của lưu niên, tức năm Mậu Tí có cơ hội kiếm được tiền hoặc hoạnh tài. Sao Hóa Quyền biến thành Hóa Lộc, với sao Hóa Quyền gặp sao Hóa Lộc, có ý nghĩa khác nhau. Nhưng chớ cho rằng "có tiền" là vận may. Trong cùng điều kiện ấy, nếu cung quan lộc của lưu niên gặp "Song Kị", thì trong cung huynh đệ của lưu niên có điềm phải chia ra để trả một khoản tiền lớn, có thể là tiền bồi thường hoặc tiền cấp dưỡng.

Tìm Lưu Niên Ứng Nghiệm Sự Kiện

Sáu tổ hợp Hóa Kị chủ về hung hiểm, tổn thất

Một, cùng loại tương xung. Bất kể Hóa Kị năm sinh xung địa bàn hay Hóa Kị đại vận xung thiên bàn, hễ cung chức cùng loại xung nhau đều thuộc trường hợp này. Lúc cung chức cùng loại xung đến nhân bàn, đó là năm ứng nghiệm. Ví dụ cung tài bạch của đại vận có Hóa Kị đại vận xung cung tài bạch của nguyên cục; lúc cung lưu niên trùng điệp với cung thiên di của nguyên cục, cung tài bạch của đại vận có Hóa Kị ấy lại trùng điệp với cung tài bạch của lưu niên, vì vậy lưu niên này sẽ ứng nghiệm. Sang lưu niên khác, nếu cung tài bạch của lưu niên có kết cấu không cát lợi, cũng có thể xảy ra sự cố bất lợi về tài chính.

Hai, xung cung mệnh. Cung mệnh là chủ soái; bất kể cung chức nào của địa bàn cũng không được để Hóa Kị đại vận xung cung mệnh của thiên bàn. Nếu bị xung, lúc lưu niên đến trùng với cung bị xung thì phải cẩn thận, sẽ có tổn thất theo ý nghĩa của cung chức đến xung. Ví như cung phụ mẫu có Hóa Kị đại vận đến xung cung mệnh của thiên bàn, thường phải phòng vấn đề sức khỏe của cha mẹ, nghiêm trọng có thể có tang cha mẹ.

Ba, Hóa Kị đối xung nhau. Cung A của thiên bàn có Hóa Kị năm sinh, cung B của địa bàn có Hóa Kị đại vận ở đối cung của cung A. Lúc lưu niên đến tuyến cung xung nhau này sẽ ứng nghiệm tai ương; đây là hiện tượng Hóa Kị xung kích rất hung hiểm.

Bốn, Hóa Kị trùng điệp. Cung A của thiên bàn có Hóa Kị năm sinh trùng điệp với cung B của địa bàn có Hóa Kị đại vận, trong cung có "Song Kị". Lúc lưu niên đến cung có "Song Kị" hoặc đến đối cung của nó, đều sẽ ứng nghiệm.

Năm, Hóa Kị tam hợp. Hóa Kị của thiên bàn và Hóa Kị của địa bàn ở vị trí tam hợp với nhau (Hợi Mão Mùi, Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất, Tị Dậu Sửu). Ví dụ Hóa Kị năm sinh ở cung Tí, Hóa Kị đại vận ở cung Thân, cấu thành Hóa Kị tam hợp Thân Tí Thìn; lúc lưu niên đến cung Thìn sẽ ứng nghiệm.

Sáu, đơn Hóa Kị. Hóa Kị nhập cung chủ về "thu vào", không chủ về hung hiểm, nhưng phải có một số điều kiện tiên quyết; thiếu các điều kiện ấy phối hợp thì cũng bất lợi. Nhất là lúc lưu niên đến cung bị Hóa Kị này xung, ý tượng là không thuận lợi; qua lưu niên ấy mới chuyển nguy thành an.

Trên là các tổ hợp Hóa Kị chủ về hung hiểm hoặc tổn thất. Còn vì chuyện gì, hung tượng loại nào, thì phải phối hợp ý tượng của cung chức và các sao. Kết cấu tứ hóa chủ về cát hung; kết hợp sao và cung chức chủ về hình tượng của sự kiện.

Năm quy tắc định thời gian ứng nghiệm

Luận thời gian ứng nghiệm của nhân bàn nhất định phải bắt đầu từ thiên bàn và địa bàn. Lúc thiên bàn và địa bàn đều có điềm tượng, lưu niên đến cung ấy mới ứng nghiệm cát hung. Nếu chỉ riêng thiên bàn hoặc riêng địa bàn có "thùy tượng" thì tác động khá nhỏ, lúc đến cung ấy chỉ ứng nghiệm cát hung nhẹ. Phối hợp quan hệ phi hóa của cung địa bàn với thiên bàn và nhân bàn để định thời gian ứng nghiệm, có mấy quy tắc sau.

Thứ nhất, lấy cung bị xung làm hung nhất. Lúc địa bàn chuyển động, đến cung hạn lưu niên bị Hóa Kị đại vận xung là thời gian xảy ra sự kiện.

Thứ hai, lúc cung của địa bàn trùng điệp với cung của thiên bàn có tổ hợp sao cực xấu, mà cung của địa bàn có Hóa Kị đại vận, nếu lại bị Hóa Kị xung kích, thì sự kiện sẽ ứng nghiệm trong đại vận ấy.

Thứ ba, lúc phi Hóa Kị nhập cung A của thiên bàn, cũng có thể xảy ra sự kiện nào đó; trước tiên cần tra từ năm bắt đầu của đại vận. Nếu hành hạn lưu niên đến cung B của thiên bàn, là cung phi xuất Hóa Kị, mà chưa đến cung bị xung, thì phải chú ý cung hạn lưu niên phi xuất Hóa Kị ấy. Nếu hành hạn lưu niên đến cung bị xung trước, thì phải chú ý cung hạn lưu niên bị xung; có khả năng ứng nghiệm trong năm này.

Thứ tư, lúc Hóa Kị xung cung quan lộc của nhân bàn: cung quan lộc chủ về động thái vận trình của sự nghiệp, bị Hóa Kị xung thì sự nghiệp không thuận lợi, có hiện tượng trở ngại. Phối hợp thêm tình thế không tốt của tổ hợp sao Hóa Kị ở thiên bàn và địa bàn, có thể đoán ra sự kiện sẽ ứng nghiệm trong lưu niên này.

Thứ năm, nếu là tình huống đơn Hóa Kị, phải chú ý lúc lưu niên đến cung của thiên bàn có Hóa Kị phi nhập. Nếu cung cùng loại của nhân bàn lại có tổ hợp sao không cát tường, đó là lưu niên bạo phát sự kiện bất hạnh; nếu lại có Hóa Kị đến xung thì càng ứng nghiệm.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 9 "Nguyên tắc luận đoán vận hạn của Tứ Hóa phái", mục "Phương pháp luận đoán lưu niên".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh