Bài tổng quan
Sao ứng bệnh, tai nạn xe cộ, vận nước và Mệnh cung là vận
Một sao hóa Kỵ không báo điềm xấu chung chung mà thường chỉ đúng vào một bộ phận cơ thể. Cũng chiếc Kỵ ấy, một năm có thể hiện thành bệnh, thành tai nạn xe, hoặc thành một trận lũ nơi…
Mỗi sao hóa Kỵ ứng với một bộ phận cơ thể
Khi một sao hóa Kỵ, triệu chứng thường hiện ra ở đúng bộ phận mà sao ấy cai quản. Mỗi sao có một cách gắn riêng, đôi khi kèm cách nói khác về cùng một sao.
- Liêm Trinh thuộc Mộc, Âm Hỏa, cai quản miệng và vùng quanh miệng, hay lở miệng. Liêm Trinh hóa Kỵ phần nhiều là ung thư và các bệnh nan y tạp chứng. Một cách nói khác: ung thư, bệnh hoa liễu, tâm khí không đủ, ho hen khạc máu, can vượng mất ngủ.
- Phá Quân thuộc Âm Thủy, cai quản tim. Văn Khúc hóa Kỵ đồng cung với Phá Quân là tim tê liệt. Một cách nói khác: âm hư, liệt dương, kinh nguyệt không đều, sốt rét, bệnh ở chân, thủy nạn, di tinh, bạch đới, bụng dưới trướng đau.
- Vũ Khúc thuộc Dương Kim, cai quản hô hấp từ khí quản trở lên, không gồm phổi, cùng mũi, dễ cảm lạnh. Cách nói khác: phế kinh ho, khạc máu, lao tổn, nghẹt mũi, can vượng, đại tràng hàn kết. Văn Khúc hóa Kỵ hội Vũ Khúc đồng cung thì mũi tích mủ, polyp, hô hấp khó khăn.
- Tham Lang thuộc Thủy, liên quan đến thận và kéo theo cả tim. Tham Lang lại thuộc Giáp Mộc nên chủ gan. Tham Lang còn là bệnh nghi, đôi khi bác sĩ cũng không tìm ra nguyên nhân.
- Thiên Đồng thuộc Thủy, chủ tai và chủ tỳ.
- Thái Âm thuộc Thủy, chủ thận và máu. Nữ giới là bạch đới, tử cung, miếu vượng thì tốt. Thái Âm hay yếu huyết nên cần bổ huyết. Thái Âm hãm địa liên quan đến mắt.
- Thái Dương thuộc Hỏa. Ở miếu vượng thì chủ não và mắt sáng, cũng chủ cao huyết áp, xuất huyết não. Ở hãm địa thì chủ mắt, nhưng hóa Kỵ chưa chắc là cận thị, nên tham khảo miếu vượng lợi hãm mà đoán.
- Cự Môn thuộc Thổ, chủ tỳ, dạ dày, xuất huyết dạ dày.
- Thiên Tướng chủ da, dị ứng da.
- Thiên Cơ thuộc Mộc, chủ can hỏa, tứ chi dễ bị thương, tay nhiều hơn chân. Văn Khúc hóa Kỵ mang theo Thiên Cơ thì cơ bắp tứ chi cứng hoặc teo.
- Thiên Lương chủ não, dùng não quá độ, u não. Văn Xương hoặc Văn Khúc hóa Kỵ mang theo Thiên Lương thì dùng não quá độ, hoặc u não.
- Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Tồn chủ tỳ, dạ dày, trong đó Tử Vi nghiêng về tỳ.
- Thất Sát thuộc Âm Kim, chủ phổi.
- Văn Xương, Văn Khúc chủ hệ thần kinh và tác dụng phụ. Hễ sao nào mang theo Xương hoặc Khúc là có tác dụng phụ xảy ra, như viêm, loét, xơ cứng.
- Đà La chủ xương, răng. Văn Xương hoặc Văn Khúc hóa Kỵ mang theo Đà La: gai xương.
- Kình Dương chủ huyết quang, ngoại thương, chảy máu, mổ xẻ.
- Thiên Diêu ở nữ giới là bạch đới.
Cũng cần nhớ: sao thuộc âm tính dễ viêm, sao thuộc dương tính ít viêm hơn. Tật Ách tọa Hóa Quyền thì dễ gặp tai nạn bất ngờ. Tử Vi hóa Quyền tọa Tật Ách thì phải chú ý ăn uống, vì tỳ vị dễ viêm tổn thương.
Tai nạn xe cộ: góc nhìn từ tứ chính vị
Có tai họa đến vì cơ thể, có tai họa đến vì chuyến đi. Với tai họa đến từ bên ngoài, cung phải mở ra trước hết là Thiên Di.
Góc độ tai nạn bất ngờ nằm ở tứ chính vị gồm Tử Tức, Điền Trạch, Thiên Di và Mệnh. Nếu Tật Ách của bản mệnh bàn phi Kỵ vào Phúc Đức hay xung Phúc Đức, nhập Mệnh hay xung Mệnh, thì bệnh của người ấy là loại tiềm tàng, không thể truy ra căn nguyên.
- Mệnh lưu niên tự hóa Kỵ thì phải chú ý. Khi đẩu quân đi qua tháng của Thiên Di lưu niên thì đề phòng tai nạn xe, tuy không quá nghiêm trọng. Cũng vậy, Thiên Di tự hóa Kỵ thì phải chú ý khi đẩu quân đi qua tháng của Mệnh lưu niên.
- Thiên Di phi Kỵ nhập Điền Trạch xung Tử Tức: có biến động, cũng phải chú ý tai nạn xe, nhưng không nhất định, chỉ thỉnh thoảng.
- Thiên Di phi Kỵ nhập Tử Tức xung Điền Trạch, hoặc Điền Trạch phi Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh: thật sự phải chú ý tai nạn xe.
- Các thế trên đều lấy tháng mà đẩu quân đi qua cung có Kỵ, hoặc cung xung của nó, làm tháng cần cẩn thận.
Những thế trên là ta đụng người hoặc hai bên đụng nhau. Nếu Tật Ách phi Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh thì là bị đụng, phải chú ý thương tổn từ bên ngoài. Điền Trạch phi Kỵ nhập Phụ Mẫu xung Tật Ách, hoặc nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu, báo thương tổn từ ngoài khiến để lại sẹo, tức phá tướng. Kiếp số ngoài những thế này thì ít hơn.
Lấy Thiên Di làm Mệnh để tìm tháng
- Lấy Thiên Di làm Mệnh cung, xem Quan Lộc của nó phi Kỵ rơi vào cung nào thì tháng đó cần chú ý.
- Khí số vị của Thiên Di chính là Phu Thê, Quan Lộc của Thiên Di. Nếu Phu Thê phi Kỵ nhập Huynh Đệ xung Nô Bộc thì tháng ấy có tai số, bị đụng. Kỵ nhập Mệnh là ta đụng người. Kỵ nhập Huynh Đệ, Nô Bộc, Tật Ách, Phụ Mẫu thì có thể bị đụng. Kỵ nhập Tử Tức, Điền Trạch cũng là đụng người.
- Muốn xem khí số của tai họa bất ngờ phải xem Quan Lộc của Thiên Di, tức cung Phu Thê. Nếu Kỵ của nó nhập vị trí kiếp số thì chắc chắn có tai nạn. Vị trí kiếp số là Huynh Đệ, Nô Bộc và Mệnh. Huynh Đệ, Nô Bộc chính là vị trí tai số. Các cung còn lại ít kiếp hơn.
- Nếu Quan Lộc của Thiên Di phi Kỵ nhập Phúc Đức hay Tài Bạch thì không dính nhiều đến kiếp số.
- Kỵ của Quan Lộc của Thiên Di rơi vào cung nào thì đó là tháng lệnh tai số. Nếu Kỵ lạc Phụ Mẫu xung Tật Ách, hoặc Quan Lộc xung Phu Thê, thì tai số nghiêm trọng.
Tứ hóa có hai mươi sáu vạn kiểu biến hóa. Chẳng hạn xem cung Tử Tức đã thấy con cái, đào hoa, cổ đông, kiếp số. Người mới học lúc đầu mới nhìn thấy điểm, về sau điểm kéo thành đường, rồi đường trải thành mặt.
Thêm vài điều để đoán kiếp số nhanh
- Muốn dùng bản mệnh bàn để đoán nhanh kiếp số thì xem hai góc độ: một là Quan Lộc của Tật Ách, tức Huynh Đệ; hai là Quan Lộc của Thiên Di, tức Phu Thê. Hóa Kỵ của hai cung này rơi vào cung nào, nếu lạc vào Mệnh thì phải chú ý kiếp số. Bộ phận bị thương xem theo bảng gắn bộ phận cơ thể với cung. Huynh Đệ ứng bên phải, Phụ Mẫu ứng bên trái.
- Muốn biết có tai nạn giao thông hay không thì xem Quan Lộc của Thiên Di. Nếu Kỵ nhập Quan Lộc xung Phu Thê, hoặc nhập Phụ Mẫu xung Tật Ách, là tử vong.
- Thủy nạn: Thiên Diêu hội Hóa Kỵ ở Tật Ách, Phá Quân hóa Kỵ nhập Tật Ách, hoặc Văn Khúc hóa Kỵ hội Phá Quân đều có thể có.
- Tật Ách phi Kỵ nhập cung Mùi: chắc chắn bệnh ở não, vừa là cung vừa là bộ phận. Cung Hợi thuộc tim, cung Mão thuộc dạ dày, kết hợp với mười hai kinh lạc.
- Tật Ách phi Kỵ nhập cung an Thân thì về sau thân thể không tốt. Nếu Thân và Mệnh đồng cung thì cả đời đặc biệt phải lưu ý thân thể.
Vận nước: năm của Vũ Khúc và Phá Quân
Quốc vận cũng đọc được theo cách tương tự. Mười năm từ Dân Quốc 70 đến 79 có Vũ Khúc làm sao đương trị, còn mười năm từ 60 đến 69 thường do Phá Quân đương trị. Trong mười năm 60 đến 69, vợ chồng thường không hợp và ly hôn nhiều. Vũ Khúc chủ chiến tranh. Năm Nhâm Tuất, Vũ Khúc của thái tuế hóa Kỵ nên kinh tế không tốt. Năm Giáp Tý Dân Quốc 73, tức 1984, thái tuế có Vũ Khúc hóa Khoa, kinh tế mới ổn định. Năm Dân Quốc 62, Quý Sửu 1973, Phá Quân hóa Lộc hoặc hóa Quyền đều rất tốt.
Đại hạn đương tinh dựa vào sao chủ Mệnh xếp theo thứ tự, đẩu quân khởi từ Mệnh lưu niên. Quốc vận bàn lấy Tử Vi, Thiên Phủ ở Thân, khởi Bính Dần, rồi sao năm theo can mà biến động.
- Năm Nhâm Tuất đang xem: Vũ Khúc hóa Kỵ ở Thiên Di lưu niên xung Mệnh lưu niên. Thiên Lương hóa Lộc ở Điền Trạch lưu niên: giáo viên, thầy bói tốt, đường văn tốt, đường võ kém. Cung Điền Trạch lưu niên mang can Ất, Thiên Cơ hóa Lộc tự chiếu: năm nay tốt, năm sau chưa thấy tốt. Thiên Di can Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ ở Tử Tức xung Điền Trạch: tai họa bất ngờ nhiều.
- Năm Tuất, ba cung đứng trước tam hợp Dần Ngọ Tuất là Tam Sát vị, tức Hợi, Tý, Sửu, phương Bắc. Tháng 6 Đinh Mùi, Đinh Cự Môn hóa Kỵ nhập Hợi, đúng Tam Sát vị. Cự Môn thuộc Thủy nên có thủy tai, lại Tam Sát rơi vào phương Bắc Khảm vị nên bão tố, thủy sát. Nếu không ở Tam Sát vị thì Cự Môn hóa Kỵ cũng không gây thủy tai. Hợi là Tài Bạch của tháng 6 Mão nên có nhiều người vì tai mà tổn tài.
- Tài Bạch năm nay can Canh Ngọ, Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Nô Bộc Đinh Mão: dân chúng không có tiền.
- Năm sau, Quý Hợi: Tham Lang hóa Kỵ nhập Huynh Đệ xung Nô Bộc, không nên hợp tác với người khác hay cổ đông. Phá Quân hóa Lộc nhập Tật Ách chiếu Phụ Mẫu, không vào cung quan trọng. Cự Môn hóa Quyền nên có nhiều thị phi. Cự Môn chủ miệng nên làm kinh doanh đồ ăn, và quốc gia hoạt động ngoại giao nhiều. Tài Bạch lưu niên Tân Mùi, Cự Môn hóa Lộc: ngoại giao có thành tựu, kinh doanh đồ ăn thu hoạch.
Mệnh cung là vận, vận là xu hướng của cả năm
Mệnh cung nghĩa là mệnh của một người, và cũng là vận. Không có mệnh thì lấy đâu ra hành vận, nên Mệnh đại diện chủ yếu cho vận đi. Mọi người đều lấy Mệnh làm chính. Nếu Mệnh không chủ cái xu hướng của hành vận thì Quan Lộc, Tài Bạch, Tật Ách và mười hai cung biến hóa đều không có chỗ để nói.
- Mệnh lưu niên phi Lộc nhập Tử Tức: có việc liên quan con cái. Mệnh lưu niên phi Kỵ nhập Thiên Di: Thiên Di chắc chắn không tốt.
- Bốn hóa tinh hóa vào cung nào của lưu niên thì cung đó có hiện tượng tốt xấu. Nếu kết hợp thêm cung vị của đại hạn thì các cung của đại hạn đó cũng có ảnh hưởng tốt xấu.
- Mệnh tức là vận đang đi, nên muốn xem hành trình đời người phát triển thế nào thì phải kết hợp xem đại hạn.
- Nếu Mệnh phi Kỵ nhập Tài Bạch xung Phúc Đức thì năm nay tiền không tốt, thân thể cũng không tốt: đó là xu hướng hành vận. Muốn tách ra xem là Tài Bạch hay thân thể thì xem lại Tài Bạch lưu niên và Tật Ách lưu niên. Lấy Mệnh làm điểm xác định rồi chia ra mười hai điểm để thấy rõ cát nằm ở đâu, hung nằm ở đâu.
- Một người vốn dĩ tốt đẹp mà năm nay đột nhiên sinh bệnh có thể vì năm nay hành vận Tật Ách phi Kỵ.
- Nếu Lộc nhập Tử Tức lưu niên mà cung đó lại là Huynh Đệ đại hạn, thì chuyện liên quan con cái, anh em, bạn bè và kinh doanh.
- Mệnh lưu niên hoặc đại hạn có Thiên Lương hóa Lộc mang can Nhâm là tượng thăng tiến. Có thăng tiến thật hay không thì xem tứ hóa của Quan Lộc lưu niên hoặc đại hạn. Người đi làm mà Quan Lộc tốt thì có điềm thăng tiến.
- Ngoài tứ hóa năm sinh còn phải chú ý tứ hóa của Mệnh cung.
Nói gọn: bất kể bản mệnh bàn, đại hạn hay lưu niên, trước hết lấy tứ hóa của Mệnh để xem dấu hiệu cát hung và xu hướng hành vận. Sau đó mới dùng cung vị cát hung có liên quan với tứ hóa của sao để đoán kỹ nội dung.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
