Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Tử Vi tọa Kỷ Tỵ và khẩu quyết đoán sự nghiệp, thi cử

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh04/10/202612 phút đọc4 lượt đọc
Tử Vi tọa Kỷ Tỵ và khẩu quyết đoán sự nghiệp, thi cử

Tử Vi ngồi ở cung Tài Bạch chưa chắc đã giàu, bởi cái quyết định nằm ở thiên can của cung ấy. Một Kỵ rơi vào Phụ Mẫu rồi xung sang Tật Ách đủ để một chặng mười năm làm ăn đổi chiều…


Tử Vi tọa Kỷ Tỵ: chủ kiến nằm ở thiên can của cung

Tử Vi ngồi ở cung Tài Bạch không hẳn là người rất có tiền. Muốn biết thì phải nhìn thiên can của cung này. Cung mang can Kỷ, Tham Lang hóa Quyền vào Quan Lộc rồi hội về Mệnh theo thế tam hợp, và chỉ khi ấy Tử Vi mới có tác dụng: người này ham làm sự nghiệp, giàu chí hướng. Tử Vi vốn là sao tùy hợp, nay hóa Quyền vào Quan Lộc, hội Tham Lang mà phát lực, nên có tài là muốn khởi nghiệp, đầu tư.

  • Bản mệnh có cách cục sự nghiệp. Quan Lộc lại đúng là cung Thân, nên nhập Thân cung thì không chịu làm thuê cho người.
  • Nếu Tử Vi hóa Quyền vào Huynh Đệ thì người có tài lại là anh em.
  • Tham Lang hóa Quyền vào Quan Lộc, như đã nói, là nắm quyền làm chủ trong sự nghiệp, không dễ để người ta thuê.
  • Thiên Lương hóa Khoa vào Tật Ách. Tử Vi là ngôi đế vương, chủ giải ách, nên thân thể không có tai nạn lớn.
  • Phi tinh hóa vào tam hợp của bản mệnh là chuyện liên quan đến mình. Nếu không vào tam hợp của Mệnh mà vào Phụ Mẫu thì chuyện ấy không liên quan đến mình mà thuộc về cha mẹ.
  • Tử Vi bất kể đóng ở cung nào, chỉ cần hóa vào Mệnh là có công giải ách.
  • Phi tinh chủ yếu lấy phần hóa nhập tam hợp của mình, rồi dùng tính chất của sao để dịch nghĩa.
  • Tử Vi hóa Khoa vào Quan Lộc: làm sự nghiệp tùy hợp. Hóa Khoa vào Nô Bộc: đối với bạn bè tùy hợp.

Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc: bạn bè, trí tuệ, tiền của

Trí tuệ dùng vào đâu, sao nào đang giữ tiền, cái Kỵ mang đến lục thân hay mang đến sự nghiệp: mỗi cung hóa ra một ngả.

  • Thiên Cơ tọa Mậu Thìn, cung Tật Ách. Tham Lang hóa Lộc vào Quan Lộc và Thân cung: trí tuệ cao và trí ấy dùng cả vào sự nghiệp. Thái Âm hóa Quyền vào Điền Trạch: năng lực có tài của người này liên quan đến Điền Trạch. Hữu Bật hóa Khoa vào Phu Thê chiếu Quan Lộc, vẫn nằm trong tam hợp của mình: chủ trí tuệ. Tóm lại, trí tuệ dùng cho Quan Lộc và Điền Trạch.
  • Thiên Cơ tự hóa Kỵ ở Tật Ách. Tật Ách là chỗ sinh bệnh, mà Thiên Cơ lại là sao của anh em, nên tự hóa Kỵ là không có tình anh em, lục thân không duyên, lục thân không dựa được. Thiên Cơ là họ hàng gần, ngang vai, tự hóa Kỵ thì biểu thị rằng những người ấy vắng mặt, nên có thể trực tiếp đoán lục thân không duyên.
  • Hóa Quyền vào Phụ Mẫu, cung của văn thư, là việc văn thư có tài. Cung ấy lại chiếu Tật Ách, thân thể, nên trí tuệ cao. Nếu làm công chức thì người ấy có tài và có biểu hiện.
  • Thái Dương tọa Bính Dần, cung Nô Bộc. Thiên Đồng hóa Lộc vào Điền Trạch: Thái Dương là chủ Quan Lộc mà vào Điền Trạch, nên sự nghiệp theo đuổi gắn với Điền Trạch. Thiên Cơ hóa Quyền vào Tật Ách chiếu Phụ Mẫu: sự nghiệp muốn làm có thể dính đến cơ quan chính phủ, như bất động sản. Phụ Mẫu là cơ quan chính phủ, hóa Quyền ở đó là hiện tượng bất lợi nên có thể có tranh chấp.
  • Cung ấy xung chiếu Phụ Mẫu, bất lợi cho cha: người này mất cha năm bốn tuổi. Vì là Tật Ách xung chiếu Phụ Mẫu, mà Thái Dương chủ cha, nên không liên quan đến thân thể của chính mình. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Mệnh viên: bất lợi cho cha, chồng, con, lục thân không duyên.
  • Vũ Khúc tọa Đinh Sửu, cung Quan Lộc. Thái Âm hóa Lộc vào Điền Trạch: chắc chắn có tài khố và kiếm tiền từ Điền Trạch. Thiên Đồng hóa Quyền vào Điền Trạch: khởi nghiệp cũng liên quan đến Điền Trạch. Cự Môn hóa Kỵ vào Nô Bộc chiếu Huynh Đệ: anh em không duyên.

Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm: phúc, đào hoa, kho tiền

  • Thiên Đồng tọa Bính Tý, cung Điền Trạch. Thiên Đồng tự hóa Lộc ở Điền Trạch: có phúc khí của Điền Trạch, dựa vào Điền Trạch mà hưởng phúc. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Mệnh: khi đã tự hóa Kỵ thì có phúc mà không hưởng, sẽ tổn Điền Trạch. Thiên Đồng hóa Kỵ liên quan đến thọ nguyên; nhập Mệnh xung Thiên Di, thọ nguyên có thể rơi vào đại hạn Thiên Di, nhưng đây là đại thể biết được chứ không thể xem là tuyệt đối. Khi có ảnh hưởng đến thọ nguyên, nếu không chết thì cũng tổn phúc khí.
  • Liêm Trinh tọa Quý Dậu, cung Mệnh. Phá Quân hóa Lộc vào Mệnh: tự lực khởi nghiệp, vì Liêm Trinh là chủ Quan Lộc, và thân mang đào hoa, ở Thân Mệnh là đào hoa thứ. Đào hoa của mệnh tạo này gắn với sự nghiệp: sự nghiệp mạnh thì đào hoa nhiều, sự nghiệp kém thì đào hoa ít. Tham Lang hóa Kỵ vào Quan Lộc: trong sự nghiệp có thị phi, bị phạt tiền. Đây không phải chuyện đào hoa mà là chuyện sự nghiệp. Kỵ ấy lại xung Phu Thê: đối với vợ không tốt lắm.
  • Thiên Phủ tọa Ất Hợi, cung Phúc Đức. Thiên Cơ hóa Lộc vào Tật Ách, chỗ bệnh: có tài mà không có kho, và không giải thích là chuyện thân thể. Nếu Thiên Phủ ở Phúc Đức tự hóa Lộc thì tiền tiêu hết vào hưởng thụ. Thiên Lương hóa Quyền vào Tật Ách: Quyền không có lực, không bá đạo. Nếu Thiên Phủ hóa Quyền vào Phúc Đức thì bá đạo, tiêu tiền hưởng thụ mà làm đầu lĩnh. Tử Vi hóa Khoa vào Tài Bạch: tiền tài sự nghiệp tùy hợp qua loa, xem tiền không nặng.
  • Thái Âm tọa Bính Tý, cung Điền Trạch. Thiên Đồng hóa Lộc ở Điền Trạch: lộc nằm ở bất động sản. Thiên Cơ hóa Quyền vào Tật Ách: muốn tăng bất động sản thì khó khăn. Văn Xương hóa Khoa vào Nô Bộc. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Mệnh: bất lợi cho mẹ, vợ, con gái, với vợ thì không tốt. Thái Âm sợ nhất là hóa Kỵ vào Phu Thê hay Điền Trạch, nhất là Phu Thê, có thể cả đời không vợ. Nếu Thái Âm hóa Lộc vào Phu Thê chiếu Quan Lộc thì phấn đấu phát triển sự nghiệp để kiếm lộc khố.

Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương

  • Tham Lang tọa Đinh Sửu, cung Quan Lộc, đồng thời là cung Thân. Thái Âm hóa Lộc vào Điền Trạch: vì không vào Mệnh nên Tham Lang không tính là thọ tinh mà tính là tài tinh, vào Điền Trạch thì có đào hoa, tức đào hoa và tài cùng tồn tại. Thiên Đồng hóa Quyền vào Điền Trạch: Điền Trạch có thành tựu. Cự Môn hóa Kỵ vào Nô Bộc: giữa bạn bè gây tranh chấp đào hoa.
  • Cự Môn tọa Bính Dần, cung Nô Bộc. Thiên Cơ hóa Quyền chiếu Phụ Mẫu: giữa cơ quan chính phủ có phát sinh phiền phức. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Mệnh: chắc chắn có thị phi nhân sự, cả đời khó tránh.
  • Thiên Tướng tọa Đinh Mão, cung Thiên Di. Thiên Cơ hóa Khoa vào Tật Ách: ấm tinh vào chỗ bệnh, không phải ấm theo nghĩa che chở mà là thân thể tốt. Hóa Khoa vào cung nào thì cung ấy có ấm. Cự Môn hóa Kỵ vào Nô Bộc: bạn bè sẽ mang đến phiền phức về văn thư. Nếu Thiên Tướng hóa Kỵ vào Mệnh thì chính mình không tốt. Hóa Khoa là người khác che chở mình, hóa Kỵ là người khác hại mình.
  • Thiên Lương tọa Mậu Thìn, cung Tật Ách. Thiên Lương tự hóa Kỵ ở Tật Ách xung Phụ Mẫu: tổn lục thân. Tham Lang hóa Lộc vào Quan Lộc, tam hợp với bản mệnh: tự lực sinh tài, xung Phu Thê nên người mẹ, bậc trên, thương mình. Hữu Bật hóa Khoa vào Phu Thê: Thiên Lương hóa Khoa là sức khỏe của cha mẹ, trưởng bối, mà Phu Thê là cung ngang hàng, nên nam mệnh có thể hiểu là mẹ, và mẹ khỏe mạnh. Nếu vào Tài hay Quan thì không phát sinh tác dụng.

Thất Sát, Phá Quân, Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Tồn

  • Thất Sát tọa Kỷ Tỵ, cung Tài Bạch. Tham Lang hóa Quyền vào Quan Lộc: trong sự nghiệp nắm quyền. Văn Khúc hóa Kỵ vào Điền Trạch: Sát ở Điền Trạch, Điền Trạch có tượng phá hao. Thất Sát vào Điền Trạch đôi khi chủ tử vong, hoặc đi hạn này trong nhà có người chết. Gặp Thất Sát thì việc gì cũng bất lợi, nếu hóa Kỵ vào Điền Trạch thì trong gia đình không yên tĩnh.
  • Phá Quân tọa Quý Dậu, cung Mệnh. Cự Môn hóa Quyền vào Nô Bộc: bạn bè sẽ mang phiền phức hoặc tai ách đến cho mình. Tham Lang hóa Kỵ vào Quan Lộc xung Phu Thê: người phối ngẫu có tổn hại. Nếu Phá Quân tọa Mệnh tự hóa Lộc thì đối với vợ chồng, con cái, bạn bè đều rất tốt.
  • Tả Phù và Hữu Bật cùng tọa Tân Mùi, cung Phu Thê. Văn Khúc hóa Khoa vào Điền Trạch: có công giải ách, Điền Trạch không tiêu hết. Tả Hữu hóa Khoa vào bất kỳ cung nào cũng có công giải ách.
  • Văn Xương tọa Bính Dần, cung Nô Bộc, và Văn Khúc tọa Bính Tý, cung Điền Trạch. Văn Xương hóa Khoa vào Nô Bộc, tức tự hóa Khoa: giữa bạn bè vẫn có quý nhân giúp mình. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Mệnh: chính mình có phiền phức về văn thư.
  • Lộc Tồn tọa Bính Dần, cung Nô Bộc. Thiên Đồng hóa Lộc vào Điền Trạch: kiếm tiền vẫn ở phương diện Điền Trạch. Liêm Trinh hóa Kỵ vào Mệnh: chính mình tổn tài. Với đào hoa, Tham Lang hóa Lộc chủ đào hoa, còn Liêm Trinh chủ xã giao.

Đại hạn lấy Quan Lộc làm thước đo cho nghiệp kinh doanh

Muốn biết một chặng mười năm làm ăn lên hay xuống, hãy nhìn Kỵ của Quan Lộc rơi vào đâu trên mệnh bàn gốc.

  • Thiên can Quan Lộc của đại hạn hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách: sự nghiệp phá sản.
  • Hóa Lộc vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách: sự nghiệp hưng vượng. Hóa Quyền vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách: có tổn nhưng lợi vẫn nhiều hơn.
  • Ngược lại, hóa Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu: sự nghiệp lỗ vốn nhưng chưa đến mức cùng đường.
  • Tài Bạch của đại hạn hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách: tiền tài lỗ hết. Hóa Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu: lỗ lớn nhưng vẫn còn vốn dư. Hóa Lộc, Quyền vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách: kiếm tiền lớn.
  • Tất cả những quyết này lấy Mệnh, Quan Lộc, Tài Bạch của đại hạn hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách của bản mệnh bàn mà nói, nên nhớ luôn là bản mệnh bàn. Nó là hiện tượng tất nhiên mà không rõ vì sao, chỉ biết Tật Ách là chỗ bệnh nên Kỵ nhập thì tổng thể không tốt, và Phụ Mẫu là Tài Bạch của Nô Bộc.
  • Phụ Mẫu xung Tật Ách là tử vong, cùng lẽ ấy Quan Lộc xung Phu Thê cũng là tử vong. Trên hai tuyến này, nếu Tứ Hóa của Mệnh, Tài, Quan nhập xung thì kết quả đúng như đã giải.

Hỏi chuyện thi cử

  • Quan Lộc lưu niên hóa Lộc, hóa Khoa vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách của bản mệnh: chắc chắn thi đậu.
  • Quan Lộc lưu niên hóa Quyền vào Phụ Mẫu của bản mệnh chiếu Tật Ách, đại hạn cũng được: vẫn cần cố gắng.
  • Quan Lộc lưu niên hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách: dù cố gắng thế nào cũng không đậu.
  • Nếu Tứ Hóa của các cung lục thân trong đại hạn vào Phụ Mẫu, Tật Ách, Quan Lộc, Phu Thê của bản mệnh thì ý nghĩa cũng giống thế, chỉ khác chủ thể.

Khẩu quyết cho tiền tài và sự nghiệp

  • Quan Lộc đại hạn hóa Kỵ vào Phụ Mẫu của bản mệnh xung Tật Ách: lỗ vốn phá sản, kéo dài mười năm. Hóa Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu: lỗ vốn nhưng còn dư vốn.
  • Quan Lộc đại hạn hóa Lộc, Quyền vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách: kinh doanh rất hưng vượng, đại lợi. Hóa Lộc, Quyền vào Tật Ách chiếu Phụ Mẫu: kinh doanh tốt, có lợi.
  • Tài Bạch đại hạn hóa Kỵ vào Phụ Mẫu xung Tật Ách: trong đại hạn ấy tiền phải phá. Hóa Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu: phá tài lớn nhưng không hết.
  • Tài Bạch đại hạn hóa Lộc, Quyền vào Phụ Mẫu chiếu Tật Ách: phát tài lớn. Vào Tật Ách chiếu Phụ Mẫu: kiếm được tiền. Điền Trạch cũng cùng lẽ.
  • Nếu Tài, Quan, Điền của đại hạn đến từ các cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc, Phu Thê, Tử Tức mà hóa vào Phụ Mẫu của bản mệnh bàn xung chiếu Tật Ách, thì điều được mất thuộc về lục thân của họ.

Đại hạn đối với bản mệnh là cát hung của mười năm. Đại hạn đối với đại hạn là cát hung của một năm, theo năm Kỵ tọa hoặc Kỵ xung, và lưu niên đối với đại hạn cũng là cát hung của một năm. Lộc, Quyền, Kỵ của Quan, Tài, Điền vào Quan Lộc xung chiếu Phu Thê, hoặc Phu Thê xung chiếu Quan Lộc, cùng lẽ với Phụ Mẫu xung Tật Ách và Tật Ách xung Phụ Mẫu. Quan Lộc xung Phu Thê thì mạnh, Phu Thê xung Quan Lộc thì ôn hòa.

Phụ Mẫu xung Tật Ách và Quan Lộc xung Phu Thê là tuyến tử vong chính. Tật Ách xung Phụ Mẫu và Phu Thê xung Quan Lộc là tuyến bệnh nặng chính, gộp lại thành tuyến tử vong kép. Vì thế sự nghiệp và tài khố nhập tuyến tử vong thì hoàn toàn phá sản, tổn hết. Nhập tuyến bệnh nặng thì sự nghiệp, tài lộc vẫn còn một đường sống. Đó là khi hóa Kỵ; còn hóa Lộc, Quyền thì đại cát.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh