Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Hai bảng Hoa giáp lệch nhau ở hành Thủy và hành Hỏa: ai đúng?

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp05/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Hai bảng Hoa giáp lệch nhau ở hành Thủy và hành Hỏa: ai đúng?

Cùng một người sinh năm Bính Dần, bảng này ghi mệnh Hỏa, bảng kia ghi mệnh Thủy. Hai mươi bốn năm trong vòng sáu mươi bị hoán đổi hành, kéo theo mọi phép sinh khắc đảo chiều. Nếu hai hành ấy thật sự đổi chỗ thì những gì xưa nay người ta đã đoán...


Mỗi năm một hành riêng: cách bảng sáu mươi năm được đọc

Bảng Lục thập Hoa giáp gán cho mỗi năm trong vòng sáu mươi năm một hành riêng. Trong một vòng Giáp Tý, các hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ không chỉ lặp lại mà còn chia thành những khí độ khác nhau: năm cặp năm có cùng tên hành nhưng khác nhau ở thứ khí độ được nạp cho nó. Khái niệm bản mệnh của con người trong thuyết Âm Dương Ngũ hành bắt nguồn từ đây.

Nguyễn Ngọc Thạch lấy vòng Giáp Tý từ năm 1946 đến năm 2006 làm ví dụ. Trong vòng này có mười hai năm mang hành Thổ, nhưng mười hai năm ấy chia thành sáu loại đất khác nhau. Hai năm 1946 và 1947, tức Bính Tuất và Đinh Hợi, là Ốc thượng thổ, đất nóc nhà. Hai năm 1960 và 1961, tức Canh Tý và Tân Sửu, là Bích thượng thổ, đất vách nhà. Hai năm 1968 và 1969, tức Mậu Thân và Kỷ Dậu, là Đại trạch thổ, đất nền chòi. Hai năm 1976 và 1977, tức Bính Thìn và Đinh Tỵ, là Sa trung thổ, đất trong cát. Hai năm 1990 và 1991, tức Canh Ngọ và Tân Mùi, là Lộ bàng thổ, đất bên đường. Hai năm 1998 và 1999, tức Mậu Dần và Kỷ Mão, là Thành đầu thổ, đất đầu thành.

Bốn hành còn lại là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa cũng được nạp theo cách y như vậy cho bốn mươi tám năm còn lại của vòng Giáp Tý, và đúng với bất kỳ vòng Giáp Tý nào khác. Xếp tất cả theo thứ tự tên Can Chi từ Giáp Tý đến Quý Hợi thì được bảng Lục thập Hoa giáp. Bảng này xuất hiện trong nhiều tác phẩm cổ như Ngọc hạp chính tông, Diễn cầm tam thế, Tướng mệnh khảo luận, và nhiều thế hệ đã xem nó là nền tảng của mọi lý thuyết về thuật, y, lý, số, là niềm tự hào của nền văn minh lúa nước và văn hóa phương Đông.

Bài thơ giữ khóa của bảng và nỗi ngờ về nguồn gốc

Để biết người sinh một năm nào đó mang hành gì, người xưa dùng một cách đếm trên bàn tay trái cùng một bài thơ, mà Nguyễn Ngọc Thạch gọi là bài thơ mã khóa của bảng Lục thập Hoa giáp. Ví dụ ông nêu ra là một người đàn ông tính đến năm 2007 được bốn mươi tám tuổi, kể cả tuổi mụ. Đếm Địa Chi, đếm Thiên Can rồi đếm đến hành, người ấy hóa ra tuổi Canh Tý và có bản mệnh thuộc hành Thổ.

Về ngữ nghĩa, bài thơ không có gì phải bàn, nhưng Nguyễn Ngọc Thạch lưu ý đến cấu trúc chữ trong bài. Bộ Kim có trong các chữ ngân, câu, chung. Bộ Hỏa có trong các chữ yên, đăng, thiêu. Bộ Mộc có trong các chữ giá, sài, lâu. Bộ Thổ có trong các chữ bích, tự, địa. Bộ Thủy có trong các chữ mãn, thấp, hán. Chính những bộ chữ ấy là dấu hiệu báo cho biết tuổi Can Chi đó thuộc hành gì.

Nhưng điều ông nhấn mạnh lại nằm ở chỗ khác: bài thơ và quy tắc tìm bản mệnh có nguồn gốc từ đâu, và nguyên lý nào đã xác định bản mệnh cho từng phần tử trong sáu mươi phần tử, cho đến nay vẫn là một câu hỏi lớn chưa có lời giải. Qua tam sao thất bản và sự tàn phá của thời gian, các nhà nghiên cứu có quyền nghi ngờ tính chân xác của những phiên bản còn lại của học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Câu hỏi lớn nhất mà ông cho là chưa ai trả lời thích đáng là bảng Lục thập Hoa giáp được xây dựng từ nguyên lý nào.

Hai bảng đặt cạnh nhau: hành Thủy và hành Hỏa đổi chỗ

Có những công trình nghiên cứu thẳng thắn đề nghị thay hành của những năm mà bảng Lục thập Hoa giáp ghi là hành Hỏa thành hành Thủy, và ngược lại. Một công trình như vậy là cuốn Tìm về cội nguồn Kinh Dịch của Nguyễn Vũ Tuấn Anh, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2001. Người viết còn đề xuất một bảng nạp Ngũ hành mới, đặt tên là Lạc thư Hoa giáp.

Để so sánh, Nguyễn Ngọc Thạch trích bảng Lục thập Hoa giáp trong sách Diễn cầm tam thế diễn nghĩa của soạn giả Dương Công Hầu, rồi đặt bên cạnh bảng Lạc thư Hoa giáp. Trong bảng thứ nhất, các phần tử mang hành Thủy và hành Hỏa được gạch chân để dễ thấy chỗ khác biệt. Ở bảng cổ, Giáp Tý và Ất Sửu là Kim vàng dưới biển; Bính Dần và Đinh Mão là Hỏa lửa trong lò; Mậu Thìn và Kỷ Tỵ là Mộc cây rừng lớn; Canh Ngọ và Tân Mùi là Thổ đất đường lộ; Nhâm Thân và Quý Dậu là Kim vàng gươm nhọn; Giáp Tuất và Ất Hợi là Hỏa lửa trên núi; Bính Tý và Đinh Sửu là Thủy nước dưới sông. Chuỗi nạp âm ấy cứ thế đi hết sáu mươi năm.

Điểm khác nhau giữa hai bảng đúng là vị trí của mười hai hành Thủy và mười hai hành Hỏa. Hai bảng không tương đồng ở chỗ ấy, và việc phân định bên nào đúng, bên nào sai là rất khó, vì nguyên lý tổng quát dựng nên các bảng Hoa giáp này đã thất truyền. Sự xuất hiện của Lạc thư Hoa giáp, theo Nguyễn Ngọc Thạch, phần nào cho thấy tính bất ổn của Lục thập Hoa giáp, và tình trạng loạn tin trong bói toán cũng có nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ việc thất truyền ấy.

Nếu hai hành ấy đổi chỗ thì mọi phép sinh khắc đều đảo lộn

Điều này, ông viết, vô cùng hệ trọng. Nếu không giải quyết triệt để, mọi suy lý theo lối tương sinh, tương khắc giữa các hành mà xưa nay vẫn gán cho hành Thủy hoặc hành Hỏa sẽ bị đảo lộn. Khi ấy, mọi thành quả của học thuyết Âm Dương Ngũ hành trong dự đoán và chữa bệnh từ trước đến nay có thể chỉ là ảo thuật. Hoặc cũng có thể việc dùng bảng Lục thập Hoa giáp còn một điều bí mật nằm trong phép biến hành mà nhiều người chưa ngộ ra.

Ông cho rằng chỗ này cũng giải thích vì sao khi nói đến bản mệnh, hầu như sách nào cũng né tránh và cùng đưa ra một câu trả lời với ý rằng sách xưa viết vậy. Bảng Lục thập Hoa giáp vô hình chung trở thành một vật cản khó vượt qua của nhiều công trình nghiên cứu thuật, y, lý, số từ xưa đến nay.

Ba câu hỏi lớn chưa có lời giải

Từ thực tế trên, Nguyễn Ngọc Thạch nêu ba vấn đề cần giải quyết cho thuyết Âm Dương Ngũ hành. Vấn đề thứ nhất là việc phân định đúng sai giữa hai bảng Hoa giáp khó khăn đến thế nào, và phải chăng đó là lý do mọi sách đều né tránh bản mệnh.

Vấn đề thứ hai là chẳng ai dám khẳng định mình dự đoán trúng một trăm phần trăm khi vận dụng thuật bói toán. Như vậy, dự đoán theo thuyết Âm Dương Ngũ hành với bảng Lục thập Hoa giáp làm nền tảng sẽ cho kết quả chính xác bao nhiêu phần trăm, và làm thế nào để nâng cao độ chính xác ấy?

Vấn đề thứ ba là nguyên tắc dùng bảng Lục thập Hoa giáp để dự đoán thế nào là đúng, thế nào là sai. Vì sao cấu trúc tứ trụ thời gian lại chứa con số hai: hai ngày, hai tháng, hai năm, hai canh giờ có chung một hành? Trong mỗi con người đủ các thuộc tính hỷ, nộ, ái, ố, mà bản mệnh chỉ ghi một hành? Chẳng lẽ lại có ngày tốt, giờ tốt, hoặc ngày xấu, giờ xấu xảy ra cho cả nhân loại trong cùng một thời điểm?

Ông còn đặt thêm hàng loạt câu hỏi: vì sao năm này có hành là A mà không phải là B; bảng Lục thập Hoa giáp hình thành như thế nào; từ nay về sau nên dùng bảng Hoa giáp nào; bản chất của Kinh Dịch và con đường cập nhật Kinh Dịch trong tương lai là gì; bản chất của mọi bảng Hoa giáp; và nên hiểu như thế nào về bản chất của phong thủy và phong thủy học hiện đại.

Cách giải thích của một người nghiên cứu: ba loại vỏ ghép thành một bảng

Để trả lời, Nguyễn Ngọc Thạch dựng một mô hình mà ông gọi là Thái cực Hoa giáp truyền thống. Mô hình này có năm dạng vỏ, mỗi dạng ứng với một cách đặt điểm khởi đầu Giáp Tý và một chiều vận khí của vũ trụ. Theo ông, bảng Lạc thư Hoa giáp chính là vỏ thứ nhất của Thái cực Hoa giáp truyền thống, với điểm đầu Giáp Tý trùng với hành Kim của phần nhân.

Còn bảng Lục thập Hoa giáp, ông nhận xét, được hình thành bằng cách ghép ba loại vỏ khác nhau. Hành Hỏa được lấy từ dạng vỏ thứ tư, nơi điểm khởi đầu Giáp Tý trùng với hành Mộc của phần nhân. Hành Thủy được lấy từ dạng vỏ thứ ba, nơi Giáp Tý trùng với hành Hỏa của phần nhân. Ba hành còn lại là Kim, Mộc, Thổ được lấy từ vỏ thứ nhất, với xu thế vận khí tương sinh và Giáp Tý trùng hành Kim của phần nhân.

Từ đó ông rút ra kết luận. Theo nguyên lý hoàn nguyên Thái cực và tính liên tục của hàm Thái cực, việc dùng bảng Lục thập Hoa giáp trong dự trắc học đã nạp hành chưa đúng với nguyên lý hình thành Thái cực ở hai mươi bốn điểm định vị.

Hai mươi bốn năm cần đổi hành, ba mươi sáu năm giữ nguyên

Hai mươi bốn điểm ấy chính là toàn bộ các cặp năm mang hành Hỏa và hành Thủy trong bảng: sáu cặp Hỏa và sáu cặp Thủy, mỗi cặp hai năm. Ông liệt kê từng năm, từ Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi, cho đến Nhâm Tuất, Quý Hợi. Để dùng, ông đề nghị đổi hành Thủy thành Hỏa và hành Hỏa thành Thủy trong hai mươi bốn Thái cực này, cho khớp với vỏ thứ nhất, tức bảng Thái cực Hoa giáp truyền thống. Ba mươi sáu Thái cực còn lại của Lục thập Hoa giáp được ông nhận xét là chính xác như vỏ thứ nhất.

Nói cách khác, quan điểm của ông trùng với đề nghị của bảng Lạc thư Hoa giáp ở chỗ hoán đổi Thủy và Hỏa, nhưng được rút ra từ nguyên lý chung chứ không chỉ từ so sánh hai bảng.

Ông cũng lưu ý rằng ba mươi tên gọi khác nhau của năm hành trong Lạc thư Hoa giáp, ba mươi tên gọi trong Lục thập Hoa giáp, và mười lăm tên gọi trong Thái cực Hoa giáp có bản chất không khác nhau, vì đều nói về khí độ của Ngũ hành. Tuy vậy, dùng cách gọi trong Thái cực Hoa giáp thì thuận lợi hơn, vì tránh được những ngộ nhận do ngôn ngữ tượng hình của người xưa để lại, vốn cũng là một rào cản đối với người mới tiếp xúc với phong thủy khi gặp những cái tên như Lục thập Hoa giáp hay Lạc thư Hoa giáp.

Ông đề nghị người dùng nên coi các bảng Hoa giáp như những cột mốc cây số trên đường. Cột mốc cho khách biết sơ bộ khoảng cách so với vật làm gốc, nhưng con số ghi trên đó không thay được việc đánh giá chất lượng cả con đường. Tên của các hành, tên các con vật dùng làm ký hiệu trong bảng cũng không phải là chính con người; nhiều khi vì thiếu thông tin mà ta tự gán vào thân mình rồi suy tốt xấu từ một khởi đầu vô căn cứ.

Nguồn: Nguyễn Ngọc Thạch, Hằng Số Luân Hồi – Thái Cực Hoa Giáp.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp