Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Nguyên lý ngũ hành nạp âm và cách đọc những câu phú cổ

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp26/09/202611 phút đọc4 lượt đọc
Nguyên lý ngũ hành nạp âm và cách đọc những câu phú cổ

Giáp là Mộc, Tí là Thuỷ, hai chữ đứng chụm lại thành Kim, thật là một cảnh lạc lõng khác thường. Cụ Thiên Lương bảo chỗ tưởng như vô lý ấy lại là một định lý rất cao siêu của lý học, dựng trên ba bậc Trời, Đất, Người. Và cũng chính cái nền ấy dạy người đọc số cách cầm lấy những câu phú cổ nhân để lại…


Nạp âm là phối hiệp để thành một tiếng

Nạp âm là phối hiệp để thành một tiếng.

Ngũ hành nạp âm là Can và Chi ghép lại hoá nên một hành khác.

Nạp âm ngũ hành của 60 hoa giáp là sự thành lập ngũ hành của 10 thiên can phối hợp với 12 địa chi theo nhạc điệu Cung (thổ), Thương (kim), Giốc (Mộc), Chuỷ (Hoả), Vũ (Thuỷ). Nhưng vẫn thấy không cho phép tin tưởng đâu là chính lý hoàn hảo.

Hàng Can đã trình bày ngũ hành được rành mạch đều đặn bằng 5 cặp phân tách âm dương chính xác. Đến hàng Chi, để cho đúng thời tiết phải thêm 2 hành Thổ làm cái mức nối tiếp cho 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông, để cho mỗi mùa tương đối xê xích 3 tháng trên dưới 90 ngày, cứ Dần Mão là Xuân, Tỵ Ngọ là Hạ, Thân Dậu là Thu, Hợi Tí là Đông.

Thế thái cực cân phân trên địa bàn và ba cặp làm mốc

Muốn biết vì sao hai chữ ghép lại hoá ra một hành thứ ba, phải lùi lại mà nhìn cả tấm địa bàn như nhìn một thế cân.

Lấy tinh tâm mà ngắm nhìn kỹ bản địa bàn tử vi, thấy cả 1 thế thái cực vững vàng cân phân, đủ thời tiết đến phương hướng hoàn hảo trúng cách. Thế thái cực thành lập gồm đủ lưỡng nghi tương phân, từ Mão đến Thân thuộc Thái dương và từ Dậu đến Dần thuộc Thái âm, như hai đĩa cân ngang bằng sánh đôi. Về hình thức thật là bằng nhau nhưng tính cách lại khác biệt. Một đằng thuộc Thái Dương sáng lạng bao nhiêu, trái lại bên âm âm tối bấy nhiêu, như trắng với đen. Một bên gồm Hoả (Ngọ) với Kim (Thân), bên kia của Thuỷ (Tí) với Mộc (Dần). Hai điểm Thìn Tuất là 2 thế giao điểm pháp nguồn (Thiếu âm và Thiếu âm). Bên này có Thuỷ khắc Hoả thì bên kia có Kim khắc Mộc.

Như vậy có 3 cặp tương xứng đối diện nhau nên được đặt làm 3 mốc chính để bắt đầu xếp nạp âm định lý ngũ hành cho một hoa giáp.

Nhưng tại sao Giáp Tí được coi là Kim hành, Giáp Tuất là Hoả và Giáp Dần là Thuỷ? Biết rằng Giáp là Mộc, Tí là Thuỷ, 2 chữ đứng chụm với nhau lại là Kim, thấy như không có mạch lạc gì giữa nạp âm với Can Chi, như 2 chữ Tân Dậu cả 2 Can Chi đều có Kim mà hành chung lại là Mộc, thật là một cảnh lạc lõng khác thường.

Ba hành Hoả, Thuỷ, Kim đại diện cho tam tài Thiên Địa Nhân

Chỗ lạc lõng khác thường ấy, cụ Thiên Lương bảo là một định lý, và định lý đó được dựng trên ba bậc Trời, Đất, Người.

Đây là một định lý, có thể nói là rất cao siêu của lý học. Hành Hoả là tư thế sự vật bùng cháy bốc lên, tượng trưng cho Thiên. Thuỷ là sự xâm nhập lắng xuống, biểu hiện cho Địa. Còn Kim là tư thế của sự vật quyết liệt để trường tồn, là Nhân. Ba hành này đại diện cho tam tài Thiên Địa Nhân, có ý nghĩa là 60 hoa giáp do 3 cấp Trời, Đất và người hiệp định xây dựng quyết định, và chỉ có 3 hành này được bắt đầu hướng đi như:

Mốc khởi đầuHành và tự nghĩaĐường đi
Giáp Dần (Địa)Thuỷ – HánSinh: Thổ – Địa, Hoả – Thiên, Mộc – Sài, Thuỷ – Thấp
Giáp TíKim – NgânSinh: Hoả – Đăng, Mộc – Giá, Thổ – Bích, Kim – Câu
Giáp Tuất (Thiên)Hoả – YênKhắc: Thuỷ – Mãn, Thổ – Tự, Kim – Chung, Mộc – Lâu

Trong 12 chi có 6 Chi dương ghép với 5 Can dương và 6 Chi âm hợp với 5 Can âm, làm sao mỗi Chi đứng với 1 Can có một hành riêng, tức là 5 Can có đủ ngũ hành như:

TuổiNạp âmTuổiNạp âm
Giáp TíKimẤt DậuThuỷ
Bính TíThuỷĐinh DậuHoả
Mậu TíHoảKỷ DậuThổ
Canh TíThổTân DậuMộc
Nhâm TíMộcQuí DậuKim

Bên Thái âm (Giáp Tí, Giáp Tuất, Giáp Dần) cũng như bên Thái dương (Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn) đều có ý nghĩa của sự sắp xếp như:

  • Giáp Tuất và Giáp Thìn thuộc Hoả là Thiên Mệnh, có ý định răn trừng tiềm tàng ở trong khối toả ra 2 đầu: Kim khắc Mộc và Thổ khắc Thuỷ.
  • Giáp Dần và Giáp Thân thuộc Thuỷ là Địa Mẫu, có ý nuôi dưỡng dịu hiền nên Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ tuần tự phát huy.
  • Giáp Tí và Giáp Ngọ thuộc Kim là ý định của nhân sinh tiềm tàng trong nội tâm lòng ham muốn sanh tồn, nên ở giữa vươn ra Thổ sinh Kim và Mộc sinh Hoả.

Người tuổi Canh Tuất Mệnh Thân đồng cung Thìn thấy ngay người sống trong nội tâm bất đắc dĩ, được hành nạp âm của mệnh là Kim, bồi thêm Kim cục thuận đường đi nước bước. Vũ Khúc và Thiên Mã là nghị lực (Kim) chính xác của dương nhân, mặc dầu sự ganh đua không được phần chánh nghĩa (Thái Tuế ở Di) mà vẫn thành công dễ dàng, vì vị trí Thân Tí Thìn khắc được Dần Ngọ Tuất, phù hợp với 2 chữ Canh Tuất (Tuất sinh Canh, đường đời dễ gặp nhau); dầu sao cũng là hoàn cảnh không cho phép đắc ý (Tuế Phá) với khả năng có thừa.

Âm dương ngũ hành là then chốt của lý học. Mọi sự huyền diệu không ngoài sự giao dịch động hay tĩnh của ngũ hành và luật lệ âm dương, cũng là khả năng vô địch của tam tài Thiên Địa Nhân.

Những câu phú nên thận trọng khi áp dụng

Cái nền ngũ hành đã dựng xong thì đến lượt những câu văn vần mà người học số nào cũng thuộc lòng, và cũng chính chúng dễ làm người ta lầm nhất.

Những câu phú là những câu văn vần do cổ nhân ghi chép lại, sau một thời gian khá kinh nghiệm về kết quả cũng như sự phối hiệp giữa các hành tinh mà nên ảnh hưởng. Sở dĩ phải làm thành văn vần như có ý định: trước mắt là dễ nhớ, sau để người đi sau lấy đó mà tìm kiếm thêm nếu còn những khía cạnh nào chưa được hoàn hảo hay sơ sót trên phương diện nào.

Đọc những câu phú, ngày nay thấy như những câu sấm ký truyền lại của những cá nhân, nó mênh mông trên cương vị tổng quát, không quyết định hẳn cho một trường hợp nào. Như câu:

Trai bất nhân Phá quân Thìn Tuất, Gái bạc tình Tham Sát Dần Thân

Có phải bất cứ mệnh nào nằm ở Thìn Tuất mà có Phá Quân là trai bất nhân và Tham Lang Thất Sát ở Dần Thân là gái bạc tình?

Số có 60 tuổi, mỗi tuổi có một hành, tuy nói là ngũ hành nhưng khác nhau rất nhiều, như 2 người cùng tuổi Kim là Giáp Tí và Giáp Ngọ, một đằng Tí sinh Giáp khác với Giáp sinh Ngọ. Căn bản của Giáp Ngọ là nó dầy chắc, trái với Giáp Tí chỉ là nông cạn. Huống chi còn 12 vị trí, mỗi vị trí đối với tuổi dương nhân nó chỉ một vị trí khá đặc biệt.

Biết rằng mỗi tam hợp có 3 vị trí dùng thế chân vạc làm gốc riêng của 4 cách: Thái Tuế, Tuế Phá, Thiếu Dương và Thiếu âm. Thái Tuế chia ra Thái Tuế chính xác, Quan Phù và Bạch Hổ. Tuế Phá bao gồm Tuế Phá, Tang môn và Điếu khách. Thiếu Dương có Tử Phù và Phúc đức. Thiếu âm có chi nhánh Long đức và Trực Phù. Thiết tưởng mỗi tư cách của mỗi sao ghép vào 60 tuổi đã cho ra một hình thái khá rành rẽ khác nhau, lại được lọc thêm qua 12 vị trí thì kết quả phải là tinh vi đến thế nào.

Dưới phép luận số 60x12 thấy có 720 mầu sắc dị biệt, thì Phá Quân và Tham Lang, Thất Sát kia hẳn phải có những cuộc lột xác nhiều thay đổi.

Riêng đối với phái nữ, Sát Phá Tham nói chung không hợp điệu của phe liễu yếu đào tơ, là người tháo vát đảm đang gan góc, cũng phải tuỳ các khía cạnh mới dám quyết định đâu là đoan chính, đâu là lăng loàn. Muốn hợp cách chỉ có Đồng Lương, Tử Phủ bồi đắp thêm Hoá Khoa càng thêm khả ái.

Cổ nhân đã chịu mất công ghi chép lại bằng những câu phú, phải là những bậc trí tuệ có thừa, biết rằng công cuộc về tinh thần không phải một thế hệ mà được hoàn hảo. Cần phải bao thế hệ xây đắp may ra mới xây đắp được một quãng đường dài thám hiểm. Lại còn e dè những ai chẳng may lầm đường lạc lối dồn vào ngõ bí vì tam sao thất bản.

Bốn tuổi cùng Phá Quân toạ thủ ở Tuất, bốn cảnh đời khác nhau

Câu phú nói trai bất nhân, nhưng đem bốn tuổi cùng một thế đứng ra soi thì cái nhãn hiệu ấy chỉ đúng với một người.

Dịch học từ đời Phục Hy (2900 trước dương lịch) mãi mãi đến đời Khổng Khâu (600 trước dương lịch) mới gọi là san định được một phần khởi sắc. Đem so 2 khoảng thời gian, từ 2900 trước dương lịch đến 600 trước dương lịch có 2300 năm, và từ 600 trước dương lịch đến nay 1984 sau dương lịch có 2584 năm, tạm cho là ngang bằng nhau. Thời gian hiện nay nhờ khoa học tiến bộ, mỗi ngành từ vật chất đến tinh thần không thể khai thác trong u minh, đều phải phân tách cho hợp luân lý, tránh sao không còn tồn tại lời mỉa mai: dị đoan huyền bí.

Thử lấy 4 tuổi Giáp Dần, Đinh Tỵ, Ất Mùi và Bính Tí, cung Mệnh cùng đóng ở cung Tuất có Phá Quân toạ thủ, xem đâu là chính công Phá Quân như phú đã nêu ra, đâu là nỗi tinh thần uẩn khúc của người bị ngờ vực oan.

  • Giáp Dần là tuổi có 1 căn bản vững vàng (Giáp và Dần đều là Mộc). Mệnh đóng ở Tuất trong tam hợp Thái Tuế, vị trí Bạch Hổ là kiếp nhân sinh đã có một trách vụ gì với xã hội, thực hiện với bất cứ giá nào, mặc dầu mệnh Thuỷ chính xác Phá Quân. Người này làm việc có tính cách mạnh bạo bị lầm tưởng mà thôi. Bất nhân không thể là người Thái Tuế.
  • Tuổi Đinh Tỵ cũng như Giáp Dần, Thiên Phủ có một căn bản vững chắc. Mệnh ở Tuất là tư thế Tử Phủ trong tam hợp Thiếu Dương. Người khôn ngoan Thổ Mệnh khác hẳn Phá Quân là Thuỷ, có những hành động khéo giỏi không thể nói là bất nghĩa.
  • Ất Mùi Kim mệnh đóng ở Tuất là vị trí Thiếu âm. Người này vì quá tin tưởng lại vụng tính nên có những hành động Phá Quân (Kim Mệnh sinh Thuỷ Phá Quân). Sự lỗi lầm này kể cũng đáng thương hại.
  • Bính Tí, đời đầy rẫy nghịch cảnh (Tí khắc Bính), ở vị trí Điếu khách trong tam hợp Tuế Phá, luân phiên bất đắc ý, gặp Phá Quân đồng hành Thuỷ với mệnh, làm gì mà không tung hoành cho thoả chí thay đổi (Điếu khách). Nhãn hiệu Phá Quân quả là chính hiệu.

Những trường hợp trên kể cũng nên khai thác thêm hiệu lực của Hoá Khoa, có thể coi như một căn phòng bao che để hoán cải từ các vị độc dược trở thành các vị thuốc rất hiệu lực bồi bổ sức khoẻ. Bộ Sát Phá Tham nói chung, hãm địa nói riêng, gặp Hoá Khoa như phe Triệt giáo (súc vật tu thành tiên) được đắc đạo. Hoá Khoa có khả năng lột xác phàm phu, hoán cải tư cách, tức là trường hợp hung tinh ngộ chế. Từ Phá Quân đến Tham Lang, Thất Sát trở thành những hiền nhân hiệp khách treo cao phẩm giá.

Đối với Nhật Nguyệt Đồng Lương đắc Hoá Khoa, nêu danh thành tích đặc hạng của một chuyên khoa, chỉ rõ một thượng thặng siêu ngành riêng biệt.

Sát Phá Tham gặp Tuần Triệt cũng mất tính cách hung hãn, nhưng không còn gì (Triệt) hay giảm hẳn tốc lực (Tuần) của bộ máy tinh vi thực hành đắc dụng.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư — Thiên Lương

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp