Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Âm dương, ngũ hành và cách đọc tính tình, dáng người

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn04/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Âm dương, ngũ hành và cách đọc tính tình, dáng người

Thủy hợp với Kỵ, Mộc hợp với Khoa, Hỏa hợp với Quyền, Kim hợp với Lộc: năm hành ấy nằm ngay trong từng sao hóa chứ không chỉ thuộc về Bát Tự. Từ đó đọc được người cao gầy hay đậm người, hiền lành hay xốc nổi, và cả ngôi nhà thuở nhỏ có con sông khô cạn hay không…


Âm dương: hai mặt của vạn vật, không tuyệt đối

Âm dương và ngũ hành là cốt lõi của mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, và việc dùng chúng không chỉ giới hạn trong Đẩu Số. Mọi vật trên thế gian đều có âm và dương. Âm dương là một phương pháp biện chứng đơn giản mà mộc mạc: không chỉ chia mọi thứ thành hai mặt, mà còn xếp hai mặt đối lập của vạn vật thành hai nhóm lớn theo tính chất, và tính chất chung của các vật cùng nhóm thì giống nhau.

  • Dương: trời, nam, ánh sáng, hướng lên, sự sinh trưởng, mặt chính diện, bên ngoài, động, nóng, mạnh mẽ, cứng rắn, vật chất. Mọi điều tích cực, mang tính phát triển đều thuộc dương.
  • Âm: đất, nữ, bóng tối, hướng xuống, sự chết, mặt trái, bên trong, tĩnh, lạnh, tinh thần. Mọi điều tiêu cực, chậm lùi đều thuộc âm.

Tuy vậy sự phân chia ấy không tuyệt đối. Dịch học cho rằng trong dương có âm, trong âm có dương, và đó là nguyên nhân căn bản khiến vạn vật đổi thay. Từ xưa âm dương vốn là mối quan hệ đối lập cơ bản nhất của mọi sự vật, là quy luật khách quan của tự nhiên, cội nguồn của sự vận động biến hóa, đồng thời là quy tắc để con người nhận biết sự vật.

Khái niệm này bắt nguồn từ cách người Trung Quốc cổ nhìn tự nhiên: họ thấy trời và đất, mặt trời và mặt trăng, ngày và đêm, lạnh và nóng, nam và nữ, trên và dưới vừa đối lập vừa gắn bó, rồi dùng tư duy triết học khái quát thành “âm dương”. Mọi vật đều có âm dương, không thể tách rời, luôn nương tựa nhau.

Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Vạn vật ôm âm mà mang dương, hòa khí để đạt sự cân bằng.

Âm là lạnh, tối, tụ lại, thực thể hóa; dương là nóng, sáng, biến hóa, khí hóa. Trong Đẩu Số có Thái Âm và Thái Dương, trong đó Thái Âm hiển hiện rõ ràng hơn Thái Dương. Trong âm có dương, trong dương có âm, và âm dương không ngừng biến đổi. Âm dương có bốn quy luật chính: tiêu trưởng, chuyển hóa, cùng tồn tại, và đồng loại đẩy nhau, khác loại hút nhau.

Tiêu trưởng: bên này lùi thì bên kia tiến

Tiêu trưởng nghĩa là hai mặt tương ứng trong mọi sự vật luôn vận động và biến đổi: một bên giảm thì bên kia tăng, một bên tiến thì bên kia lùi, tạo nên trạng thái cân bằng động để sự vật phát triển bình thường. Đó là điều mà người xưa viết trong luận về đồ Thái Cực.

Vô cực sinh thái cực. Thái cực động mà sinh dương, động đến cực điểm thì tĩnh, tĩnh mà sinh âm, tĩnh đến cực điểm lại động. Một động một tĩnh làm gốc cho nhau. Phân âm phân dương, lập ra lưỡng nghi. Dương biến âm hợp, sinh ra Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Năm khí phân bố đều, bốn mùa vận hành.

Ngày và đêm đổi nhau, xuân hạ thu đông luân chuyển, lạnh và nóng thay phiên, đều là biểu hiện của tiêu trưởng. Trong Đẩu Số, lá số chia mười hai cung và cung nào cũng có thể là điểm khởi đầu; chạy qua mười hai tháng sẽ có một điểm kết thúc. Chẳng hạn Mệnh cung là 1, điểm khởi đầu, thì Phụ Mẫu là 12, điểm kết thúc. Sự đổi thay của bốn mùa, sự kết hợp giữa động và tĩnh, khiến Tử Vi Đẩu Số chia thành mệnh bàn tĩnh (bản mệnh) và mệnh bàn động (đại hạn, lưu niên). Động thì sinh biến.

Chuyển hóa: vật cực tất biến

Chuyển hóa là sự đổi chỗ giữa hai mặt âm dương. Khi đạt đến một điều kiện nhất định thì mỗi mặt chuyển sang mặt đối lập, đó là “vật cực tất biến”, dương cực thì thành âm, âm cực thì thành dương. Trong Đẩu Số, sự chuyển hóa giữa bản mệnh và đại hạn là ví dụ: bản mệnh là tĩnh, đại hạn là động. Nếu tuyến Phụ Mẫu – Tật Ách, tuyến ánh sáng, trong bản mệnh có vấn đề thì không vội kết luận học nghiệp hay công danh không tốt, vì tuyến Phụ Mẫu – Tật Ách trong đại hạn luôn thay đổi; sau khi chuyển hóa cần xem lại. Bản mệnh, đại hạn, lưu niên đều chuyển đổi qua lại lẫn nhau.

Cùng tồn tại: trong con cá đen có mắt trắng

Trên đồ Thái Cực, hình ảnh rõ nhất là trong con cá âm màu đen có một vòng mắt trắng thuộc dương, và trong con cá dương màu trắng có một vòng mắt đen thuộc âm. Trong quẻ dương có hào âm, trong quẻ âm có hào dương, giống như trong địch có ta, trong ta có địch. Âm trong dương và dương trong âm là nguyên nhân nội tại của sự chuyển hóa. Trong Đẩu Số, điều này là sự cùng tồn tại của Tứ Hóa: Tứ Hóa năm sinh là tĩnh, tự hóa làm nó động, hai yếu tố này chuyển đổi qua lại nhưng cùng tồn tại trong một mệnh bàn.

Đồng loại đẩy nhau, khác loại hút nhau

Những vật cùng thuộc tính âm hoặc dương thì đẩy nhau, khác thuộc tính thì hút nhau. Ví dụ trong Mai Hoa Dịch Số, hai quẻ dương như Càn ở trên và Chấn ở dưới gặp nhau thành quẻ Thiên Lôi Vô Vọng, dễ có tai họa bất ngờ, dẫn đến hôn nhân không lý tưởng; còn một quẻ âm là Tốn kết hợp với quẻ dương Chấn thành quẻ Phong Lôi Ích, bổ trợ cho nhau.

Trong Đẩu Số, ở cung Phu Thê hoặc Điền Trạch, sự kết hợp giữa sao nam (dương tinh) và sao nữ (âm tinh) là tốt nhất. Nếu mệnh bàn của nữ mà cung Phu Thê có hai sao nữ như Tử Vi và Hữu Bật thì hôn nhân dễ gặp vấn đề: sau khi kết hôn người vợ có thể cảm thấy chồng không yêu mình, cô đơn và không hạnh phúc. Đó chính là nguyên lý “cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng”, và cũng là lẽ hút nhau hay đẩy nhau giữa hai mệnh.

Ngũ hành: sinh khắc và cách nhớ

Ngũ hành là một quan niệm vật chất cổ xưa của Trung Quốc, thường dùng trong triết học, y học cổ truyền và bói toán, gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Người xưa cho rằng tự nhiên cấu thành từ năm yếu tố này, sự thịnh suy của chúng khiến tự nhiên đổi thay, ảnh hưởng vận mệnh con người và khiến vạn vật vận hành không ngừng. Học thuyết ngũ hành nhấn mạnh tính toàn thể, mô tả quan hệ cấu trúc và hình thức vận động của sự vật. Nếu âm dương là học thuyết về sự đối lập thống nhất thời cổ, thì ngũ hành là một hệ thống lý luận nguyên thủy phổ quát.

  • Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
  • Tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Quy luật sinh khắc có thể dùng trong Tử Vi Đẩu Số để xem phong thủy dương trạch. Ví dụ người thuộc Thủy kết hôn với người thuộc Hỏa dễ tranh cãi. Tóm lại vận mệnh con người cần đạt sự hài hòa.

Để dễ nhớ tương sinh: Mộc ấm áp, bên trong ẩn Hỏa, cọ gỗ thì sinh lửa nên Mộc sinh Hỏa; Hỏa nóng rực, đốt gỗ thành tro, tro là Thổ nên Hỏa sinh Thổ; kim ẩn trong đá, nương núi mà sinh, đất tụ thành núi, có núi ắt có đá nên Thổ sinh Kim; kim khí mát và trơn, dựa vào nước mà sinh, rèn kim cũng có thể hóa thành nước nên Kim sinh Thủy; nước làm ẩm và nuôi cây cối lớn nên Thủy sinh Mộc.

Tương khắc thì dựa trên bản chất của trời đất: số đông thắng số ít nên Thủy khắc Hỏa; tinh thắng cứng nên Hỏa khắc Kim; cứng thắng mềm nên Kim khắc Mộc; tập trung thắng phân tán nên Mộc khắc Thổ; đặc thắng rỗng nên Thổ khắc Thủy.

Đẩu Số dùng ngũ hành. Tứ Hóa vốn mang thuộc tính ngũ hành, các sao cũng vậy. Sao nơi con người phân âm dương, nơi sự vật phân ngũ hành. Thủy lạnh, hướng xuống, nuôi dưỡng vạn vật, tính lưu động, đó là đặc điểm của Kỵ. Mộc sinh trưởng, vươn lên, tính mở rộng, là đặc điểm của Khoa. Hỏa nóng, hướng lên, tính bốc cháy, là đặc điểm của Quyền. Thổ nuôi dưỡng, hóa sinh, tính chăm sóc. Kim thanh tịnh, thu liễm, tính cứng mạnh, sát phạt, là đặc điểm của Lộc.

Ngũ hành nhìn qua ba góc độ: cơ thể, tính tình, hình dáng

Ngũ hành với cơ thể

  • Thủy: thận, bàng quang, hệ tiết niệu, phụ khoa, tai, tủy xương, chân, bộ phận sinh dục, máu, huyết dịch, hệ sinh sản.
  • Mộc: gan, mật, lông mày, tóc, tay chân, hệ thần kinh, não, cơ bắp, xương cốt.
  • Hỏa: tim, tiểu tràng, nhiệt độ cơ thể, cơ bắp, mắt, lưỡi, tuyến giáp.
  • Thổ: bụng, dạ dày, lá lách, ruột, mũi, mặt, da, môi, sườn, lưng, thịt.
  • Kim: phổi, đại tràng, tủy xương, miệng răng, đầu, ngực, khí quản, lông da, não, xương sống, cổ họng.

Ngũ hành với tính tình

Xem tính cách chủ yếu nhìn qua các cung Mệnh, Tật Ách, Phúc Đức và lai nhân cung.

  • Thủy: thông minh, suy nghĩ kín đáo, lòng dạ rộng rãi, thiện lương, tầm nhìn xa, có học thức, đầu óc kinh tế, lạc quan hướng ngoại, dũng cảm đa trí, phóng túng, lười biếng, nhu thuận, đa nghi, giỏi lập kế hoạch, không thực tế, hay bất mãn, trọng tình cảm, cố chấp; đó là đặc điểm của Kỵ. Thủy quá vượng thì xảo trá, u ám, ham dục vọng, hiếu động, không câu nệ tiểu tiết, tình cảm không chung thủy, dễ đa sầu đa cảm, thay đổi thất thường, nhát gan sợ phiền, thiếu tầm nhìn xa, không tự chủ; trong Đẩu Số tương ứng với Kỵ tự hóa Kỵ.
  • Mộc: nhân từ, trung hậu, lý trí, có chính kiến, khiêm nhường, cử chỉ điềm đạm trang nhã, phóng khoáng, chính trực, có chí tiến thủ; đó là đặc điểm của Khoa. Mộc quá vượng thì cố chấp, khó hòa hợp; không tốt thì do dự thiếu quyết đoán (Khoa tự hóa Khoa).
  • Hỏa: thích tân trang, tác phong nghiêm cẩn, kính trên nhường dưới, khiêm tốn, thông minh, có tài văn chương, tinh thần phấn đấu, sáng tạo, không ngại gian khổ, hướng ngoại; đó là đặc điểm của Quyền. Hỏa quá vượng thì vội vàng xốc nổi, thích tranh cãi, làm việc bất chấp hậu quả (Quyền tự hóa Quyền).
  • Kim: xử sự khéo léo uyển chuyển, ham học hỏi, thích tiệc rượu bạn hữu, oai phong mạnh mẽ, kiên định trung trinh, quyết đoán, trọng tình nghĩa, hào phóng, rành mạch thiện ác, coi trọng danh tiếng, hiểu lý lẽ, quang minh chính trực, tài hoa, khéo giao tiếp, hiếu thắng; đó là đặc điểm của Lộc. Kim quá vượng thì hữu dũng vô mưu, hành động theo nghĩa khí, bốc đồng, thích đánh đấm, bạc tình bạc nghĩa, ham dục vọng, miệng nói nghĩa khí mà hành động không làm được, do dự phân vân, ít nói, bỏ lỡ cơ hội, gặp khó là chán nản dẫn đến thất bại (Lộc tự hóa Lộc).
  • Thổ: ổn trọng, trung thành, hiếu thuận, giữ chữ tín, độ lượng, tôn kính thần Phật, tự tin, thích yên tĩnh, cứng cỏi, kiên nhẫn, dễ gần. Thổ quá vượng thì ngu độn, bảo thủ, mê muội, phản ứng chậm, cố chấp. Xem Phúc Đức và cung Giao Hữu để đánh giá tính chất của Thổ và chuyện tin thần Phật.

Ngũ hành với hình dáng cơ thể

Xem ngoại hình chủ yếu qua tuyến Phụ Mẫu – Tật Ách và cung Mệnh.

  • Thủy: mày thanh mắt sáng, mặt tròn, vai không rộng, cơ thể dễ lung lay, giọng trong trẻo hài hòa, da mịn trắng. Quá vượng thì béo; tử tuyệt thì lùn nhỏ, đen, xấu.
  • Mộc: người cao gầy, râu tóc đẹp, mày mắt thanh tú, da trắng, ngồi đứng hay nghiêng lệch, giọng thoải mái, âm điệu cao. Tử tuyệt thì gầy nhỏ, tóc thưa, khô héo, mày mắt lệch, cổ dài họng lồi, da khô, giọng nhỏ, dáng đi đứng không vững.
  • Hỏa: mặt trên nhọn dưới rộng, nhiều thịt, ấn đường hẹp, lông mày rậm, mũi lộ lỗ, đầu nhỏ chân dài, lưng dày, bụng rộng. Quá vượng thì huyết khí mạnh, tóc thô rậm, mặt đỏ, nói nhanh, hiếu động. Tử tuyệt thì gầy nhỏ, hơi đen, mặt vàng, nói năng lộn xộn.
  • Thổ: đầu tròn vuông, mặt rộng mũi to, miệng vuông da vàng, lông mày nhạt, lưng dày, eo to, giọng trầm đục, ít nói, tĩnh nhiều động ít. Tử tuyệt thì mặt buồn, dáng gầy yếu.
  • Kim: mặt vuông tròn, da trắng, mày mắt anh tuấn, mũi thẳng miệng ngay, giọng trong, thể chất khỏe. Quá vượng thì hơi mập, giọng đục; hưu tù thì nhỏ gầy, diện mạo xấu.

Khi xem hình dáng cần nhìn cung Mệnh, Phụ Mẫu và Tật Ách. Ví dụ cung Phụ Mẫu có Lộc năm sinh là đặc điểm của Kim, tương ứng với những nét ấy.

Dùng ngũ hành đọc ngôi nhà thời thơ ấu

Có một mệnh bàn của người có ngôi nhà khá lớn, nên dùng ngũ hành để luận thẳng, đặc biệt là tình trạng ngôi nhà. Trong đại hạn đầu tiên, gần nhà có một con sông không? Con sông ấy đã khô cạn, không còn nước. Phải xác nhận lại sông có khô thật không, điều này rất quan trọng: nếu khô thì đó là ảnh hưởng của ngũ hành lên tam hợp vị của cung Điền Trạch, một hiện tượng “từ có biến thành không”. Nhà còn có một, hai phòng không nhận được nắng hoặc ánh sáng rất kém; tự hóa là một dạng biến đổi, cũng phản ánh sự thay đổi của môi trường xung quanh. Cách suy luận cơ bản là như vậy.

Nhiều người nghĩ ngũ hành và thiên can địa chi không quan trọng trong Đẩu Số, nhưng thực tế chúng có vai trò rất lớn.

Nguồn: Đại Hoa, Giáo Trình Khâm Thiên Tứ Hóa.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn