Bài tổng quan
Dụng Thần: linh hồn của người, việc, vật và cách chọn
Hai người cùng sinh năm Quý đều mang Tham Lang hóa Kỵ, vậy mà một người nóng nảy, một người điềm tĩnh. Cái làm họ khác nhau là những Dụng Thần phụ chỉ trỗi dậy khi hoàn cảnh gọi tới. Còn khi chọn người bạn đời, chọn Phá Quân hóa Quyền hay Vũ Khúc hóa Khoa lại là chọn cả một cuộc sống…
Dụng Thần là linh hồn của người, việc và vật
Muốn đi sâu vào Tứ Hóa Bắc phái thì phải nắm chắc Dụng Thần. Người nghiên cứu Bắc phái phần lớn học tự phát, không có hệ thống, vì Bắc phái vốn là môn truyền kín, tài liệu công khai rất ít; nên đa số chỉ học được lớp da lông, còn tinh hoa thì không tiếp cận nổi. Dụng Thần chính là một phần tinh hoa ấy.
Hiểu đơn giản, Dụng Thần là linh hồn của một con người, một sự việc hay một sự vật, gọi gọn là Nhân, Sự, Vật. Dụng Thần phát triển tốt thì nhân, sự, vật ấy cũng phát triển tốt; Dụng Thần suy tàn diệt vong thì nhân, sự, vật cũng suy tàn diệt vong theo. Bởi vậy điểm cốt yếu của Bắc phái là tìm cho ra Dụng Thần của nhân, sự, vật cần xem, rồi theo dõi sự vận động biến hóa của nó để biết quá trình từ hình thành, phát triển đến suy tàn. Thịnh suy thành bại đều từ đó mà hiển hiện.
Dụng Thần là khí, tức là Lộc A, Quyền B, Khoa C, Kỵ D. Nó có thể là Tứ Hóa năm sinh, cũng có thể là các sao tự hóa, hướng tâm hay ly tâm. Dụng Thần chia làm ba loại ứng với ba đối tượng: người, việc, vật.
Nam tinh và nữ tinh
Với con người, Dụng Thần phân thành nam và nữ.
- Nam tinh gồm Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Phủ, Tham Lang, Thiên Lương, Thất Sát, Văn Xương, Tả Phụ.
- Nữ tinh gồm Tử Vi, Vũ Khúc, Phá Quân, Thái Âm, Cự Môn, Văn Khúc, Hữu Bật.
- Liêm Trinh có thể là nam, có thể là nữ: Liêm Trinh hóa Lộc là nam nhân, hóa Kỵ là nữ nhân.
Với sự việc, Dụng Thần chính là tính chất của sự việc đó. Với vật, Dụng Thần chính là tính chất của vật đó.
Các quy tắc chọn Dụng Thần
Mọi Tứ Hóa năm sinh hay tự hóa đều có thể được chọn làm Dụng Thần. Quan trọng nhất trong một lá số là Dụng Thần của bản thân đương số; sau đó đến Dụng Thần của những người thân như vợ, con, cha mẹ, anh em, bạn bè. Việc chọn theo một số quy tắc:
- Nam chọn nam tinh, nữ chọn nữ tinh.
- Dụng Thần của chính mình luôn là Tứ Hóa năm sinh; còn của những nhân, sự, vật khác có thể là Tứ Hóa năm sinh hoặc tự hóa.
- Dụng Thần có thể biến đổi, không cố định.
- Dụng Thần phải chọn cho phù hợp với tính chất của nhân, sự, vật.
- Một nhân, sự, vật không chỉ có một Dụng Thần duy nhất mà có thể có nhiều; khi đó phải phân định Dụng Thần chính và Dụng Thần phụ.
Chọn Dụng Thần là một quá trình phức tạp, đòi hỏi kinh nghiệm và kiến thức của người xem, không thể học xong trong vài ngày mà phải rèn luyện qua nhiều năm. Chọn sai Dụng Thần thì cả quá trình xem đều uổng phí, nên người học cần nghiêm túc. Để chọn đúng, cần có thêm một tài liệu tra cứu tính chất của từng Dụng Thần cho phù hợp với đương số.
Dụng Thần chính của đương số luôn là một trong bốn Tứ Hóa năm sinh
Muốn xem một lá số, trước hết phải xác định Dụng Thần của đương số, và Dụng Thần ấy chính là một trong bốn sao Tứ Hóa năm sinh. Trong mười can có hai can đặc biệt: can Quý với nam giới và can Bính với nữ giới.
- Can Quý: Phá Quân hóa Lộc là nữ nhân, Cự Môn hóa Quyền là nữ nhân, Thái Âm hóa Khoa là nữ nhân, Tham Lang hóa Kỵ là nam nhân.
- Can Bính: Thiên Đồng hóa Lộc là nam nhân, Thiên Cơ hóa Quyền là nam nhân, Văn Xương hóa Khoa là nam nhân, Liêm Trinh hóa Kỵ là nữ nhân.
Như vậy mọi nam giới sinh năm Quý đều có chung Dụng Thần là Tham Lang hóa Kỵ, và mọi nữ giới sinh năm Bính đều có chung Dụng Thần là Liêm Trinh hóa Kỵ. Liệu họ có cùng một tính cách không? Dĩ nhiên không, vì ngoài Dụng Thần chính còn có các Dụng Thần phụ, là các tự hóa và những Tứ Hóa năm sinh khác, nên tính cách hoàn toàn khác nhau.
Giả sử một nam sinh năm Quý và một nữ sinh năm Bính có cùng một lá số, tức cùng giờ sinh, nên Dụng Thần chính và phụ đều giống nhau, thì tính cách có giống nhau không? Cũng không giống nhau trọn vẹn. Cùng Dụng Thần chính và phụ thì tính cách cơ bản chỉ gần nhau ở mức tổng quan, chẳng hạn cùng kiểu người vui tính, nóng tính hay giàu tình cảm. Nhưng trong quá trình sống, mỗi người gặp những nhân, sự, vật khác nhau, nên liên tục đổi Dụng Thần khác nhau, và tính cách phân hóa theo hoàn cảnh môi trường sống.
Một lá số mẫu: đương số sinh năm Quý
Đương số sinh năm Quý, nên Dụng Thần chính là Tham Lang D. Các Dụng Thần phụ gồm Thái Âm C (nhờ xuyến liên), Tham Lang B, Vũ Khúc A, Cự Môn B (nhờ xuyến liên). Vậy Dụng Thần chính là D, còn Dụng Thần phụ có đủ A, B, C. Vì Dụng Thần chính D có thêm B nên thành tổ hợp BD, và đây là người nóng tính. Dụng Thần D định vị ở tuyến Tử – Điền nên hợp với công việc liên quan đến Điền Trạch.
Từ lá số còn khai thác được những Dụng Thần khác. Phá Quân A ở Nô Bộc: đó là nữ nhân, nên bạn bè của đương số có nhiều nữ, phần lớn vui vẻ hòa đồng, bề ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong mềm yếu, đúng tính của Phá Quân A. Chú ý rằng Phá Quân A là Dụng Thần của Nô Bộc, cho biết thông tin về những người bạn nữ mà không có thông tin về bạn nam; điều đó không có nghĩa là không có bạn nam, mà chỉ là ở đây không hiển thị. Lá số Tử Vi không phải cái gì cũng hiển thị, có cái hiện, có cái ẩn, cần lưu ý điều đó.
Tất nhiên không phải bạn nữ nào của đương số cũng giống Phá Quân A đến trăm phần trăm, nhưng xu hướng cơ bản là đương số thích chơi với những người có tính cách như vậy, và chỉ những người như vậy mới thành bạn bè lâu dài. Hãy hình dung mỗi nhân, sự, vật gặp trên dòng đời giống như một mảnh ghép trên lá số: mảnh ghép phù hợp thì đi cùng ta lâu dài, không phù hợp thì đi cùng nhau một đoạn ngắn rồi đường ai nấy đi.
Cùng một sao có thể là người, là việc hoặc là vật
Dụng Thần Cự Môn B ở Phu Thê phức tạp hơn một chút, vì nó có thể nói về Nhân hoặc Sự. Cự Môn B là nữ tinh nên có thể là Dụng Thần của vợ đương số, cũng có thể không. Nếu không nói về vợ thì B này nói về Sự, tức quan hệ đối đãi của đương số với vợ, cách hai vợ chồng đối xử với nhau. Có phải vợ hay không hoàn toàn tùy thực tế của đương số: xem lại các quy tắc chọn Dụng Thần, nếu phù hợp với người vợ ngoài đời thì mới chọn, còn không thì tuyệt đối không chọn.
Dụng Thần Thái Âm C ở Tài Bạch có thể là Dụng Thần của cả nhân, sự, vật. Nhân là một nữ nhân Thái Âm C; người ấy có thể là vợ, có thể là người tình hoặc một ai đó, phải căn cứ quan hệ thực tế của đương số mới làm rõ được. Tượng Thái Âm C này rất nhiều người có thể mang, nên trong Bắc phái, cùng lá số, cùng tượng mà sự việc hoàn toàn khác nhau: với người này là vợ, người khác là bạn gái, người tình hoặc một ai đó, chỉ thực tế mới làm rõ. Với Vật, Thái Âm C nói về tiền bạc, vì nằm ở cung Tài Bạch nên định tượng trực tiếp liên quan đến tiền. Với Sự, Thái Âm C nói về cách kiếm tiền, công việc kiếm tiền, những việc liên quan đến kiếm tiền. Các Dụng Thần khác cũng bắt theo cách tương tự.
Khi nào cần bắt Dụng Thần, khi nào không
Khi cần xem một nhân, sự, vật nào thì mới cần bắt Dụng Thần của nó, và Dụng Thần phải là cái đang tồn tại hiện hữu; không bắt Dụng Thần khi nó chưa tồn tại. Ví dụ chưa có vợ thì không thể bắt Dụng Thần của vợ vì nó chưa hiện hữu.
Sau khi bắt được Dụng Thần của một nhân, sự, vật, ta nhìn vào lá số để xem sự vận hành của dòng khí liên quan tới Dụng Thần đó, từ đó biết cát hung được mất, duyên khởi duyên diệt. Lúc này cần nắm rõ các nguyên lý của khí đồng thời vận dụng các kỹ pháp như xuyến liên, bình hành, phản bối, Lộc tùy Kỵ tẩu, Khoa tùy Quyền tẩu, Kỵ theo Lộc, Quyền theo Khoa, tam hào biến, liên hoàn Kỵ, âm dương điên đảo… Phải hiểu lý trước rồi mới dùng kỹ pháp.
Ứng dụng phức tạp gắn với nhiều kỹ pháp, nên ở đây chỉ nói ứng dụng đơn giản. Nhắc đến Bắc phái, người ta thường nghĩ đến vận hạn, vì khi bắt đúng Dụng Thần của nhân, sự, vật thì xem vận hạn rất chính xác. Lúc ấy như ta đang quan sát khí của Dụng Thần: nó chạy đến đâu thì tâm ta ở đó, nó sinh trưởng ở đâu thì ta phát triển ở đó, nó diệt ở đâu thì ta kết thúc ở đó, nó phá ở đâu thì ta bại ở đó, cực kỳ chuẩn xác. Ngoài ra, dựa vào Dụng Thần cũng luận được tính cách, sở trường và sở đoản của đương số rất chuẩn.
Đa nhân cách: Dụng Thần phụ trỗi dậy khi hoàn cảnh gọi tới
Lấy một lá số nam khác làm ví dụ: Dụng Thần chính là Liêm Trinh A; Dụng Thần phụ là Phá Quân B và Liêm Trinh D. Tính cách vì vậy pha trộn A, B, D; lấy tính của A làm chính, còn B và D thỉnh thoảng hiển hiện, thỉnh thoảng không. Điều này giống đời sống của chúng ta: nhìn vào lá số rồi tự ngẫm, đa số mỗi người là đa nhân cách, lúc vui vẻ lúc cáu gắt, lúc dễ tính lúc khó tính, với người này dễ tính, với người kia khó tính.
Nguyên nhân là ta bị chi phối bởi các Dụng Thần phụ. Khi thỏa điều kiện, tức hoàn cảnh thích hợp, các Dụng Thần phụ sẽ trỗi dậy và thể hiện tác dụng. Còn khi không bị hoàn cảnh tác động, khi ở nơi ta thấy thoải mái nhất, không bị nhân, sự, vật nào chi phối, thì ta thể hiện đúng tính chất Dụng Thần chính của mình. Vì vậy người xưa có câu “thân bất do kỷ”: đa số chúng ta không được là chính mình, bị quá nhiều nhân, sự, vật bên ngoài chi phối, tức các Dụng Thần phụ của chính ta; khi đủ điều kiện, chúng trỗi dậy và chi phối ta.
Khí đến đâu, tâm ở đó
Khí của Dụng Thần đến đâu thì tâm ta ở đó. Người này có Dụng Thần Liêm Trinh A, khí theo tự hóa A đến Quan Lộc và Điền Trạch, nên tâm người này luôn đặt ở hai chuyện ấy, và có nhiều cách luận:
- Người này quan tâm, đặt nặng công việc.
- Người này quan tâm đến gia đình, nhà cửa, bất động sản, cửa hàng.
- Người này có thể làm công việc liên quan đến bất động sản, nhà cửa, nội thất, hoặc mở cửa hàng, vì Quan và Điền xuyến liên.
Tự hóa A chính là khí Dụng Thần của đương số, nên có thể hiểu tâm trí đương số bị cuốn theo khí đến nơi đó, đương số sẽ toàn tâm toàn lực dốc sức cho nơi ấy, và ở đó đương số được dùng, có giá trị. Liêm Trinh A là Thể, tự hóa ly tâm A ở Điền và Quan là Dụng; Thể được Dụng dùng mà trở nên có giá trị. Ngoài ra, khí của Tứ Hóa A còn cho biết thời điểm duyên khởi duyên diệt, tức là vận hạn: khi nào có thể bắt đầu công việc, khi nào kết thúc. Khi đã kết thúc thì có thể chuyển sang một nhân, sự, vật kế tiếp.
Chọn vợ: dùng Dụng Thần để cải mệnh
Cần nhớ rằng không bắt Dụng Thần của thứ chưa hiện hữu, như tượng vợ hay chồng. Nhưng ta hoàn toàn có thể dựa vào những khả năng có thể xảy ra của những thứ chưa hiện hữu để chọn đường đi cho mình. Lấy tượng người vợ trong lá số này: đương số có thể chọn vợ là Phá Quân B hoặc Vũ Khúc C. Nếu đã có vợ, ta bắt Dụng Thần của vợ để hiểu tính cách người vợ và dòng khí của Dụng Thần ấy ảnh hưởng ra sao tới người chồng. Nếu chưa có vợ, ta phán đoán Dụng Thần người vợ có thể là B hoặc C, xem lấy người B có lợi hơn hay người C có lợi hơn; biết nên lấy ai rồi thì đi tìm người bạn đời có tính cách hợp với Dụng Thần đó. Đó cũng chính là cách cải mệnh trong Tử Vi khi đã hiểu số mệnh.
Nếu chọn vợ theo Dụng Thần Phá Quân B thì cần chọn người hợp tính cách Phá Quân B. Người này có khí B tới Phúc Đức và Tử Tức, nghĩa là họ quan tâm tới Phúc Đức và Tử Tức của đương số, ngoài ra không bị phá khí. Một người vợ quan tâm tới tinh thần của chồng và con cái là rất tốt; có thể nói là hình mẫu người vợ lý tưởng, chăm sóc chồng con.
Nếu chọn vợ theo Dụng Thần Vũ Khúc C thì cần xem tính cách hợp với Vũ Khúc C. Người này có khí tới Điền, Tài, Phu, Phụ Mẫu, nhưng Phu Thê xuyến liên Phụ Mẫu rồi phản bối Điền, Tài, Phu. Đó thực sự không phải cách cục tốt. Theo phân tích đó, chọn vợ là Phá Quân B thì cuộc sống yên ổn, vợ thương yêu chăm sóc chồng con; chọn vợ Vũ Khúc C thì cuộc sống vợ chồng nhiều sóng gió, khó bền lâu.
Đó mới là một chút cơ bản về Dụng Thần; kiến thức và ứng dụng còn rất nhiều. Biển học mênh mông, núi cao còn có núi cao hơn.
Nguồn: Chiến Nguyễn, Tứ Hóa Dụng Thần.
