Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Điều nên kiêng cả đời đọc từ Tử Tức hóa Kỵ

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa04/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Điều nên kiêng cả đời đọc từ Tử Tức hóa Kỵ

Có người cả đời không dám ngồi xe máy, người khác không bơi, người khác tránh xa nơi có điện. Những điều kiêng ấy không phải mê tín tùy tiện mà được đọc từ sao hóa Kỵ ở cung Tử Tức…


Tử Tức hóa Kỵ chỉ ra những thứ nên tránh xa cả đời

Có người đến hỏi chuyện đời mình, lá số cho thấy Tử Tức cung có Cự Môn tự hóa Kỵ. Điều đầu tiên cần nói với người ấy không phải bệnh hay tiền, mà là một lời dặn: không nên ở gần nơi có âm khí miếu mạo. Cung Tử Tức, khi thiên can phi hóa Lộc, Quyền, Kỵ nhập cung nào thì cung đó mang điều kiêng kỵ. Chẳng hạn Tử Tức có Liêm Trinh hóa Kỵ thì không nên ở gần nơi có điện.

Vì sao dùng Tử Tức để xem kiêng kỵ

Tử Tức không nằm gần Mệnh nhưng lại rất gần thân xác, nên mọi thứ nó chỉ đều dính tới thân thể.

Tử Tức là Nô Bộc của Quan Lộc, có quan hệ mật thiết với thân thể, nên xem Tử Tức tức là biết nên tránh vật gì, xa rời việc gì, và cần chú ý tính chất sao của nó. Muốn biết nên kiêng gì thì lấy thiên can Tử Tức phi hóa đi: cung đó cho biết điều cả đời cần cẩn thận.

Nếu Tử Tức hóa Kỵ nhập Mệnh thì xem như tương đồng với tha cung. Chú ý sao nào hóa Kỵ, lấy tính chất của sao đó làm vật cần kiêng. Đã kiêng thì cả đời không nên gần nơi ấy hoặc vật ấy. Kiêng kỵ này phải là Kỵ nhập tam hợp của Mệnh hoặc Điền Trạch thì mới có quan hệ với mình. Nếu Tử Tức hóa Kỵ không nhập tam hợp Mệnh cung, Điền Trạch, Tật Ách thì tương đối không quan trọng; nhập Thiên Di thì không nên đi ra ngoài.

Nói gọn lại, vật kiêng kỵ và thân thể luôn gắn với nhau. Lấy tính chất của sao hóa Kỵ làm chính, rồi tránh xa nơi chốn hay vật dụng mà sao ấy đại diện. Danh sách kiêng kỵ này không phát ra từ Mệnh cung mà từ Tử Tức, nhưng chỉ có sức nặng khi Kỵ rơi vào Mệnh, Điền Trạch hoặc Tật Ách; rơi vào những cung còn lại thì việc kiêng chưa cấp bách.

Mỗi sao hóa Kỵ một vật kiêng riêng

Sao nào mang hành nào, nghề nào, thì Kỵ của nó dính vào đúng thứ ấy.

  • Phá Quân hóa Kỵ: không nên gần mép nước, ít bơi lội.
  • Tham Lang thuộc mộc nên hóa Kỵ không thể ở gần rừng; nó cũng thuộc thủy nên kiêng gần nước, lại nên phòng tranh chấp đào hoa.
  • Liêm Trinh hóa Kỵ hội Thất Sát: tốt nhất không ở nơi thâm sơn, lấy Kỵ của Tử Tức mà đoán.
  • Cự Môn thuộc âm miếu: Cự Môn hóa Kỵ nhập Tật Ách là vận hạn thấp, không thể nhập âm miếu, cẩn thận phù chú; nhập Điền Trạch cũng đồng nghĩa.
  • Thiên Đồng thuộc thủy: không nên gần mép nước, gần thì xảy ra điều không tốt.
  • Thiên Cơ chủ xe máy, đường sắt, xe tiện, máy khoan và các máy móc nhỏ. Dù tự hóa vẫn lấy tính chất sao hóa Kỵ làm chính.
  • Thái Dương thuộc điện năng, động cơ kéo, máy móc như thang máy, cơ giới nặng.
  • Vũ Khúc thuộc công nghiệp nặng, khuôn thép, máy lớn: Vũ Khúc hóa Kỵ nên tránh xa.
  • Thiên Lương không có hóa Kỵ mà chỉ có hóa Lộc; thuộc rừng trúc, nên hóa Lộc thì không vào rừng trúc.

Những ví dụ cụ thể: xe máy, bơi lội, tàu hỏa

Những lời dặn nghe lạ tai nhưng từng ứng nghiệm với những người thật.

Tử Tức có Thiên Cơ hóa Kỵ, Thái Dương hóa Lộc thì không nên ngồi xe máy; có người từng vì ngồi xe máy mà gãy chân. Lộc Kỵ tham khảo cho thấy Thiên Cơ, Thái Âm có quan hệ với phương tiện đi lại. Thiên Cơ hóa Kỵ năm sinh nhập Tử Tức thì không thích bàn trang điểm, không thích ngồi xe lửa. Nếu Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Thiên Di thì nghiêm cấm ngồi xe máy. Thiên Cơ hóa Kỵ tọa Mệnh cung thì xem toán mệnh rất chuẩn.

Một người Tử Tức có Tân Văn Xương hóa Kỵ nhập Điền Trạch bản mệnh, cùng hội Phá Quân, thì không thể bơi lội; bơi sẽ bị rút gân chân, vì Văn Xương chủ hệ thần kinh. Điền Trạch có Đinh Cự Môn hóa Kỵ nhập Tật Ách thì chủ chuyện uống thuốc; Điền Trạch có Thái Âm hóa Kỵ nhập Tật Ách thì nữ giới sẽ phải thắt ống dẫn trứng.

Điểm cần nhớ khi áp dụng: phải xem Kỵ ấy dẫn tới cung nào và sao nào hóa. Cùng hóa Kỵ nhưng Thiên Cơ kiêng xe máy, Phá Quân kiêng nước, Vũ Khúc kiêng máy nặng, mỗi sao có vùng cấm riêng. Cũng cần lưu ý, việc kiêng kỵ này nhắm vào thói quen sinh hoạt lâu dài chứ không phải một vận hạn nhất thời, nên lời dặn có giá trị cả đời.

Tham Lang hóa Kỵ ở Quan Lộc và chuyện tham ô

Có người hỏi vì sao lá số của mình có Tham Lang vừa tự hóa Lộc vừa bị hóa Kỵ nhập Quan Lộc. Câu trả lời dùng hai tầng: nghề kiêng và hành vi kiêng.

Một học viên có Tử Tức can Quý, Tham Lang hóa Kỵ nhập Quan Lộc, mà Quan Lộc lại có Tham Lang tự hóa Lộc. Tham Lang ở Quan Lộc tự hóa Lộc thì không được kinh doanh trong lĩnh vực thuộc thủy. Điểm cần chú ý là Tham Lang thuộc cả thủy lẫn mộc, mang song Kỵ; với người đi làm thì không được có hành vi tham ô. Tham Lang là đào hoa bên ngoài và cũng có quan hệ với tiền tài, nên ở Quan Lộc mà hóa Kỵ thì cấm tham ô, nếu có thì sẽ bị lộ vì sơ hở. Nếu Kỵ rơi vào Điền Trạch thì không liên quan đến tham ô mà là chuyện đào hoa và kiêng gần nước.

Khi phán đoán tham ô, thông thường lấy cung Quan Lộc làm chính; tam hợp hội tài tinh hóa Kỵ cũng dễ có hiện tượng này. Bản mệnh không có tượng tham ô thì đại hạn vẫn có thể gặp: Cự Môn hóa Kỵ nhập Quan Lộc cũng sẽ tham ô. Liêm Trinh và Thái Âm cũng liên quan đến tham ô. Liêm Trinh chủ thị phi hành chính, Cự Môn chủ thị phi nhân sự, nên tham ô lấy Liêm Trinh là kịch liệt nhất. Cần chú ý Liêm Trinh hóa Kỵ tam hợp hội tài tinh, có lúc vì tham tài mà bị giam giữ. Thái Âm, Vũ Khúc thuộc tài tinh nên hóa Kỵ cũng có lúc xảy ra như thế. Việc xảy ra vào ngày Bính, Đinh, Quý hay Quan Lộc can Bính, Đinh, Quý cũng nên lưu ý.

Lộc Kỵ rơi vào từng cặp cung: đào hoa và sức khỏe

Cùng một cặp Lộc Kỵ, rơi vào cung nào thì kể chuyện đó. Có cặp nói chuyện tình cảm, có cặp nói chuyện thân thể, có cặp nói chuyện sinh mệnh.

  • Lộc Kỵ nhập Tử Tức, Huynh Đệ: vấn đề đào hoa. Nhập hai cung âm thì phần lớn có tranh chấp đào hoa và tình cảm vợ chồng bất hòa.
  • Lộc Kỵ nhập Tử Tức, Phụ Mẫu: cũng là đào hoa, nhưng cộng thêm sức khỏe không tốt, có liên quan đến thân thể.
  • Lộc Kỵ nhập Tử Tức, Tật Ách: đào hoa và sức khỏe cùng dính vào nhau, có nguyên nhân của tượng tiền tài đào hoa, và khả năng phát sinh tranh chấp tài chính.
  • Lộc Kỵ nhập Tật Ách, Nô Bộc: rất nghiêm trọng, phần lớn liên quan đến sức khỏe và sinh mệnh.
  • Lộc Kỵ nhập Nô Bộc, Điền Trạch: ý nghĩa như nhập Tử Tức, Huynh Đệ, tức đào hoa và tranh chấp tình cảm.
  • Khi hóa nhập Nô Bộc, Tật Ách mà còn chuyển hóa nhập Mệnh hoặc Quan Lộc thì phải đặc biệt cẩn thận; chuyện đào hoa khỏi bàn, đó là vấn đề quan trọng của sinh mệnh.
  • Lộc Kỵ ở tuyến Huynh Đệ, Nô Bộc phần lớn là tình cảm vợ chồng không hòa thuận.

Tử Tức và Điền Trạch, bất kể cung nào tự hóa, chỉ cần có hóa tinh nhập hai cung này thì chủ dục vọng mạnh mẽ, nhưng dục vọng mạnh không nhất định là nhiều đào hoa. Nếu Tứ Hóa của hai cung này nhập Thiên Di hoặc Mệnh cung thì có thể là vấn đề đào hoa, duyên khác giới mạnh nhưng không nhất định dục vọng mạnh, cũng không nhất định làm bậy. Tử Tức, Điền Trạch có quan hệ với dục vọng nên nếu Lộc Kỵ của chúng nhập tuyến Phụ Mẫu, Tật Ách thì nhất định có quan hệ với thân thể. Tử Tức tự hóa là nhu cầu sinh hoạt mạnh mẽ, và với Tử Tức thì Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ tự hóa đều như nhau; còn Tật Ách tự hóa thì không nhất định như vậy.

Hữu Bật mang Dịch Mã, Tả Phụ mang phong tình

Hai sao phụ đứng sát bên nhau mà tính nết khác hẳn: một bên hay đi, một bên hay tính.

Hữu Bật nhập tứ mã địa thì Dịch Mã rất mạnh, còn Tả Phụ thì không có tượng Dịch Mã. Rất nhiều người rời nhà đi xa đều liên quan đến Hữu Bật. Khi đại hạn nhập cung Phu Thê mà Tật Ách đại hạn, cũng là Nô Bộc của bản mệnh, có Hữu Bật tọa thì nặng về Dịch Mã. Người có Dịch Mã ngay nơi Mệnh thì ở nhà ngẩn ngơ không chịu được, phải thường chạy ra ngoài.

Tả Phụ và Hữu Bật đều là quý trong có phong tình. Tả Phụ thuộc văn, làm việc tương đối khéo léo; Hữu Bật nhiều tâm cơ, thích đấu trí. Nếu Nô Bộc tọa can Nhâm, Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Phu Thê, mà Phu Thê lại có Khoa năm sinh thì rất dính nhau: muốn ly cũng ly không thành, vừa muốn ly vừa không muốn.

Tọa, chiếu, xung: mệnh cách khác với hành vận

Cùng là Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, nhưng đoán cả đời và đoán một khúc vận thì phải dùng cách nhìn ngược nhau.

Đoán mệnh cách thì Lộc Quyền Khoa tọa mới là cát, vì tọa thì nắm được thực quyền. Đoán hành vận thì Lộc Quyền Khoa lấy chiếu là cát, còn tọa thì vô lực nên chưa chắc đã tốt. Nếu hành vận tọa Lộc thì không có hiệu quả cát; tọa Kỵ thì Kỵ cũng vô lực, còn Lộc chiếu hay Kỵ xung trong vận hành thì đều mạnh và có lực.

Phu Thê, tửu lượng và những chi tiết nhỏ khác

Một vài chi tiết rời nhưng hay gặp ngoài đời, nhất là chuyện giữa vợ và chồng.

  • Tài Bạch hóa Kỵ nhập Tật Ách: tiền và thân thể có quan hệ. Tài Bạch hóa Lộc nhập Phụ Mẫu rồi Phụ Mẫu tự hóa Kỵ đến đối cung Tật Ách: tài và thân thể dính nhau, có tượng muốn dùng thân thể để kiếm tiền.
  • Nữ mệnh trọng Phúc Đức. Nếu Phúc Đức can Kỷ có Văn Khúc tự hóa Kỵ thì Phúc Kỵ xuất: chồng tốt thế nào cũng không cảm nhận được, vì không biết hưởng phúc.
  • Phu Thê tọa Tham Lang thì rất biết uống rượu. Cung Phu Thê chủ tình, 70% thuộc bản thân, 30% thuộc người phối ngẫu; còn Tài Bạch thì 70% thuộc người phối ngẫu, như câu "vợ tài". Nên Phu Thê tọa Tham Lang là bản thân tửu lực mạnh chứ không phải người phối ngẫu. Nếu Tham Lang tọa Tài Bạch thì cả hai vợ chồng đều tửu lực mạnh; Mệnh tọa Tham Lang mà Phu Thê ở Hợi, Tý, Sửu phương bắc thì tửu lực càng mạnh.
  • Hóa Kỵ nhập Tài Bạch thì vợ chồng gần ít xa nhiều, đối đãi không tốt. Còn Kỵ tọa Phu Thê không nhất định hung, chỉ là tượng thiếu nợ.
  • Nô Bộc hóa Kỵ nhập Phúc Đức xung Tài Bạch là đại hung, tăng khả năng ly hôn. Vì Nô Bộc là Tật Ách của Phu Thê, nên hóa Kỵ xung Tài Bạch là hại.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa