Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tự hóa

Bài tổng quan

Tự sinh tự diệt và cách ước số tiền từ cung vị

Tử Vi Bắc Phái - Tự hóa04/10/202615 phút đọc4 lượt đọc
Tự sinh tự diệt và cách ước số tiền từ cung vị

Người ta hỏi một lá số cần vay bao nhiêu tiền, và câu đáp lại nằm ở cục số của chính cung vừa nhận chữ Kỵ. Cũng từ cách đếm ấy mà biết khi nào một cung tự hóa rồi tự làm hỏng mình, và khi nào vợ chồng khó bên nhau đến già. Nhưng đơn vị tiền thì đổi theo nơi chốn và thời đại…


Cung lục thân tự hóa rồi gửi Lộc Kỵ vào bốn cung sinh số

Với một cung lục thân, nếu nó tự hóa một sao, Lộc cũng được, Kỵ cũng được, mà lại hóa Kỵ hoặc Lộc nhập Mệnh rồi xung chiếu Thiên Di, hoặc nhập Điền Trạch rồi xung chiếu Tử Tức, thì vợ chồng chắc chắn không bên nhau đến già, trăm phần trăm. Lấy Phu Thê làm ví dụ: Phu Thê tự hóa Lộc hoặc Kỵ, rồi hóa Kỵ hoặc Lộc nhập Mệnh xung Thiên Di, hoặc nhập Điền Trạch xung Tử Tức, là rơi vào tượng này.

Công thức của tượng tự sinh tự diệt

Gọi A là một cung lục thân đã tự hóa. Chỉ khi sao hóa khác của nó nhập vào Mệnh hoặc Điền Trạch rồi xung ra thì mới tính; chỉ xung vào Mệnh hay Điền Trạch thì không tính. Chỉ luận Lộc và Kỵ, Quyền và Khoa không tính. Nếu sao hóa nhập Thiên Di hoặc Tử Tức rồi xung Mệnh hoặc Điền Trạch thì là hay cãi nhau, vô duyên. Với mỗi cung có tự hóa cần chú ý sao hóa khác của nó không được nhập vào các vị sinh số 1, 5, 9, 10 của lá số; nếu chỉ thuần luận Lộc Kỵ hay Quyền Kỵ thì không sao.

  • Tài Bạch tự hóa Kỵ mà hóa Lộc nhập ngoài các cung 1, 5, 9, 10 rồi xung ra thì tuyệt đối phá tài, tổn tài. Tài Bạch tự hóa Kỵ mà hóa Lộc nhập Mệnh chiếu Thiên Di là tài xuất.
  • Bất kỳ cung A nào tự hóa Lộc hoặc Kỵ mà Kỵ hoặc Lộc khác của nó hóa nhập vị sinh số 1, 5, 9, 10 của lá số thì cung A đó chắc chắn phá bại. A là Tử Tức thì Tử Tức nhiều tổn; A là Tài Bạch thì tài phá tổn; A là Thiên Di thì ra ngoài bất lợi.
  • Chú ý không được xung phá thêm Lộc Kỵ năm sinh; xung phá thì tăng thêm tai họa. Đây là luận nhập vào 1, 5, 9, 10; còn xung thì luận khác. Nhập thì phá bại, tức số về sinh số thì tự sinh tự diệt.
  • Nguyên tắc: bản cung phải tự hóa trước thì mới luận như vậy, nếu không thì không luận theo cách này.

Có người hỏi: Mệnh ở Mão, Phu Thê ở Sửu, đó là cách dùng 6, 4, thì tự hóa có luận theo 6, 4 không? Phải luận theo 6, 4; nếu hợp vị cách dùng 6, 4 thì lấy cách dùng 6, 4 làm chủ. Ví dụ trên chỉ là giả sử để giải thích khi không phải cách 6, 4. Chú ý: cung vị nào tự hóa thì không được lại hóa đến các cung 1, 5, 9, 10, đó là tự sinh tự diệt. Quan Lộc làm cung A thì luận cũng giống như vậy.

Về tiền: khi tổn thất sạch sẽ

Nếu Tài Bạch tự hóa Lộc hoặc Kỵ mà hóa Kỵ hoặc Lộc nhập 1, 5, 9, 10 thì tổn thất sạch sẽ. Nếu hóa Kỵ hoặc Lộc nhập Phu Thê xung Quan Lộc thì xung luận khác, là vấn đề đối đãi. Sinh số 1, 5, 9, 10 là các cung của bản mệnh; còn hành vận là đại hạn đang đi. Bản mệnh gọi là thể, đại hạn đang hành gọi là dụng; dụng hóa thành số đi về vị sinh số, tức là tự sinh tự giảm, nên nhập bản mệnh 1, 5, 9, 10 mà tính. Đó là biến đổi của Lạc Thư.

Hai ví dụ về thêm công việc và về đào hoa của hai phía

Có những lá số vừa cho thêm việc làm vừa cho thêm chuyện tình, chỉ khác nhau ở chỗ cung bên cạnh nhận chữ gì.

Nếu Mệnh ở Mão, đại hạn ở Mùi có Nhật Nguyệt hóa Quyền, và lưu niên Hợi là Quan Lộc của đại hạn; bản mệnh can Ất ở Mão, Quan Lộc của đại hạn can Quý ở Hợi. Quý Thái Âm hóa Khoa nhập Mệnh cung đại hạn, tức Quan Lộc của bản mệnh. Chủ thêm một công việc, nhưng chiếu về Phu Thê thì cả bản mệnh lẫn Phu Thê bản mệnh đều có Ất Thái Âm hóa Kỵ làm tác dụng kiềm chế. Cách đoán: hiện nay nếu bản thân đi làm mà năm nay muốn kinh doanh thì lấy người vợ làm chủ sẽ có lợi hơn; nếu là Huynh Đệ thì Huynh Đệ làm chủ; nếu là Tật Ách thì bản thân làm.

Một lá số khác cho thấy hai phía vợ chồng đều nhiều đào hoa, là mệnh hai vợ. Người đã kết hôn thì người khác phái giao du với họ phần lớn cũng đã kết hôn; người chưa kết hôn thì không xảy ra. Đây là ứng dụng của lưỡng nghi, hai cung đối đãi nhau; chỉ riêng việc Tử Tức hóa Lộc nhập Phu Thê đã chủ vợ chồng hai người đều mang đào hoa.

Phu Thê tự hóa: bên nhau đến già hay không

Phu Thê ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi có Kỵ năm sinh gọi là Tháo Mã Kỵ, vợ chồng ít ở cùng nhau thì tốt hơn; đó là cách cục, dùng để đoán cục chứ không dùng để đoán hành vận. Phu Thê tự hóa Lộc rồi hóa Kỵ nhập Mệnh thì không thể bên nhau đến già. Thời điểm ứng nghiệm là vị trí mà Lộc hoặc Kỵ xung vào. Nhưng hành vận không biết khi nào kết hôn, nên phải kết hợp thời gian kết hôn để xem; đây chỉ là cách ly biệt đã sinh ra, và cách dùng 6, 4 không nằm trong đó.

Đại hạn Phu Thê hóa Khoa nhập Phu Thê bản mệnh mà Phu Thê bản mệnh tọa Quyền năm sinh thì chủ trong đại hạn ấy có đào hoa, đó là giải thích đơn giản; muốn dùng góc độ nào để đoán thì sao hóa vào tức có dấu hiệu, lý luận phải linh hoạt, ngàn vạn thay đổi.

Nếu tự hóa lại hóa nhập cung bên ngoài, hóa nhập sinh số xung đối cung, thì như đối đãi Lộc Kỵ chắc chắn không tốt, cung đó chắc phá bại. Ví dụ Phu Thê tự hóa Kỵ mà hóa Lộc nhập Điền Trạch chiếu Tử Tức cũng không thể bên nhau đến già, đó là nhập sinh số, tự sinh tự giảm. Những điều trên đều nhập vào bản mệnh. Nếu luận đại hạn thì chỉ là trong lưu niên có tháng nào đó kém hơn, không nghiêm trọng; đó không phải tự sinh tự diệt mà chỉ chủ xung kích.

Kỵ trước Kỵ sau và lẽ kết hôn muộn

Có người hỏi: bản mệnh Phu Thê có cách không bên nhau đến già, nhưng trong đại hạn thì có phân Kỵ trước Kỵ sau không? Có. Nếu Kỵ nhập Mệnh xung Thiên Di thì đại hạn phải đi qua các cung tứ chính mới hết phạm xung, và không thể đoán người ấy cả đời không kết hôn. Khi số đến thì có trước có sau, như xảy ra cách tai nạn xe nhưng không thể định cả đời không được ngồi xe, mà phải phân trước sau. Người nói: nếu vậy không bên nhau đến già là cách cả đời, lúc nào kết hôn cũng khó bên nhau đến già. Câu đáp là bản mệnh hành vận qua thời gian của “số” rồi thì tượng hung sẽ nhạt đi. Người nói thêm: nói chung cách hạn chế là kết hôn muộn. Câu đáp: đúng. Nếu dùng góc độ tài và quan thì cũng luận như vậy.

  • Phu Thê không có chủ tinh thì không có; không thể nói ai cũng phải có tượng không bên nhau đến già. Không có thì tốt hơn, có thể bên nhau đến già. Không dùng Quan Lộc để đoán thay.
  • Xem đại hạn nếu có dấu hiệu này thì trong đại hạn ấy có một thời gian bất hòa, nhưng không nghiêm trọng như ở bản mệnh.
  • Về Kỵ trước Kỵ sau, nếu Phu Thê tự hóa Kỵ rồi hóa Lộc nhập Mệnh thì phải xem Lộc trước hay sau.
  • Nếu cung sinh số có sao hóa năm sinh: là Lộc Kỵ năm sinh thì cũng có liên quan xung phá; là Quyền Khoa thì không. Dù không liên quan, Phu Thê ít nhiều cũng cãi nhau, nhưng không quan trọng lắm. Phu Thê tự hóa Kỵ mà hóa Lộc nhập Mệnh: nếu Mệnh có Khoa hoặc Quyền năm sinh thì không liên quan; nếu có Kỵ năm sinh là xung phá; nếu có Lộc năm sinh thì là Lộc xuất, bao hàm ý đào hoa, và ly hôn vì thế thì bên trong có lý do đào hoa; nếu không thì chưa chắc ly hôn, vì sao hóa năm sinh có tác dụng ngăn cản.
  • Trong Tứ Hóa có tác dụng ngăn cản: như Kỵ đến mà có Quyền năm sinh ngăn thì Kỵ không cấu thành yếu tố của nó.

Số tiền: ước từ cục số của cung nhận Kỵ

Con số dùng đến 10. Chữ số Ả Rập ở đây không dùng để đếm người mà để tính tiền, và nó cho biết đơn vị có mấy số không. Một và ba dùng chung, phần lớn lấy đơn vị trăm làm chủ; nhưng do giá trị đồng tiền hiện nay nhỏ nên ít nhất ở hàng nghìn. Vì vậy hai và tám phần lớn là số chục triệu, nên số của Huynh Đệ và Nô Bộc lớn. Muốn tính thì phải kết hợp với số của Hi Di.

Một ví dụ bốn mươi vạn

Giả sử Tật Ách bản mệnh là Tài Bạch của đại hạn, và giả định tổn tài: Tài Bạch đại hạn hóa Kỵ nhập Huynh Đệ xung Nô Bộc. Tật Ách phát Kỵ vào Huynh Đệ bản mệnh ở cung Kỷ Mùi. Cục số của Kỷ Mùi là Kim tứ cục, mà Tật Ách là vị chục vạn, nên tài tổn là bốn mươi vạn. Số nạp âm phần lớn đứng trước, còn số không ở đuôi do vị trí của cung phát ra định. Như lá số trên Kỵ nhập Huynh Đệ xung Nô Bộc, Huynh Đệ là Kim tứ cục, vị trí phát ra là Tật Ách, nên khoảng bốn mươi vạn.

Về tổn hay kiếm thì xem trong Lộc Quyền Khoa Kỵ, sao nào có nhập hay không nhập, sao nào ảnh hưởng đến mình lớn hơn thì lấy đơn vị của nó, không nhất định phải xem hóa Kỵ. Nếu Kỵ xung Mệnh thì Kỵ lớn hơn, nên tính theo cục số của cung Thiên Di, và Thiên Di là số triệu. Phúc Đức và Phụ Mẫu thì xem số của vị trí đối cung mà lấy bội số. Xung thì lấy can chi của cung bị xung phá để xem cục số. Đó chỉ là một dạng, chi tiết mọi người tự nghiệm chứng.

Có người hỏi sao lấy Kỷ Mùi. Kỷ Mùi là đất Kỵ rơi vào; lấy can chi nạp âm xếp trước, sau đó lấy cung nào phát ra thì đoán số gì. Dùng số Hi Di để xem trước Tứ Hóa có nhập hay không, rồi mới biết sao nào ảnh hưởng lớn; xung cũng tính là nhập. Vị trí 1 không dùng được nên 1 dùng 3. Xung Mệnh là Thiên Di nên ở mức triệu trở lên.

Tiền ở nơi này, tiền ở nơi khác

Có người nói số tiền ở Đài Loan triệu, chục triệu đã gọi là lớn, còn ở Mỹ thì số đó không đáng gì. Câu đáp: số là triết học Trung Quốc nên lấy tình hình Trung Quốc hiện tại mà áp dụng, tiền nước khác thì cân nhắc khi đoán. Người nói thêm rằng tiền Mỹ gấp bốn mươi lần tiền Đài Loan, ghi chú gốc là tiền đại lục gấp hai mươi lần tiền Đài Loan, vậy có áp dụng được không. Câu đáp: mỗi thời, mỗi nơi có hình thái tiêu dùng riêng, tự xem mà đổi số theo thời và nơi.

Cung vị của lưu niên hóa ra cũng nên áp vào số Ả Rập của bản mệnh. Có người hỏi Kỵ nhập Thiên Di là tổn tài, có phải cũng phải xem kích thước sao không. Tượng của Đẩu Số là xem cát hung, còn sao là xem vật và tính tình của vật; kết hợp sao để đoán thì tốt hơn. Lấy sao làm bội số để luận được, không chênh lệch lắm. Nhưng nếu Tật Ách hóa Kỵ nhập Huynh Đệ thì thể đã ghi rõ số chục vạn.

Vay ngân hàng: năm mươi tỷ hay năm mươi triệu

Con số trong lá số có thể rất lớn, và người đọc phải biết đem nó về đúng cỡ của đời thực.

Điền Trạch can Bính, đại hạn Mệnh cung nhập Điền Trạch, Bính Liêm Trinh hóa Kỵ, Lộc Kỵ xung phá, kết quả là năm nay bản thân phải vay ngân hàng. Điền Trạch lại là Mệnh cung đại hạn hóa Kỵ nhập Tài Bạch bản mệnh. Nếu Tài Bạch hóa Kỵ nhập Mệnh thì là kiếm tiền từ Điền Trạch; còn Điền Trạch hóa Kỵ nhập Tài Bạch là trong nhà thiếu nợ tiền. Vốn Kỵ nhập Tài, trong nhà thiếu nợ có thể không nhiều, nhưng vì xung phá Lộc năm sinh nên có tượng tăng gấp đôi, chủ cần vay tiền. Tài Bạch bản mệnh can Tân ở Mùi là Thổ ngũ cục, Điền Trạch hóa ra vốn ở vị chục tỷ, tức năm mươi tỷ; nhưng xét thực tế vay năm mươi tỷ là không thể nên đoán là vay năm mươi triệu.

Đại hạn đang hành là Mệnh đại hạn hóa nhập Nô Bộc đại hạn. Nô Bộc là số 8, mức chục triệu, mà đại hạn lại là tháng mười Điền Trạch; Mệnh đại hạn là 1, Nô Bộc là 8, nghĩa là số của Điền Trạch bản mệnh chắc lớn. Nếu nhập Điền Trạch là vị chục tỷ, nhưng kết hợp với vận đại hạn không tốt thì làm sao có mười tỷ để tổn. Nên với số tiền tài, kết hợp với cung vị của đại hạn hoặc lưu niên mà lấy số 1 thì hợp lý hơn. Nếu đại hạn nghịch hành nhập Tử Tức thì cũng giống như vậy: nhập tuyến Tử Tức, Điền Trạch thì số đều như nhau, nhưng luận lớn thì Điền Trạch lớn, Tử Tức nhỏ. Cần nhớ vạn vật hành phải thuận, hành vận không chỉ là thu thập; đại hạn hành Tài là nghịch, thuận hành Quan, lấy hành Quan thì lợi hơn, như Đẩu Số Tuyên Vi nói. Xếp lá số thì lấy nghịch làm số, mà vận thì thuận hành, đó là âm dương hợp thể; nếu số nghịch mà vận cũng nghịch hành thì là thiên lệch.

Số nào được tăng bội

Phàm cung vị nào hóa ra mà không xung phá Lộc năm sinh thì đều là bội số tăng thêm. Cần xem cùng loại có nhập cùng loại không: Quan Lộc hóa nhập Quan Lộc, Tài Bạch hóa nhập Tài Bạch, và phải gặp sao hóa năm sinh mới có tăng số. Tăng giảm số là mối quan hệ giữa sao hóa năm sinh với cung vị cùng loại mà hành vận hóa đến. Ví dụ Điền Trạch tọa Quyền năm sinh, rồi Văn Xương can Tân hóa Kỵ nhập Điền Trạch thì có thể năm nay lại mua nhà; Quyền Kỵ là mua nhà xong thì tiền mặt eo hẹp, nhưng Kỵ nhập có tượng tăng thêm. Nếu từ một cung bay đến mà có tượng, và gặp sao năm sinh thì có số tăng bội.

Nếu luận theo cục số thì chỉ có từ Thủy nhị đến Hỏa lục, không có 1, 7, 8, 9, vậy tính sao? Lấy 1 và 6 chung tông, 2 và 7 cùng đạo, 3 và 8, 4 và 9, 5 và 10 kết hợp ứng dụng, lấy sinh số kết hợp thành số mà dùng; không phải 6 thì là 1, còn lớn nhỏ do kích thước của sao phán đoán.

Lương tháng bao nhiêu

Đoán người đi làm lương tháng bao nhiêu thì xem lưu nguyệt, lưu niên hay đại hạn? Lấy Quan Lộc của lưu nguyệt vào ngày đầu tiên đi làm mà đoán. Còn công việc lâu năm thì cần xác minh thêm xem góc độ nào phù hợp, nhưng lấy Tứ Hóa của Quan Lộc lưu niên nhập tam hợp, xung vào chỗ nào thì tính sao hóa đó; hóa Kỵ cũng vậy, chỉ là tiền Kỵ ít hơn. Ứng dụng có một khó khăn là không biết rốt cuộc xem sao nào. Nhớ rằng hóa ra phải xét có nhập hay không nhập, sao nào ảnh hưởng đến mình, bất kể Lộc Quyền Khoa hay Kỵ, sao đó được tính. Nếu cùng lúc có hai sao ảnh hưởng thì cũng dùng can của cung đó; hai sao cùng ảnh hưởng thì số sẽ giảm đi.

Về mạnh yếu, lấy xung Mệnh là mạnh nhất, thứ hai xung Quan, thứ ba xung Tài; nếu luận tài thì xung Mệnh, xung Tài, xung Điền là mạnh, xung Quan yếu hơn. Nếu lấy sự nghiệp kiếm tiền thì lấy Quan Lộc làm Mệnh, xung Quan Lộc là mạnh nhất. Lấy nhập cung nào thì tính số của cung đó.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tự hóa