Bài tổng quan
Lập Mệnh Bàn Tứ Hóa Phái: Giờ Sinh, Can Cung, Cục Và An Sao
Mệnh bàn theo Tứ Hóa Phái được dựng từ mười hai địa chi, cùng các thông tin ở ô trung tâm. Giờ sinh cần được hiệu chỉnh, vì giờ Tí bắt đầu từ 23 giờ đêm và các lần đổi múi giờ ở Việt Nam buộc phải tính xem cần lùi bao nhiêu giờ. Khi giờ đã chuẩn, phép Ngũ Hổ Độn cho ra can của mười hai cung, kéo theo việc định cung mệnh, cung thân, bố trí mười hai cung chức và xử lý tháng nhuận. Cục ngũ hành nạp âm lại đặt ra câu hỏi vì sao Đẩu Số chỉ dùng từ Thủy Nhị Cục đến Hỏa Lục Cục. Sau cùng, bảng an sao Tử Vi và bảng an tứ hóa theo bốn lưu phái hoàn tất lá số, và ở bảng tứ hóa, các phái vẫn còn khác nhau ở vài thiên can.
Mệnh Bàn Cơ Bản
Tử Vi Đẩu Số có nhiều lưu phái, mỗi phái có một số sao cách an hơi khác nhau; ngay cả các chi phái trong hệ Bắc phái Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số cũng có nhiều chỗ đại đồng tiểu dị. Vì vậy cần dành một ít thời gian để tìm hiểu lại vấn đề này. Sách này dành cho người ít nhiều đã biết về Tử Vi Đẩu Số, nên chỉ trình bày vắn tắt những điểm cần chú ý và có sự khác biệt giữa các môn phái; bạn đọc nào chưa biết gì về Tử Vi Đẩu Số nên tìm đọc thêm ở Nghiên Cứu Tinh Mệnh Học và Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái.
Bước đầu tiên khi lập mệnh bàn là ghi mười hai địa chi vào các cung theo chiều thuận kim đồng hồ, bắt đầu từ Tí, Sửu, Dần... cho tới Tuất, Hợi. Khoảng trống ở giữa mệnh bàn dùng để điền họ tên, cục ngũ hành, âm dương nam nữ, năm tháng ngày giờ sinh và tứ hóa.
Giờ Sinh
Theo Âm lịch, từ 23 giờ (tức 11 giờ đêm) phải xem là bắt đầu giờ Tí, cũng là thời điểm bắt đầu một ngày mới. Vì vậy khoảng thời gian từ 23 giờ đến 24 giờ đêm phải được tính là thời gian của ngày hôm sau, chứ không còn thuộc ngày hôm đó nữa — đây là điểm nhiều người dễ tính nhầm khi đổi giờ sinh Dương lịch sang Âm lịch để lập mệnh bàn.
Ngoài mốc giờ Tí bắt đầu từ 23 giờ, việc xác định giờ sinh ở Việt Nam còn phải lưu ý tới lịch sử thay đổi múi giờ qua từng giai đoạn, vì có những thời kỳ đồng hồ bị vặn nhanh lên so với giờ mặt trời thực, nếu không trừ lùi lại sẽ định sai giờ sinh:
Từ ngày 1 tháng 5 năm 1911 đến ngày 31 tháng 12 năm 1942, giờ ở Việt Nam được tính theo múi giờ 7, tức như cách tính giờ hiện nay.
Từ ngày 1 tháng 1 năm 1943 đến ngày 13 tháng 3 năm 1945, giờ ở Việt Nam được tính theo múi giờ 8, do vậy đồng hồ được vặn nhanh lên 60 phút; khi tính giờ cho người sinh vào giai đoạn này phải lùi lại 1 giờ dương lịch.
Từ ngày 14 tháng 3 năm 1945 đến ngày 1 tháng 9 năm 1945, giờ ở Việt Nam được tính theo múi giờ 9, do vậy đồng hồ được vặn nhanh lên thêm 60 phút; khi tính giờ cho người sinh vào giai đoạn này phải lùi lại 2 giờ dương lịch.
Từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 cho đến nay, ở miền Bắc Việt Nam, giờ được tính lại theo múi giờ 7. Riêng ở miền Nam Việt Nam, việc tính giờ trong giai đoạn sau đó có phần khác biệt: từ ngày 1 tháng 4 năm 1947 đến ngày 30 tháng 6 năm 1955, giờ được tính theo múi giờ 8, đồng hồ vặn nhanh lên 60 phút, nên phải lùi lại 1 giờ dương lịch; từ ngày 1 tháng 7 năm 1955 đến ngày 31 tháng 12 năm 1959, giờ được tính lại theo múi giờ 7, giống như cách tính hiện nay; từ ngày 1 tháng 1 năm 1960 đến ngày 12 tháng 6 năm 1975, giờ lại được tính theo múi giờ 8, đồng hồ vặn nhanh lên 60 phút, nên phải lùi lại 1 giờ dương lịch. Từ ngày 13 tháng 6 năm 1975, việc tính giờ ở Việt Nam được thống nhất toàn quốc theo múi giờ 7 cho tới nay.
Can Của Cung Vị
Can của cung là căn cứ can năm sinh và phép Ngũ Hổ Độn mà tính ra, theo quy tắc sau:
Năm sinh Giáp hay Kỷ khởi ở cung Bính Dần. Năm sinh Ất hay Canh khởi ở cung Mậu Dần. Năm sinh Bính hay Tân khởi ở cung Canh Dần. Năm sinh Đinh hay Nhâm khởi ở cung Nhâm Dần. Năm sinh Mậu hay Quý khởi ở cung Giáp Dần.
Ví dụ, bà X sinh năm 1970, tháng 10, ngày 1, vào lúc 10 giờ 10 phút theo Dương lịch — đổi sang Âm lịch là năm Canh Tuất, tháng 9, ngày 2, giờ Tị. Vì can của năm sinh là Canh, nên mệnh bàn của bà X khởi thiên can từ cung Canh Dần, rồi theo đúng thứ tự mười thiên can mà tính thuận dần cho các cung còn lại trên vòng mười hai địa chi.
Nếu để ý sẽ thấy: vì thiên can chỉ có mười, còn cung vị có mười hai ô, nên khi bày thiên can bắt đầu từ cung Dần đi hết một vòng, nhất định sẽ có bốn cung bị trùng thiên can. Hiện tượng này gọi là "cung thiên can trùng điệp" — thoạt nhìn không có gì đặc biệt, nhưng vì thiên can mang ý nghĩa rất quan trọng, nên bốn cung thiên can trùng điệp thường có ảnh hưởng rất lớn đối với mệnh vận.
Cung Thân Và Mười Hai Cung Chức
Sau khi các cung đã có thiên can và địa chi, bước tiếp theo là định vị trí cho cung mệnh. Từ cung Dần tính là tháng giêng, đếm các cung theo chiều thuận đến tháng sinh, định là giờ Tí, rồi đếm các cung theo chiều nghịch đến giờ sinh — đó chính là vị trí của cung mệnh. Ví dụ sinh vào tháng 5, giờ Tị: bước thứ nhất là đếm từ cung Dần là một, đếm đến cung thứ năm; sau đó đếm theo chiều nghịch từ Tí đến Tị, đó là vị trí cung mệnh; còn đếm theo chiều thuận từ Tí đến Tị, đó là vị trí cung thân. Cung thân tất sẽ đồng cung với một trong sáu cung sau: cung mệnh, cung phúc đức, cung quan lộc, cung thiên di, cung tài bạch, cung phu thê.
Tiếp theo, bắt đầu từ cung mệnh, mang các cung chức bố trí theo chiều nghịch vào mười một cung vị còn lại, theo đúng thứ tự: cung mệnh, cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung tài bạch, cung tật ách, cung thiên di, cung nô bộc, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức, cung phụ mẫu.
Lưu ý về tháng nhuận Âm lịch
Có phái gặp tháng nhuận Âm lịch thì tính như sau: sinh trong khoảng mười lăm ngày trước của tháng nhuận, được xem là thuộc tháng đó; sinh trong khoảng mười lăm ngày sau của tháng nhuận, được xem là thuộc tháng sau. Ví dụ, sinh trong khoảng mười lăm ngày trước tháng tám nhuận, được xem là tháng tám; sinh trong khoảng mười lăm ngày sau của tháng nhuận, được xem là thuộc tháng chín.
Có phái khác lại gặp tháng nhuận Âm lịch thì xem như tháng đó lặp lại — ví dụ sinh trong tháng tám nhuận, vẫn được xem là thuộc tháng tám.
Nếu sinh vào đúng tháng nhuận, nên lập hai mệnh bàn theo cả hai cách tính trên, rồi xem mệnh bàn nào ứng nghiệm hơn với thực tế.
Luận Về Cục Ngũ Hành Nạp Âm
Trong Tử Vi Đẩu Số, vì sao "cục ngũ hành nạp âm" lại chọn từ Thủy Nhị Cục đến Hỏa Lục Cục, mà không chọn từ Thủy Nhất Cục đến Hỏa Ngũ Cục? Nguyên do nằm ở sự khác biệt giữa bát quái tiên thiên và bát quái hậu thiên.
Bát quái tiên thiên theo nguyên lí: "trời đất định vị, núi đầm thông khí, sấm gió xô đẩy nhau, nước lửa không bắn nhau." Theo cách sắp bát quái tiên thiên: Kiền ở phương nam, Khôn ở phương bắc, Li ở phương đông, Khảm ở phương tây, Chấn ở đông bắc, Cấn ở tây bắc, Đoài ở đông nam, Tốn ở tây nam.
Bát quái hậu thiên lại theo nguyên lí của Lạc Thư: "đội chín đạp một, trái ba phải bảy, hai và bốn là vai, sáu và tám là chân, năm ở giữa." Theo cách sắp bát quái hậu thiên: Li ở phương nam, Khảm ở phương bắc, Chấn ở phương đông, Đoài ở phương tây, Cấn ở đông bắc, Kiền ở tây bắc, Khôn ở tây nam, Tốn ở đông nam.
Vì bát quái tiên thiên và bát quái hậu thiên diễn hóa khiến hai quẻ Kiền, Khôn đổi sang vị trí khác nhau — đặt trên nền tảng "lí khí tương thông" giữa Hà Đồ và Lạc Thư — nên ở tiên thiên, quẻ Kiền đứng tại phương vị hỏa, còn ở hậu thiên, quẻ Kiền lại mang số "6"; quẻ Khôn cũng vậy, ở tiên thiên đứng tại phương vị thủy, còn ở hậu thiên lại mang số "2". Các quẻ còn lại thì cả ngũ hành lẫn con số đều không thay đổi. Chính vì sự lệch vị trí riêng của hai quẻ Kiền, Khôn này mà trong Đẩu Số, nguyên tắc "cục ngũ hành nạp âm" mới chọn vận dụng theo thứ tự từ Thủy Nhị Cục đến Hỏa Lục Cục.
Cục ngũ hành là bộ phận rất quan trọng, vì nó là điều kiện để định vị trí sao Tử Vi, và định đại vận bố trí theo chiều thuận hay chiều nghịch cùng số tuổi để khởi vận. Cục ngũ hành được căn cứ vào can của cung mệnh mà định; bí quyết tính trên bàn tay chia làm hai giai đoạn — giai đoạn một là tính thiên can, giai đoạn hai là tính địa chi.
Cục số của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ đối ứng cố định như sau. Kim là Kim Tứ Cục, đại vận thứ nhất từ 4 đến 13 tuổi, đại vận thứ hai từ 14 đến 23 tuổi. Mộc là Mộc Tam Cục, đại vận thứ nhất từ 3 đến 12 tuổi, đại vận thứ hai từ 13 đến 22 tuổi. Thủy là Thủy Nhị Cục, đại vận thứ nhất từ 2 đến 11 tuổi, đại vận thứ hai từ 12 đến 21 tuổi. Hỏa là Hỏa Ngũ Cục, đại vận thứ nhất từ 6 đến 15 tuổi, đại vận thứ hai từ 16 đến 25 tuổi. Thổ là Thổ Lục Cục, đại vận thứ nhất từ 5 đến 14 tuổi, đại vận thứ hai từ 15 đến 24 tuổi.
Đại vận thứ nhất đều khởi từ cung mệnh. Đại vận của dương nam hay âm nữ thì chuyển vận theo chiều thuận; đại vận của âm nam hay dương nữ thì chuyển vận theo chiều nghịch.
Bảng tra cục ngũ hành theo can chi cung mệnh
Cục ngũ hành được tra theo can và chi của cung mệnh, đối chiếu như sau:
| Chi cung mệnh | Giáp, Ất | Bính, Đinh | Mậu, Kỷ | Canh, Tân | Nhâm, Quý |
|---|---|---|---|---|---|
| Tí, Sửu, Ngọ, Mùi | Kim Tứ Cục | Thủy Nhị Cục | Hỏa Lục Cục | Thổ Lục Cục | Mộc Tam Cục |
| Dần, Mão, Thân, Dậu | Thủy Nhị Cục | Hỏa Lục Cục | Thổ Lục Cục | Mộc Tam Cục | Kim Tứ Cục |
| Thìn, Tị, Tuất, Hợi | Hỏa Lục Cục | Thổ Lục Cục | Mộc Tam Cục | Kim Tứ Cục | Thủy Nhị Cục |
Bảng Tra An Tử Vi
Muốn tìm cung an sao Tử Vi, cần phải lấy cục ngũ hành và ngày sinh Âm lịch để tra theo bảng dưới đây.
| Ngày sinh | Thủy Nhị Cục | Mộc Tam Cục | Kim Tứ Cục | Thổ Lục Cục | Hỏa Lục Cục |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Sửu | Thìn | Hợi | Ngọ | Dậu |
| 2 | Dần | Sửu | Thìn | Hợi | Ngọ |
| 3 | Dần | Dần | Sửu | Thìn | Hợi |
| 4 | Mão | Tị | Dần | Sửu | Thìn |
| 5 | Mão | Dần | Tí | Dần | Sửu |
| 6 | Thìn | Mão | Tị | Mùi | Dần |
| 7 | Thìn | Ngọ | Dần | Tí | Tuất |
| 8 | Tị | Mão | Mão | Tị | Mùi |
| 9 | Tị | Thìn | Sửu | Dần | Tí |
| 10 | Ngọ | Mùi | Ngọ | Mão | Tị |
| 11 | Ngọ | Thìn | Mão | Thân | Dần |
| 12 | Mùi | Tị | Thìn | Sửu | Mão |
| 13 | Mùi | Thân | Dần | Ngọ | Hợi |
| 14 | Thân | Tị | Mùi | Mão | Thân |
| 15 | Thân | Ngọ | Thìn | Thìn | Sửu |
| 16 | Dậu | Dậu | Tị | Dậu | Ngọ |
| 17 | Dậu | Ngọ | Mão | Dần | Mão |
| 18 | Tuất | Mùi | Thân | Mùi | Thìn |
| 19 | Tuất | Tuất | Tị | Thìn | Tí |
| 20 | Hợi | Mùi | Ngọ | Tị | Dậu |
| 21 | Hợi | Thân | Thìn | Tuất | Dần |
| 22 | Tí | Hợi | Dậu | Mão | Mùi |
| 23 | Tí | Thân | Ngọ | Thân | Thìn |
| 24 | Sửu | Dậu | Mùi | Tị | Tị |
| 25 | Sửu | Tí | Tị | Ngọ | Sửu |
| 26 | Dần | Dậu | Tuất | Hợi | Tuất |
| 27 | Dần | Tuất | Mùi | Thìn | Mão |
| 28 | Mão | Sửu | Thân | Dậu | Thân |
| 29 | Mão | Tuất | Ngọ | Ngọ | Tị |
| 30 | Thìn | Hợi | Hợi | Mùi | Ngọ |
Cách tra: xác định cục ngũ hành của mệnh bàn (Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Lục Cục hay Hỏa Lục Cục), rồi dò theo hàng ứng với ngày sinh Âm lịch — ô giao nhau chính là cung an sao Tử Vi.
An Tứ Hóa
Cách an tứ hóa có sự khác biệt tùy theo lưu phái. Với mỗi thiên can, bốn hóa diệu Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ được an vào bốn sao chính khác nhau, và một số thiên can lại có sự khác biệt giữa các lưu phái. Bảng đối chiếu dưới đây liệt kê thứ tự Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ của từng thiên can theo bốn nhóm lưu phái.
| Thiên can | Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập / Trung Châu phái Lục Bân Triệu / Khâm Thiên Môn | Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư / Mân phái (Thấu Thiên) | Trung Châu phái Vương Đình Chi | Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư / Một số chi lưu thuộc Bắc phái |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm, Phá, Vũ, Dương | Liêm, Phá, Vũ, Dương | Liêm, Phá, Vũ, Dương | Liêm, Phá, Vũ, Dương |
| Ất | Cơ, Lương, Tử, Âm | Cơ, Lương, Tử, Âm | Cơ, Lương, Tử, Âm | Cơ, Lương, Tử, Âm |
| Bính | Đồng, Cơ, Xương, Liêm | Đồng, Cơ, Xương, Liêm | Đồng, Cơ, Xương, Liêm | Đồng, Cơ, Xương, Liêm |
| Đinh | Âm, Đồng, Cơ, Cự | Âm, Đồng, Cơ, Cự | Âm, Đồng, Cơ, Cự | Âm, Đồng, Cơ, Cự |
| Mậu | Tham, Âm, Bật, Cơ | Tham, Âm, Bật, Cơ | Tham, Âm, Dương, Cơ | Tham, Âm, Bật, Cơ |
| Kỷ | Vũ, Tham, Lương, Khúc | Vũ, Tham, Lương, Khúc | Vũ, Tham, Lương, Khúc | Vũ, Tham, Lương, Khúc |
| Canh | Dương, Vũ, Âm, Đồng | Dương, Vũ, Đồng, Âm | Dương, Vũ, Phủ, Đồng | Dương, Vũ, Đồng, Tướng |
| Tân | Cự, Dương, Khúc, Xương | Cự, Dương, Khúc, Xương | Cự, Dương, Khúc, Xương | Cự, Dương, Khúc, Xương |
| Nhâm | Lương, Tử, Phụ, Vũ | Lương, Tử, Phụ, Vũ | Lương, Tử, Phụ, Vũ | Lương, Tử, Phụ, Vũ |
| Quý | Phá, Cự, Âm, Tham | Phá, Cự, Âm, Tham | Phá, Cự, Âm, Tham | Phá, Cự, Âm, Tham |
Mỗi ô trong bảng liệt kê đủ bốn sao theo đúng thứ tự Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ. Có thể thấy tám trong mười thiên can — Giáp, Ất, Bính, Đinh, Kỷ, Tân, Nhâm, Quý — đều thống nhất giữa các lưu phái; riêng hai thiên can Mậu và Canh mới có sự khác biệt. Ở thiên can Mậu, đa số lưu phái lấy Hữu Bật làm Hóa Khoa, riêng phái Vương Đình Chi lại lấy Thái Dương. Ở thiên can Canh, sự khác biệt lớn hơn: có phái lấy Thái Âm làm Hóa Khoa, Thiên Đồng làm Hóa Kỵ; có phái đảo ngược lại, lấy Thiên Đồng làm Hóa Khoa, Thái Âm làm Hóa Kỵ; có phái lấy Thiên Phủ làm Hóa Khoa; lại có phái lấy Thiên Tướng làm Hóa Kỵ.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái
