Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Học hành, thi cử và gia giáo đọc qua Quan Lộc, Điền Trạch

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa04/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Học hành, thi cử và gia giáo đọc qua Quan Lộc, Điền Trạch

Cậu học trò mười lăm tuổi rất thông minh, nhưng chỉ cần giữ hạng năm là đủ, không buồn tranh lên hạng nhất. Một cung và một ngôi sao đã nói sẵn điều đó ngay từ ngày sinh…


Hai cung của chuyện học hành: Quan Lộc và văn thư

Để đoán vận học hành, hãy nhớ rằng Quan Lộc chính là cung vị của việc học. Quan Lộc quyết định chuyện học lên cao, thi cử có thành công không và thành tích học tập ra sao. Còn hạn học hành, tức thời gian một người đi học, thì trọng điểm nằm ở hai cung Phụ Mẫu và Huynh Đệ. Hai cung này gọi là cung văn thư, thuộc đại hạn thứ hai của đời người, đúng thời kỳ đi học. Đại hạn thuận hay nghịch sẽ cho biết dùng cung nào làm văn thư.

  • Văn Xương tọa Phụ Mẫu: thông minh. Nhưng nếu Văn Xương ở văn thư cung mà tự hóa Kỵ thì tuy thông minh nhưng bản thân không thích học, nên việc học không vượt qua được hạn đó.
  • Nói chuyện học hành, rất cần chú trọng hai sao Văn Xương và Văn Khúc. Nhìn Hóa Khoa hay Hóa Kỵ của hai sao ấy sẽ biết người ấy thích học hay không. Người đầu óc tốt, thông minh, nhưng Văn Xương hóa Kỵ thì có ý không học.
  • Văn thư cung tự hóa Kỵ: bản thân không muốn học lên cao. Nếu biết hạn học hành mà văn thư tự hóa Kỵ, nên soi kỹ Quan Lộc của đại hạn, vì có khi vừa học vừa làm hoặc buộc phải học.
  • Xem việc học qua hai góc: Phụ Mẫu và Huynh Đệ. Dùng đại hạn thuận hay nghịch để định cung nào làm văn thư.

Khi nào học dừng lại

Muốn tìm năm dừng học, nếu vận đi thuận thì lấy Thiên Di của Phụ Mẫu, tức cung Tật Ách. Thiên can của nó phi Hóa Khoa rơi vào hoặc chiếu tới cung nào thì đó là năm dừng học. Nếu vận đi nghịch thì lấy Thiên Di của Huynh Đệ, tức cung Nô Bộc, rồi cũng xem Hóa Khoa rơi vào hay chiếu tới cung nào.

Mệnh hoặc văn thư cung có Tả Phù, Hữu Bật, một hay hai sao, có Hóa Khoa hay không, đều dễ nghỉ học, học lại hoặc thi lại. Tả Hữu ngồi ở Tật Ách hay Nô Bộc cũng cho hiện tượng này. Nói gọn: Tả Hữu chủ nghỉ học, học lại, thi lại.

Thành tích học tập theo tứ hóa của Quan Lộc

  • Hóa Lộc: thành tích tốt, nhưng chưa chắc đứng đầu.
  • Hóa Quyền: ham học, chưa chắc đứng đầu nhưng cũng không quá kém.
  • Lộc và Quyền đồng cung: thành tích trong trường chắc chắn đứng đầu.
  • Hóa Khoa: thành tích ổn định, các môn đều đặn và không tệ.

Nghĩa là xem tứ hóa của Quan Lộc nhập tam phương, tứ chính vị. Nếu nhập cung đối diện rồi tự xung chiếu thì lực mạnh hơn. Cần lưu ý rằng tứ hóa của Quan Lộc nói về thành tích, không nói về hạn học hành.

Gia giáo qua tứ hóa của Điền Trạch

Có đứa trẻ giỏi nhờ ngọn đèn trong nhà, có đứa trẻ hư vì gia đình quá bận. Điền Trạch cho thấy nhà ấy dạy con bằng cách nào.

Gia giáo của một người được đọc ở tứ hóa của sao nằm trong cung Điền Trạch, theo từng loại hóa như sau.

  • Hóa Lộc: người trong nhà ở chung hòa thuận, vui vẻ.
  • Hóa Quyền: cha mẹ bận rộn, không có thời gian dạy dỗ, con cái nghịch ngợm.
  • Lộc và Quyền cùng có: phần lớn là gia đình làm kinh doanh, gia trưởng lao lực, bận rộn nên lơ là dạy dỗ.
  • Hóa Khoa: gia giáo tốt, nhà có truyền thống học vấn, gia đình công chức ngành giáo dục.
  • Hóa Kỵ: căn bản không có gia giáo để nói.

Điền Trạch hóa Khoa chiếu Mệnh, hoặc tự hóa Khoa, cũng là gia giáo tốt, để tham khảo. Gia giáo tốt có thể do ảnh hưởng của môi trường, nên cũng nên xem tình hình học hành của chính người đó.

Năm dừng học và năm thi đậu

Hạn học hành xem như sau: dùng Tật Ách của bản mệnh bàn, vì đó là Thiên Di của văn thư cung. Hóa Khoa của nó rơi vào cung vị lưu niên nào thì đó là hạn học hành của người ấy. Nếu Hóa Kỵ đứng trước thì lấy cung Kỵ làm hạn. Nếu Kỵ đứng sau Khoa thì hạn học nghiệp chỉ đến vị trí Khoa, nhưng vẫn sẽ học gián đoạn hoặc tự học cho tới cung Kỵ. Nếu Kỵ đứng trước Khoa, học nghiệp tới cung lưu niên có Kỵ thì dừng.

Thi cử có đỗ hay không phải lấy Quan Lộc làm chính, và là Quan Lộc của lưu niên.

  • Lộc, Quyền, Khoa của Quan Lộc chiếu Mệnh hoặc chiếu Điền Trạch: có thể đỗ đạt, có danh vị.
  • Hóa Kỵ của Quan Lộc xung Mệnh hoặc xung Điền Trạch: thi không đậu.
  • Lộc, Quyền, Khoa của Quan Lộc nhập Tật Ách chiếu Phụ Mẫu: cũng có thể thi đậu. Chiếu Huynh Đệ thì không tính.
  • Hóa Khoa và Hóa Kỵ chiếu nhau: có thể đậu nhưng thành tích không tốt. Hóa Kỵ xung Điền Trạch cũng cho thành tích không tốt.
  • Hóa Kỵ nhập Phu Thê xung Quan Lộc: dù cung ấy có cát tinh hay cát hóa cũng là thi không đậu.
  • Điền Trạch phi Kỵ nhập Tử Tức rồi tự xung, hoặc Mệnh phi Kỵ nhập Thiên Di rồi tự xung: đều thi không đậu. Kỵ tự xung Quan, tự xung Mệnh: chắc chắn thi không đậu.
  • Quan Lộc lưu niên phi Kỵ xung Phụ Mẫu hoặc Điền Trạch: thành tích kém, học không nghiêm túc, nhưng chưa chắc thi rớt.

Khi đăng ký thi, trong thời hạn quy định có thể chọn ngày tốt. Cách chọn là dùng can chi của lưu nhật cho Lộc, Quyền, Khoa chiếu Mệnh, Quan Lộc hoặc Điền Trạch của ta, tính theo cung vị lưu niên, rồi lấy ngày đó làm ngày đăng ký. Đó là phép chọn ngày của Đẩu Số.

Bầu cử, kinh doanh và học được hay không

  • Bầu cử cũng lấy Quan Lộc làm chính, vì Quan Lộc chủ việc có lên bảng hay không. Quan Lộc còn chủ trạng thái kinh doanh tốt xấu, tức thành tích kinh doanh.
  • Phụ Mẫu tự hóa Kỵ: bản thân không thích học. Học được hay không lấy Phụ Mẫu làm chính, Phụ Mẫu hay Huynh Đệ của bản mệnh bàn tùy theo đại hạn thuận hay nghịch. Phụ Mẫu không tốt cũng có thể có tình huống vừa học vừa làm.
  • Mệnh cung tương đương với diện mạo. Cho nên nói Phụ Mẫu là cung tướng mạo thì không quan trọng. Phụ Mẫu hóa Kỵ thì mặt có vết sẹo, nhưng với Phụ Mẫu vẫn nên lấy văn thư làm chính.
  • Điền Trạch phi Kỵ nhập Phụ Mẫu mà phá tướng là vì xung Tật Ách, chứ không phải vì Phụ Mẫu là tướng mạo. Sở dĩ dùng Điền Trạch phát ra là vì Điền Trạch chủ tai nạn bất ngờ. Tật Ách đại diện cho thân thể.

Hai lối giải ách: nhập thế quyết và xuất thế quyết

Học đoán mệnh đến cùng thì nên hiểu hai lối gọi là nhập thế quyết và xuất thế quyết. Đó là cách ứng xử khi đã biết kiếp số sắp tới và phải giải ách, tức chữa mệnh.

  • Nhập thế quyết đơn giản hơn. Chẳng hạn Cự Môn hóa Kỵ là kiếp số, ta cho Hóa Lộc tới để cứu. Nhưng sức mạnh và hiệu quả của cách này không lớn lắm.
  • Xuất thế quyết thì đòi hỏi phải biết rõ tính chất của từng sao.

Có người hỏi: với nhập thế quyết, Kỵ đến gây kiếp mà ta cho Lộc đến thì có sinh ra cảnh Lộc Kỵ xung nhau giao chiến không. Câu trả lời là có cách giải, và sẽ được dạy riêng. Việc dạy dựa vào ba phương diện của Tử Vi Đẩu Số là Kỳ Môn, Hà Lạc và Tam Hợp, giảng dần từng bước.

Ngoài ra còn có pháp đoán mệnh xúc cơ. Khi có người tìm đến xem mệnh, hãy tự hỏi vì sao đúng lúc này họ đến và điều họ muốn hỏi là gì. Lấy tháng, ngày, giờ của thời điểm ấy làm cơ để phi tứ hóa mà đoán thì chắc chắn đúng.

Một nam mệnh sinh năm Mậu Thân: thông minh nhưng lười học

Người này sinh năm 1968, lúc xem là năm Nhâm Tuất, 15 tuổi.

  • Mệnh cung can Canh, tọa Thân, Tham Lang hóa Lộc, đại hạn đi thuận.
  • Văn thư cung, tức Phụ Mẫu, mang can Tân ở Dậu, Văn Xương hóa Kỵ nhập Điền Trạch, tức nhà trong: không phải không học được mà là lười học. Cung ấy có Cự Môn tự hóa Lộc nên nếu học nghiêm túc thì thành tích tốt. Nhưng Xương hóa Kỵ nên không thích học dù rất biết cách học. Tân Dậu Thái Dương hóa Quyền nhập Huynh Đệ, Văn Khúc hóa Khoa nhập Tật Ách xung chiếu văn thư cung: Lộc và Khoa cùng chiếu văn thư, thông minh, rất biết học, nhưng lười.
  • Cự Môn tự hóa Lộc xuất ở văn thư: chỉ cầu thành tích qua được là được. Văn Khúc hóa Khoa chiếu văn thư: không cầu điểm cao. Cha mẹ muốn con đứng trong top 5 thì được hạng 5 là đủ, không phấn đấu lên hạng 1. Chuyện học hành lấy Khoa làm chính, nhưng vì Văn Xương hóa Kỵ nên không học nghiêm túc.

Năm sau thi liên khảo có đậu không

  • Năm sau đang ở đại hạn 13 đến 22 tuổi, Tân Dậu, Văn Khúc hóa Khoa. Tật Ách bản mệnh can Ất Mão, Tử Vi hóa Khoa nhập Phụ Mẫu đại hạn Nhâm Tuất rồi chiếu Tật Ách đại hạn Bính Thìn, mà lưu niên 21 tuổi cũng là Bính Thìn. Vậy 21 tuổi là hạn học hành, trình độ chuyên khoa.
  • Phải đoán đại hạn trước rồi mới đoán hạn học.
  • Đại hạn 23 đến 32 tuổi Nhâm Tuất: văn thư bản mệnh Tân Dậu có Văn Xương hóa Kỵ ở Quý Hợi, xung Phụ Mẫu đại hạn Nhâm Tuất. Trong đại hạn này không có hiện tượng học hành mà là nghỉ học. Cùng lắm học đến cung xung của Văn Xương hóa Kỵ là Đinh Tỵ, 22 tuổi. Nếu sau này tự học lại thì luận khác.
  • Năm sau, Mệnh lưu niên Quý Hợi, Quan Lộc lưu niên Ất Mão: Thiên Cơ hóa Lộc nhập Phụ Mẫu bản mệnh Tân Dậu, Thiên Lương hóa Quyền nhập Mệnh lưu niên, Tử Vi hóa Khoa nhập Huynh Đệ lưu niên Nhâm Tuất, Thái Âm hóa Kỵ nhập Kỷ Mùi, là Quan Lộc của Quan Lộc lưu niên Ất Mão. Thành tích thi không thể tốt lắm nhưng sẽ đậu, vì Lộc và Quyền đều nhập Mệnh của đại hạn và lưu niên.
  • Nếu học năm năm chuyên khoa thì chọn ngành nào? Quan Lộc lưu niên Ất Mão có Thái Âm hóa Kỵ, Thái Âm chủ văn khoa nên không thể học văn khoa. Thiên Cơ hóa Lộc nhập Mệnh đại hạn, Thiên Lương hóa Quyền nhập Mệnh lưu niên: nên học kỹ thuật, chọn ngành công nghệ.
  • Lưu niên Quý Hợi, Thái Âm hóa Khoa xung Phúc Đức lưu niên: chắc chắn đậu.

Về tướng người, Mệnh cung tọa Tham Lang hóa Lộc năm sinh thì dáng đẹp trai, nhưng khó tránh đào hoa. Mệnh cung can Canh, Thái Dương hóa Lộc nhập Huynh Đệ chiếu Nô Bộc: thích kết giao rộng, bạn bè rất nhiều, vì Lộc tiên thiên chuyển thành Lộc hậu thiên. Nếu Lộc hậu thiên nhập Quan Lộc thì thích học, thích làm sự nghiệp. Nếu nhập Tài Bạch thì kiếm tiền dựa vào sức mình. Mệnh có Tham Lang hóa Lộc còn là tượng trường thọ, vì Tham Lang là sao thọ lại hóa Lộc.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa