Bài tổng quan
Ghen tuông, đào hoa, dáng vóc: đọc vợ chồng qua hệ đối đãi
Người phụ nữ ba mươi ba tuổi lấy chồng lớn tuổi, nhiều năm chưa có con, hai vợ chồng thường to tiếng vì chuyện ấy. Lá số cho thấy nguyên nhân không nằm ở bà mà ở…
Mục lục · 7 phần
- 01Ai ghen, ai quản thúc ai
- 02Nữ mệnh và những đường dẫn đến đào hoa
- 03Dáng vóc và khuôn mặt của hai người
- 04Hạn kết hôn, kiếp số tuổi thơ và đường sinh tử
- 05Nơi sinh ra và cảnh quanh nhà lúc nhỏ
- 06Một lá số: người vợ lấy chồng lớn tuổi, nhiều năm chưa có con
- 07Một nữ mệnh khác: không có hạn kết hôn trong đại hạn
Ai ghen, ai quản thúc ai
Hệ thống đối đãi chia theo giới. Với nam mệnh, vợ nằm ở cung Phu Thê còn chồng, tức chính người đương số, nằm ở cung Tài Bạch. Với nữ mệnh, chồng nằm ở cung Phúc Đức, vốn là Phu Thê của Quan Lộc. Từ khung này mới đọc được chuyện ghen tuông, quản thúc và đào hoa.
- Chuyện ghen tuông xem ở cung Tử Tức. Tật Ách là Phu Thê của Tử Nữ. Nếu thiên can Tật Ách phi Kỵ vào Mệnh thì vợ hay ghen, canh chừng đào hoa của ta.
- Nô Bộc là Tài Bạch của Tử Nữ. Nếu thiên can Nô Bộc phi Kỵ vào Mệnh thì người chồng hay ghen và quản đào hoa của vợ.
- Tử Tức phi Kỵ vào Phu Thê không còn là chuyện đối đãi mà là chuyện sinh sản và con cái. Nếu Kỵ nhập Phu Thê rồi xung Quan Lộc, mà Quan Lộc lại là Tật Ách của Tử Nữ, thì có thể không có con, có cũng khó nuôi hoặc không giữ được.
- Phu Thê phi Kỵ vào Tài Bạch: quản chặt tiền bạc. Còn Tật Ách phi Kỵ vào Tài Bạch, theo hệ đối đãi, là quản cả tiền lẫn tình cảm của người chồng, tức đào hoa của chồng. Tật Ách mang hơi hướng đào hoa nên cũng dính tới ghen tuông.
- Phu Thê phi Kỵ vào Tài Bạch rồi xung Phúc Đức: quản tiền bạc và chuyện hưởng thụ, nhưng ít quản tình cảm.
Muốn đọc đào hoa của chính mình thì lấy Tử Tức làm cung chính. Nữ mệnh muốn biết chồng có hay ghen thì nhìn Tật Ách, vì đó là Phu Thê của Tử Nữ trong cung chồng. Tật Ách phi Kỵ vào Mệnh nghĩa là người bạn đời hay ghen. Cần nhấn mạnh rằng đây là luận đào hoa, không phải luận sức khỏe. Muốn luận sức khỏe thì phải dựa vào thực trạng cơ thể.
Nữ mệnh và những đường dẫn đến đào hoa
Cùng là đào hoa, nhưng Huynh Đệ và Nô Bộc dẫn ra một lối khác hẳn lối của Tử Tức, và hai giới đi theo hai đường không giống nhau.
Nữ mệnh lấy Phúc Đức làm cung chồng trong góc độ đối đãi. Lý do là người nữ lấy chồng để nương vào chỗ quý, nên phải nhìn Phu Thê của Quan Lộc. Khi Nô Bộc hoặc Huynh Đệ hóa Lộc, đều dính đến đào hoa. Nếu nam mệnh có thiên can Phu Thê phi Lộc vào Nô Bộc (cung Tài Bạch của Tử Nữ) thì có đào hoa. Nếu nữ mệnh có Mệnh phi Lộc vào Huynh Đệ (cung Phúc Đức của Tử Nữ) thì cũng gặp chuyện đào hoa. Gốc của nguyên lý đối đãi vẫn dựa vào Phu Thê và Tài Bạch của nam. Nô Bộc phi Kỵ vào Phu Thê thì người nam quản đào hoa của người nữ.
Một vài điều cần phân biệt: Hóa Kỵ phát ra từ Tử Tức không thuộc hệ đối đãi, nó nói về con cái. Tứ hóa phát ra từ Mệnh là chuyện duyên phận, cũng không thuộc đối đãi. Thiên Đồng nhập Tật Ách chủ về ruột. Thành bại nghề nghiệp của nữ mệnh cũng đọc ở Quan Lộc.
Ai là người cầm cương
- Phúc Đức của nữ mệnh phi Kỵ nhập Mệnh: người nam quản người nữ.
- Mệnh của nữ mệnh phi Kỵ nhập Tài Bạch, xung Phúc Đức: vợ quản chồng, nữ mạnh hơn nam.
- Phúc Đức phi Kỵ nhập Thiên Di, xung Mệnh: nam quản nữ, nam mạnh hơn.
- Phúc Đức phi Kỵ nhập Phu Thê, xung Quan Lộc: sự nghiệp của chồng không thịnh.
Dáng vóc và khuôn mặt của hai người
Xem diện mạo và thân hình của người phối ngẫu, dù nam hay nữ, đều dùng Phu Thê của Tật Ách, tức cung Nô Bộc, làm chính. Xem hình dáng của bản thân thì dùng cung Tật Ách trong bản mệnh bàn.
- Cự Môn, Phá Quân, Liêm Trinh, Thất Sát, Thiên Lương, Thiên Đồng: chiều cao khoảng 165 đến 170 cm, riêng Thiên Lương và Thiên Đồng còn cao hơn.
- Thái Dương, Thái Âm, Vũ Khúc: khoảng 160 cm. Tham Lang: thân hình trung bình.
- Béo hay gầy: thiên can Tật Ách tự hóa Kỵ xung Phụ Mẫu, hoặc Phụ Mẫu xung ngược về Tật Ách, hoặc Kỵ nhập Điền Trạch, Tử Tức thì gầy. Hóa Lộc thì béo. Lộc ở Phụ Mẫu hoặc Tật Ách mà Kỵ ở Tử Tức hoặc Điền Trạch thì không béo không gầy.
Hạn kết hôn, kiếp số tuổi thơ và đường sinh tử
Cung nào tự hóa Kỵ thì phải đợi lưu niên xung vào cung ấy mới có hạn kết hôn. Tử Tức đại hạn phi Lộc vào Tài Bạch thì có đối tượng khác giới bước vào. Tử Tức đại hạn phi Kỵ vào Phu Thê đại hạn thì mười năm ấy không có hạn kết hôn.
Thiên can Mệnh phi Kỵ nhập Tử Tức, xung Điền Trạch, báo kiếp số thời thơ ấu. Các cung đại hạn khác phi Kỵ nhập Tử Tức đại hạn rồi xung Điền Trạch đại hạn cũng báo kiếp số.
Thời thơ ấu khó nuôi: nếu Hóa Lộc, Hóa Khoa năm sinh tọa Mệnh, hoặc đồng thời ở Phụ Mẫu chiếu Tật Ách, thể chất thiếu niên yếu nhưng sống thọ. Hóa Khoa tọa Mệnh, Hóa Lộc ở Thiên Di chiếu Mệnh cũng là cách trường thọ.
Thiên can Mệnh phi Kỵ nhập Thiên Di thì khi hành hạn tới Thiên Di có thể là thọ hạn của người ấy. Đại hạn tới cung có thiên can phi Kỵ vào Tật Ách xung Phụ Mẫu thì chắc chắn có kiếp, và là kiếp lớn. Nếu Mệnh đã có Kỵ năm sinh tọa thủ mà thiên can đại hạn lại phi Kỵ nhập Mệnh thì đại hạn ấy là kiếp sinh tử.
Tai nạn xe cộ thì xem Thiên Di phi Kỵ vào Điền Trạch (hoặc Tử Tức) rồi xung ngược về Tử Tức (hoặc Điền Trạch). Thiên Cơ ứng với xe máy. Nếu đẩu quân tháng Giêng của lưu niên ngồi ở một cung và lấy cung đó làm Mệnh mượn, cung đối diện làm Thiên Di mượn, mà thiên can Thiên Di mượn ấy phi Kỵ nhập Tật Ách lưu niên rồi xung Phụ Mẫu lưu niên thì đó là kiếp nặng, đụng tới tính mạng. Với tai họa bất ngờ, lấy Thiên Di làm cung chính rồi dùng tứ hóa để đoán, nếu không dùng đẩu quân thì dùng Thiên Di lưu niên cũng được.
Nơi sinh ra và cảnh quanh nhà lúc nhỏ
Đoán giờ sinh để xem Điền Trạch, từ đó đoán môi trường quanh nơi sinh. Dựa vào thiên can phi Hóa Lộc, dùng sao nhận Lộc để nhìn ra cảnh vật. Ví dụ Thái Dương hóa Lộc ở Tử Tức rồi chiếu Điền Trạch. Điền Trạch là dương trạch, Tử Tức đối diện với nó, Thái Dương chủ trường học, nên phía đối diện nhà có trường học. Nếu cung nhận Hóa Lộc không chiếu Điền Trạch thì dùng phương vị Bát Quái để đoán.
Một vài nhận xét khác: đại hạn mà Cơ, Âm ngồi thì dễ đi xa quê. Nếu lại có Kỵ nhập Điền Trạch thì đi xa để học. Điền Trạch phi Lộc vào Phụ Mẫu, cung văn thư, thì chỉ học chứ chưa làm.
Tử Tức tự hóa Lộc là có duyên con cái. Nếu hỏi cung nào phi Kỵ xung Tử Tức, thì ý nghĩa của cung gốc ấy là nguyên nhân cản trở có con. Phu Thê phi Kỵ nhập Tử Tức thì vấn đề nằm ở người chồng hoặc người vợ. Nữ mệnh nhìn Phúc Đức (nam) của Tử Nữ, tức cung Huynh Đệ, để biết khả năng sinh lý của chồng, và nhìn Phúc Đức của Tật Ách để biết nguồn bệnh của chồng.
Một lá số: người vợ lấy chồng lớn tuổi, nhiều năm chưa có con
Người phụ nữ này ba mươi ba tuổi, lấy chồng lớn hơn nhiều, vợ chồng thường xuyên to tiếng vì không có con, hiện đã nhận nuôi một bé gái.
- Can Mệnh là Tân, Cự Môn hóa Lộc nhập Phu Thê: người nữ có duyên với người khác giới.
- Can Tử Tức là Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Phu Thê, giao tranh với Hóa Lộc từ Mệnh phi tới: khó bạc đầu, chuyện nằm ở sinh sản và đào hoa. Lộc và Kỵ phát từ hai cung cùng cấp, khác thiên can, rơi vào cùng một cung thì gọi là chiến khắc.
- Can Phúc Đức là Quý, Phá Quân hóa Lộc nhập Nô Bộc (cũng là Tử Tức của người nam), Tham Lang hóa Kỵ nhập Tử Tức: tranh chấp vợ chồng xoay quanh con cái.
- Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Phu Thê, xung Quan Lộc: không có con. Còn Tham Lang ở Tử Tức tự hóa Lộc: có duyên nhận con nuôi.
- Phúc Đức phi Kỵ nhập Tử Tức, xung Điền Trạch: nhà cửa ồn ào, tranh chấp.
- Tật Ách mang can Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Tử Tức: Tham Lang là sao đào hoa nên nét mặt xinh đẹp, tính cứng, sức khỏe không tốt, không chịu thua ai. Tử Tức lại có Thiên Hình đồng cung nên cô độc.
Về nguyên nhân không có con, Phúc Đức của người nữ cũng chính là cung chồng, mang can Quý, Tham Lang hóa Kỵ nhập Tử Tức nên lỗi nằm ở người chồng. Tử Tức là Phúc Đức của Tật Ách, nên người chồng có bệnh. Tham Lang thuộc Mộc và Thủy, ứng với gan và thận, hóa Kỵ là có bệnh.
Thiên Di mang can Đinh, Cự Môn hóa Kỵ nhập Phu Thê, cộng với Lộc của Cự Môn từ Mệnh phi tới cùng cung, cho thấy người nữ ra ngoài giao du với bạn trai thì bất lợi, ở nhà thì tốt hơn. Đó là nội ngoại tương phá. Nếu chuyện này dính tới sự nghiệp thì là thua lỗ.
Hóa Quyền năm sinh tọa Tật Ách, mà Tật Ách là Phu Thê của Tử Nữ nên nói về đào hoa của đối phương. Tật Ách vốn là thân thể của ta, Quyền mang nghĩa xâm chiếm, nên thân thể ta bị đối phương chiếm trước, tức là trước hôn nhân đã có quan hệ với chồng. Cùng cung này, Hóa Kỵ nghĩa là thân thể được vuốt ve, Hóa Lộc nghĩa là đối phương chủ động lấy lòng, nồng nhiệt, ngọt ngào, Hóa Khoa nghĩa là phong thái quân tử, tiếp xúc tự nhiên.
Chuyện chênh lệch tuổi cũng đọc từ Phu Thê. Phu Thê có Thiên Lương, Thiên Cơ, Thái Âm, Thất Sát, Phá Quân hoặc Tham Lang thì phần nhiều hai người lệch tuổi nhau nhiều, riêng Thiên Lương và Thiên Cơ thường trên mười tuổi. Phá Quân nếu không ngồi ở Tý hoặc Ngọ thì Phu Thê, Tử Tức, Nô Bộc trong đời chắc có chỗ khuyết, còn ở Tý Ngọ thì con cái thành đạt hơn. Tử Vi và Thiên Tướng tọa Mệnh ở Thìn hoặc Tuất, cung đối có Phá Quân, lưu niên đến Thìn Tuất thì e có tranh chấp trong nhà.
Người nữ muốn xem sự nghiệp của chồng thì nhìn Quan Lộc, cũng là Phu Thê của Thiên Di, và dùng tứ hóa từ thiên can Quan Lộc. Quan Lộc chính là Mệnh cung của người chồng. Ở lá số này, thiên can Quan Lộc là Ất, Thiên Cơ hóa Lộc tự chiếu từ Thiên Di nên là nhân viên công vụ. Hóa Kỵ nằm ở Quan Lộc, vì Quan Lộc là Phu Thê của Phu Thê rồi xung chính nó, không thích hợp kinh doanh. Nếu vẫn muốn làm thì phải làm ăn tiền mặt.
Chọn thời điểm bằng đẩu quân
Muốn biết sự nghiệp lúc nào mới sáng, lấy cung nhận Hóa Kỵ của Mệnh lưu niên làm Quan Lộc của một tháng nào đó, rồi tính đẩu quân đi tới tháng ấy. Ở lá số này, Mệnh lưu niên là Bính Tuất, Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Giáp Thân, mà Giáp Thân chính là Quan Lộc của cung Canh Thìn. Đẩu quân năm nay khởi từ Quý Mùi, chạy tới Canh Thìn là tháng 10. Vì vậy qua tháng 10 mới có thể nói sự nghiệp tốt xấu.
Tương tự, hỏi tháng nào mang thai thuận lợi thì thiên can Tử Tức Quý, Tham Lang hóa Kỵ rơi vào Mậu Dần, còn tháng 11 là Tân Tỵ, Tử Tức của Mậu Dần. Do đó qua tháng 11, đến cuối năm tháng 12, mang thai chắc chắn có con.
Có người hỏi vì sao hỏi sự nghiệp lại không dùng Hóa Kỵ của Quan Lộc mà dùng Hóa Kỵ của Mệnh. Câu trả lời là phải có vận trước rồi mới có sự nghiệp, nên lấy Mệnh làm chủ để hành vận, vận đi rồi sự nghiệp mới hiện ra.
Một nữ mệnh khác: không có hạn kết hôn trong đại hạn
Ở một nữ mệnh sinh năm Giáp Ngọ, bệnh ruột đọc từ Thiên Đồng, thành bại nghề nghiệp đọc ở Quan Lộc. Thiên can Tử Tức đại hạn là Ất, Thái Âm hóa Kỵ nhập Phu Thê đại hạn: không có hạn kết hôn. Cùng đại hạn ấy, Tử Tức đại hạn phi Lộc nhập Phúc Đức đại hạn, chiếu Tài Bạch đại hạn: có người đàn ông xuất hiện, tức là đào hoa. Quan Lộc tự hóa Lộc là Lộc xuất tìm Kỵ, Quý Tham Lang hóa Kỵ nhập Tài Bạch, mà Tài Bạch là Quan Lộc của Quan Lộc: người này làm nhân viên ổn định, không đổi chỗ, hoặc kinh doanh tiền mặt. Nếu có chồng thì chồng cũng đi làm công ăn lương.
Mệnh cung Văn Khúc hóa Kỵ xung Phúc Đức: không có duyên với chồng. Thiên can Tử Tức là Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Quan Lộc, xung Phu Thê: đào hoa không rõ ràng, không thể kết hôn. Thiên can Phúc Đức là Tân, Văn Xương hóa Kỵ nhập Tài Bạch rồi tự xung: phía nam không muốn lấy cô ấy. Phu Thê can Đinh, Cự Môn hóa Kỵ nhập Tử Tức xung Điền Trạch, mà Điền Trạch là Phu Thê của Nô Bộc: không có hiện tượng đào hoa.
Tật Ách can Bính, Thiên Đồng tự hóa Lộc, đã là Lộc xuất thì phải tìm Kỵ. Người cao gầy, duyên bên ngoài tốt nhưng ngắn: mới nhìn thấy đẹp, nhìn lâu lại thấy không ổn. Tự hóa Kỵ thì phải tìm Lộc, tức Kỵ xuất. Nếu Kỵ xuất rồi phi Lộc nhập Quan Lộc, chiếu Phu Thê thì có chuyện kết hôn.
Mệnh cung có Tử Vi Thất Sát, Quan Lộc có Lộc và Quyền, Thiên Di có Thiên Phủ, Tài Bạch có Khoa: nữ mệnh này là cách số vất vả, nếu lấy chồng sau này sẽ giúp ích cho chồng. Cách cục bản mệnh cao, tầm nhìn xa. Phu Thê phi Kỵ nhập Mệnh thì kết hôn muộn, tự hóa Kỵ là vấn đề của riêng bản thân.
Đại hạn Tử Tức mang can Ất, Thái Âm hóa Kỵ nhập Phu Thê đại hạn: chỉ là quan hệ sống chung với người đã có vợ. Cũng đại hạn ấy, Thiên Cơ hóa Lộc nhập Phúc Đức (nam) của Tử Nữ rồi chiếu Phúc Đức (nam) của Điền Trạch: chắc chắn có đàn ông. Phúc Đức đại hạn mang can Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Phúc Đức của Tử Nữ, cung vị này là Phu Thê của Phu Thê: phải qua tuổi 41 mới có nhân duyên. Bản mệnh vốn không có chính duyên. Cuối cùng, năm sinh can Giáp, Thái Dương hóa Kỵ ở Tử Tức xung Điền Trạch là kiếp số, kiếp chết.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
