Bài tổng quan
Cung nô bộc: cửa ngõ tri thức, bệnh tật và đám đông
Cung nô bộc thường bị xem nhẹ chỉ vì cái tên, kỳ thực đây là cung vị "tuyệt tình" của cung mệnh, nơi cổ nhân bảo rằng sinh tử được quyết định. Cung này là cầu nối dẫn tri thức từ cung thiên di về cung quan lộc, lại là phần lộ ra ngoài của bệnh tật vốn ẩn trong cung tật ách. Lẽ "vật dĩ loại tụ" cũng từ đây mà soi tỏ đám đông vây quanh mệnh tạo.
Mục lục · 2 phần
Hàm nghĩa cơ bản của cung nô bộc
Cung nô bộc thuộc nhóm cung luận về người: nó cai quản lớp bạn bè ngang hàng, đồng nghiệp cùng những ai hợp tác với mệnh tạo. Căn cứ tổ hợp tinh diệu đóng ở đây mà đoán được tình hình giao tế, mối quan hệ với người dưới quyền, bạn bè cư xử với nhau tốt hay xấu, duyên bạn bè dày hay mỏng; hết thảy cách đối đãi qua lại giữa bạn bè đều quy về cung này.
Suy rộng ra, cung nô bộc chính là đại chúng, là "chúng sinh tướng".
Cung nô bộc còn được gọi là cung vị "tuyệt tình" của cung mệnh. Phàm đã là cung vị nô bộc, tức cung vị "đếm nghịch đến 8" tính từ bất kỳ cung nào, thì đều là cung vị "tuyệt tình": chỗ khiến trạng huống vốn có của cung ấy đổi khác, hoặc bị xóa sạch.
Cung này cũng chủ về thân thể của người phối ngẫu, là biểu tượng cho đào hoa và duyên với người khác giới của người phối ngẫu; thêm vào đó, nó còn chủ về chuyện mang thai, sinh nở.
Lạc Thư có câu:
6, 8 là chân.
Số 6 ứng với cung tật ách, số 8 ứng với cung nô bộc. Lúc luận sức khỏe và bệnh tật của thân thể, cung nô bộc chủ về cảm mạo, bệnh dịch, tức những chứng mà căn nguyên phần nhiều đến từ cảm nhiễm, từ sự tiếp xúc bên ngoài cơ thể; điều đó khác với cung tật ách, vốn chủ về bệnh tật của bản thân, về yếu tố di truyền tiềm tàng bên trong.
Vì là cung vị "tuyệt tình" của cung mệnh, cung nô bộc chủ về tai kiếp và hung ách; do vậy mới có câu "nhất khí sinh tử quyết định ở cung nô bộc"!
Bất kỳ cung nào khi phi Hóa Kị cũng không nên nhập cung huynh đệ hay cung nô bộc, bởi đều chủ về hung ách. Tuyến "huynh nô" là cửa ngõ của toàn mệnh bàn, không thể xem thường! Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung nô bộc, xung cung huynh đệ, thì tổn thất sạch trơn; cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ, xung cung nô bộc, thì tổn thất nặng, phần giữ lại được chẳng bao nhiêu.
Nếu lấy cung nô bộc làm cung vị "1" thì cung mệnh là cung vị đếm nghịch đến "6"; chiếu theo lẽ "nhất lục cộng tông" của Hà Đồ, khí trường của cung nô bộc và của cung mệnh tương ứng với nhau.
Vẫn lấy cung nô bộc làm cung vị "1" thì cung phu thê là cung vị đếm nghịch đến "8", nghĩa là cung phu thê chính là cung vị "tuyệt tình" của cung nô bộc.
Tứ chính của cung nô bộc gồm cung nô bộc, cung phúc đức, cung huynh đệ, cung tài bạch; tứ chính thuộc "thể", thuộc "tĩnh". Tam phương của cung nô bộc gồm cung nô bộc, cung phụ mẫu, cung tử nữ; tam phương thuộc "dụng", thuộc "động".
Cung vị "khí số" của cung nô bộc là cung tử nữ; đến lượt mình, cung nô bộc lại là cung vị "khí số" của cung phụ mẫu.
Theo phép chia mười hai cung thành bản cung và đối cung, khi cung nô bộc là bản cung thì cung huynh đệ là đối cung; "huynh nô" hợp lại thành một thái cực, và tuyến "huynh nô" mang tên tuyến "thành tựu".
Huyền nghĩa của cung nô bộc
Cái tên "nô bộc" dễ khiến người ta xem nhẹ; thật ra đây là cửa ngõ nơi tri thức, bệnh tật và cả đám đông quanh mệnh tạo cùng đi qua.
Từ cung nô bộc khởi đi ngược chiều kim đồng hồ, sẽ lần lượt gặp: cung nô bộc → cung quan lộc → cung điền trạch → cung phúc đức → cung phụ mẫu → cung mệnh. Chuỗi cung ấy ứng với: học tập từ thầy → tiếp thu kiến thức đã học → cảm thụ sâu sắc và tiêu hóa kiến thức → dựng nền tảng, chuẩn bị tâm lý trước khi đi làm → đạt được học vị, công danh, văn bằng, giấy tờ chứng nhận → hình tượng nổi bật. Đó là một tiến trình tuần tự từng bước, đi từ trong ra ngoài; trong tiến trình này, cung tật ách và cung nô bộc là cặp phối đôi âm dương giữa trong và ngoài.
Bệnh tật là một ví dụ dễ thấy. Cung tật ách thuộc phần nội tại, bệnh nằm trong cơ thể nên mắt thường không sao nhìn ra được. Cung nô bộc là phần dương của cung tật ách, chứng trạng khá rõ ràng, chủ về những bệnh chẩn đoán được nhờ quan sát từ bên ngoài, hoặc bệnh cũ sau phẫu thuật. Dưới góc nhìn của y học hiện đại, cung nô bộc chủ về những bệnh đã có bệnh sử, hoặc những chứng trạng đáng ngờ mà tự mệnh tạo cảm giác được, như bệnh tim mạch, đau đầu, đau dạ dày, trĩ, nhọt, rụng tóc, ghẻ lở, hắc lào, hoặc bệnh ngoài da…
Đẩu Số ứng dụng thuyết âm dương theo một thể thức rất hợp lý. Trong thể thức đó, cung nô bộc vừa là nguồn gốc của tri thức, học vấn, vừa biểu trưng cho những bệnh tật lộ rõ, vì cung nào cũng có thể vừa là dương vừa là âm. Do quá mới mẻ, quan niệm này thoạt nghe dễ gây cảm giác mơ hồ, song tìm hiểu kỹ sẽ thấy nó có lý. Kỳ thực đây là trí tuệ của các bậc tiên thánh thời cổ, được truyền thừa đã gần ngàn năm, là những kiến văn xưa cũ.
Khi cung điền trạch được xếp là dương thì cung nô bộc thuộc âm (hướng dương tính là hướng đi nghịch chiều kim đồng hồ; âm nam dương nữ thuộc hướng dương tính, dương nam âm nữ thuộc hướng âm tính). Dẫu vậy, thông thường vòng đi thuận chiều kim đồng hồ mới được coi là vòng tuần hoàn dương tính, bởi lộ trình ấy thông suốt, rõ ràng, vận hành ở phần ngoài cơ thể và đi từ ngoài vào trong; vòng đi nghịch chiều kim đồng hồ thì là vòng tuần hoàn âm tính, phần nhiều vận hành ở phần trong cơ thể và đi từ trong ra ngoài. Dương nam âm nữ hợp thái cực, do dương giữ vai chủ đạo nên mang hướng âm tính; âm nam dương nữ hợp thái cực, do âm giữ vai chủ đạo nên mang hướng dương tính.
Xếp cung nô bộc vào âm là vì, xét về kiến văn và tri thức, những gì thuộc cung này còn chưa được tiêu hóa, hấp thu, nghĩa là chưa qua suy xét, sàng lọc để mang ra vận dụng. Các sao ở cung điền trạch thì khác: chúng đã trải qua giai đoạn học tập, tiêu hóa, hấp thu tại cung quan lộc rồi mới tới cung điền trạch, tức đã trở thành "trí tuệ" được tôi rèn. Một bên là tri thức có tính ẩn thuộc cung nô bộc, một bên là trí tuệ có tính hiện thuộc cung điền trạch; lý phối đôi âm dương của hai cung này nằm ở chỗ đó.
Thế thì vì sao khi phối đôi với cung phụ mẫu, cung điền trạch lại thuộc âm? Đó là một câu hỏi khác, thuộc về lý phối đôi của cung điền trạch với cung phụ mẫu. Thuyết cung đối ứng cũng giữ vị trí khá quan trọng trong Bắc phái Tử Vi Đẩu Số; đem thuyết âm dương, trong ngoài, thể dụng hoặc đối ứng ra luận giải các cung là cách làm rất hợp lý. Cặp cung huynh đệ và cung nô bộc là một ví dụ: cung huynh đệ chỉ anh em cùng huyết thống với mệnh tạo, cung nô bộc chỉ đại chúng nói chung; người ở cung huynh đệ là người thân đã biết rõ, người ở cung nô bộc là thầy, là bạn, là kẻ làm công cho mệnh tạo, nhìn chung đều là những người không biết rõ.
Thuyết âm dương gọi cái mông lung, không rõ ràng là "âm", gọi cái lộ rõ, dễ thấy là "dương". Tuy nhiên, một khi phân biệt từ góc độ bệnh tật có tính hiện thì cung nô bộc lại là "dương", bởi nó ứng với thứ bệnh tật mà mệnh tạo cảm nhận được, đã biết hoặc đã lộ rõ; cung huynh đệ là "âm", bởi nó là cung vị quan lộc (cung vị khí số) của cung tật ách, tức chỉ hướng về "thể chất" của mệnh tạo.
Bàn đến âm dương còn cần biết thêm một điều: cung có chính tinh tọa thủ là "dương", cung vô chính diệu là "âm". Lý do là ở cung dương tính, có thể quan sát ý tượng cơ bản của chính tinh mà biết bản lĩnh của nó; cung vô chính diệu thì mang tính ẩn, nội hàm thật sự rất khó biết, vì thế thuộc "âm".
| Điền Trạch Tị Cự Môn | Quan Lộc Ngọ Liêm Trinh Thiên Tướng | Nô Bộc Mùi Thiên Lương | Thiên Di Thân Thất Sát |
| Phúc Đức Thìn Tham Lang | Tật Ách Dậu Thiên Đồng | ||
| Phụ Mẫu Mão Thái Âm | Tài Bạch Tuất Vũ Khúc | ||
| Mệnh Dần Tử Vi Thiên Phủ | Huynh Đệ Sửu Thiên Cơ | Phu Thê Tí Phá Quân | Tử Nữ Hợi Thái Dương |
| Mệnh Tị Tử Vi Thất Sát | Phụ Mẫu Ngọ Vô chính diệu | Phúc Đức Mùi Vô chính diệu | Điền Trạch Thân Vô chính diệu |
| Huynh Đệ Thìn Thiên Cơ Thiên Lương | Quan Lộc Dậu Phá Quân Liêm Trinh | ||
| Phu Thê Mão Thiên Tướng | Nô Bộc Tuất Vô chính diệu | ||
| Tử Nữ Dần Thái Dương Cự Môn | Tài Bạch Sửu Vũ Khúc Tham Lang | Tật Ách Tí Thiên Đồng Thái Âm | Thiên Di Hợi Thiên Phủ |
Bởi lẽ đó, tổ hợp "Tử Vi, Thiên Phủ" ở Dần hoặc Thân có vận trình mệnh lý dễ biết, do mệnh vận khá bình ổn, như bảng mệnh bàn thứ nhất ở trên cho thấy. Trái lại, với tổ hợp "Tử Vi, Thất Sát" ở cung Tị hoặc Hợi, mệnh bàn có quá nhiều cung vô chính diệu như ở bảng mệnh bàn thứ hai, đầy ẩn số, khiến một đời thăng trầm, chìm nổi với biên độ rất lớn; khi luận giải, đây là loại mệnh bàn khá thú vị.
Cầu nối từ cung thiên di đến cung quan lộc
Cung nô bộc bao hàm một phạm vi khá rộng. Bên cạnh lớp nghĩa do chính cái tên "nô bộc" gợi ra, cung này còn là cầu nối từ cung thiên di đến cung quan lộc. Cung thiên di chứa đựng nhiều loại hiện tượng của quá khứ và hiện tại, từ lịch sử, văn hóa, văn minh… cho tới những hiện tượng được các giác quan cảm nhận tức thì; đó cũng là ý thức về lý tưởng, mục tiêu của tương lai, và là cung biểu trưng cho chí hướng, nguyện vọng của mệnh tạo. Khi một người "dịch động", từ cung thiên di mà quan sát sẽ thấy được mục đích cùng cảnh ngộ mà mệnh tạo có thể gặp trong tương lai.
Có thể ví cung thiên di như biển lớn; muốn đưa nước vào cung quan lộc, con người chỉ có một cách là dẫn nó đi ngang qua cung nô bộc. Đây đồng thời là thông đạo của "thức ăn tinh thần". Bởi thế, không chỉ là "nô bộc", cung nô bộc còn là "thầy", "đàn anh", "bạn học", cho đến tất cả những gì có khả năng cung cấp kiến văn, tri thức, phong tục dân tình… để đưa vào trạm trung gian là cung quan lộc; không nên xem thường cung này. Cũng vì vậy, khi cung nô bộc chỉ về hướng sinh mệnh thể thì nó gồm cả những người không có quan hệ huyết thống như bạn bè (bạn tốt lẫn bạn xấu), đồng sự, bạn học, thầy dạy…
Tri thức, học vấn chảy thành dòng: khởi từ cung thiên di, đi qua cung nô bộc rồi đến cung quan lộc; tại cung quan lộc, sau khi được tiêu hóa, hấp thu, nó trở thành "trí tuệ". Vậy gặp trường hợp cung nô bộc là "cung vô chính diệu" thì luận giải thế nào cho hợp lý? Có nên mượn các sao ở đối cung (cung huynh đệ) để làm dụng chăng? Cách xử lý phải tương tự trường hợp cung mệnh vô chính diệu. Có điều cần đặt một câu hỏi: nếu cung nô bộc vô chính diệu mà can cung lại khiến sao ở cung huynh đệ Hóa Kị, thì chẳng lẽ các sao mượn dùng của cung huynh đệ lại bị chính cung huynh đệ "đánh" hay sao?
Vật tụ tập theo loài
Khi xem mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, cung nô bộc thường bị coi nhẹ; kỳ thực nó quan trọng chẳng kém bất kỳ cung chức nào khác. "Chu Dịch đại truyện" có câu:
Vật dĩ loại tụ.
Câu ấy có nghĩa là vật tụ tập theo loài. Từ cung nô bộc có thể đoán đại khái mệnh tạo là nhân vật thế nào, bởi xét đến cùng, những người đã xuất hiện trong mệnh bàn của mệnh tạo thì ắt có quan hệ mật thiết với mệnh tạo. Vì thế, cung nô bộc có khí thế mạnh chưa hẳn là điều xấu; chỉ xấu khi hung tinh tụ tập ở cung nô bộc, lại thêm Hóa Kị tọa thủ. Kết cấu dạng này cho thấy mệnh tạo bị người khác lấy làm mục tiêu để nhắm tới.
Theo cổ nhân, người có "Tử Vi, Thiên Phủ" tọa thủ cung nô bộc thì đi đâu cũng có bạn bè hiển đạt nghênh đón, hoặc có người giàu có tiếp đãi, vì vậy lại càng cảm thấy khổ sở nhiều hơn… Thời hiện đại thì khác: ai cũng rất mong có bạn bè chức cao quyền trọng, bởi nhờ đó thể diện của mình tăng thêm, được tiếng thơm lây, lại có cơ hội nhờ cậy, được giúp đỡ, chiếu cố, đề bạt.
Cung huynh đệ và cung nô bộc đối nhau. Cung huynh đệ là "kho tiền", đồng thời là cung vị khí số của cung tật ách. Do đó khi cung nô bộc có Hóa Kị (cung nô bộc là "tha cung", nên Hóa Kị ắt xung kích đối cung là cung huynh đệ), một số hiện tượng sẽ xảy ra: anh em của mệnh tạo có nạn; "kho tiền" bị xung tức là bị "phá tài"; thân thể dễ gặp tai ách hoặc bệnh tật bất ngờ. Cả ba hiện tượng ấy đều có khả năng xảy ra, song điểm then chốt mang tính quyết định là Hóa Khoa nằm ở cung nào. Hóa Khoa ở "tha cung" thì trước hết phải xét vấn đề sức khỏe cơ thể, và có thể loại trừ giả thiết anh em có nạn. Ngược lại, Hóa Khoa nhập "ngã cung" thì anh chị em của mệnh tạo nên chú ý bảo trọng, lưu ý vấn đề an toàn.
Cung truyền đạt kiến thức, tầm nhìn đến mệnh tạo
Cung thiên di là cửa ngõ của tầm nhìn, của kiến thức; cung nô bộc thì đảm nhận công dụng truyền đạt, lo việc chuyển giao thông tin, tri thức… cho mệnh tạo. Như vậy, theo nghĩa hẹp cung nô bộc là "bạn bè", theo nghĩa mở rộng nó là cung làm cầu nối, đưa kiến thức, tầm nhìn, tin đồn… đến với mệnh tạo. Xét về âm dương ứng đối, cung tật ách có tính ẩn, tiềm tàng, không nhìn thấy được, là "cái tôi" không sờ được. Cung nô bộc thì có tính hiện, có đối tượng cụ thể, nhìn thấy được, là "người nào đó" hay "nhóm người nào đó" cụ thể. Thêm nữa, tổ hợp sao ở cung nô bộc biểu trưng cho thứ mà mệnh tạo không có.
Không kể các chính tinh ở "ngã cung", các sao phân bố ở những cung còn lại đều có quan hệ gia đình hay huyết thống với mệnh tạo (cung phu thê, cung phụ mẫu, cung huynh đệ, cung tử nữ); riêng chính tinh ở cung nô bộc là không có mối quan hệ kiểu này. Tuy vậy, về công dụng, sức ảnh hưởng và "số người", cung nô bộc có thể vượt các cung khác; từng cá nhân trong cung nô bộc đều mang công dụng của "ngã cung" đến "tiếp xúc" mệnh tạo (cung vị tài bạch của cung nô bộc và cung vị quan lộc của cung nô bộc đều nằm ở vị trí của "tha cung").
Để xem tai ách, bệnh tật xảy ra bất ngờ, cổ nhân thường dùng trường hợp cung nô bộc của đại vận xung kích cung nô bộc của thiên bàn, phối hợp với tình hình ở cung huynh đệ là cung vị khí số của cung tật ách (mà cung nô bộc là đối cung của cung huynh đệ). Cung nô bộc là hình ảnh phóng đại của cung mệnh cộng với cung tật ách, thành thử công dụng và lực tác động của nó ảnh hưởng rất lớn đến mệnh tạo. Lại vì cung nô bộc phối đôi với cung tật ách nên tình hình bệnh tật cũng có thể tìm hiểu từ cung nô bộc.
Nhiều khi mệnh tạo và nhóm người trong cung nô bộc gặp nhau theo nguyên lý "vật dĩ loại tụ", nhưng cũng có khi gặp nhau ở thế đối lập; trong cung nô bộc có thể có quý nhân, mà cũng có thể có kẻ thù không đội trời chung. Thế nên thiếu sự phân tích tinh tế thì người được coi là "bạn tốt" rất có thể khiến mệnh tạo chịu không nổi; đáng tiếc hơn nữa là làm cho bạn tốt thật sự hay "quý nhân" trở nên lạnh nhạt với mệnh tạo. Không tìm hiểu kỹ can cung nô bộc phi hóa nhập vào những cung nào thì rất khó phân biệt đâu là bạn xấu, đâu là bạn tốt.
Bởi "Tử Vi, Thiên Phủ" ở cung nô bộc không phải lúc nào cũng chủ về có quý nhân; khi Tử Vi, Thiên Phủ đối xử bạo ngược với mệnh tạo thì họ cũng chẳng khác gì bạo chúa. Hung tinh ở trong cung nô bộc cũng không phải lúc nào cũng chủ về có tiểu nhân, kẻ gian tà trong số bạn bè; rất có thể chính mệnh tạo cũng giống như họ, bởi lẽ "vật dĩ loại tụ".
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
