Bài tổng quan
Cung thiên di: cánh cửa tiền đồ và nghề người phối ngẫu
Cung thiên di không chỉ nói chuyện đi xa hay xuất ngoại; đó là cung mệnh đặt ở bên ngoài, là nơi lòng người hướng tới và là cửa ngõ dẫn vào thế giới mà mệnh tạo chưa biết. Từ hàm nghĩa, huyền nghĩa cho đến từng chính tinh tọa thủ, Tứ Hóa phái đọc ở cung này chí hướng, tiền đồ của một đời người. Cũng từ đây, người luận mệnh còn thấy được nghề nghiệp và dáng dấp của người phối ngẫu.
Hàm nghĩa cơ bản của cung thiên di
Nếu cung mệnh là con người ở bên trong thì cung thiên di chính là cung mệnh được đem đặt ra bên ngoài. Mệnh vốn là tính; cá tính ấy in dấu lên những người mà mệnh tạo tiếp xúc, và chính mức ảnh hưởng của mệnh tạo lên thế giới bên ngoài sẽ làm cho năng lực cùng hiệu quả thành tựu của họ được mở rộng thêm.
Những "biến thiên" diễn ra ở bên ngoài cung mệnh đều do cung thiên di chủ quản. Chữ "biến" nói về biến động, bao hàm những số ẩn, biến số của một đời người; chữ "thiên" nói về sự dời chuyển: dịch mã, du lịch, di dân. Xét tổ hợp tinh diệu đóng tại cung thiên di thì biết được chuyện đi xa, du lịch ra sao, vận dời nhà thế nào, duyên với người ngoài dày hay mỏng và sẽ gặp những cảnh ngộ gì.
Cung này còn mang tên cung cơ hội, vì mọi cơ hội trong đời đều quy về đây: cơ hội xuất ngoại lành hay dữ, được gì mất gì, duyên với người ngoài thế nào, quý nhân có xuất hiện hay không, hậu thiên tạo hóa ra sao.
Vận về già cũng xem ở cung thiên di. Cung này phản ánh cảnh huống của mệnh tạo khi tuổi đã xế chiều: lúc ấy là họa hay phúc, âm đức có tốt không, cơ hội tốt có bị tiểu nhân cản phá hay không.
Hoàn cảnh bên ngoài của một đời người do cung thiên di đại biểu, tức là những nơi chốn mệnh tạo đặt chân tới và những cuộc gặp gỡ ngoài xã hội, chẳng hạn gặp quý nhân hay gặp tiểu nhân.
Có thể coi cung thiên di là cung phu thê thứ hai: duyên phận hôn nhân sâu hay cạn, vợ chồng cư xử với nhau tốt hay xấu, tình trạng tương giao giữa hai người ra sao đều xem được ở đây.
Đặt cung thiên di vào cung vị "1" rồi đếm nghịch thì cung vị "6" rơi vào cung phụ mẫu; chiếu theo lẽ "nhất lục cộng tông" của Hà Đồ, khí trường của cung thiên di và cung phụ mẫu tương ứng với nhau.
Cũng từ cung vị "1" là cung thiên di, đếm nghịch đến "8" thì gặp cung huynh đệ; do đó cung huynh đệ chính là cung vị "tuyệt tình" của cung thiên di.
Tứ chính của cung thiên di gồm bốn cung: cung thiên di, cung điền trạch, cung mệnh và cung tử nữ; tứ chính thuộc về "thể", về "tĩnh". Tam phương của cung thiên di gồm ba cung: cung thiên di, cung phúc đức và cung phu thê; tam phương thuộc về "dụng", về "động".
Cung phu thê là cung vị "khí số" của cung thiên di; còn bản thân cung thiên di lại giữ vai cung vị "khí số" của cung phúc đức.
Trong mười hai cung, cung nào cũng có bản cung và đối cung. Lấy cung thiên di làm bản cung thì đối cung là cung mệnh; hai cung "thiên, mệnh" gộp lại thành một thái cực, và tuyến "mệnh, di" chính là tuyến "hoạt động".
Huyền nghĩa của cung thiên di
Những hàm nghĩa nền tảng ấy mới là lớp vỏ; phía sau cánh cửa thiên di còn cả một không gian của tri thức, chí hướng và những lực đẩy vô hình.
Lịch sử, văn hóa, tri thức, cho đến cả phong tục dân tình… mọi dòng chảy ấy đều có mặt trong cung thiên di. Thế nhưng phần tri thức mà một cá nhân thu nhận được thì lại đi qua cung nô bộc: ngay cả khi nhờ đọc sách báo mà biết, thì sách báo ấy vẫn do các học giả, chuyên gia viết ra hoặc giảng giải. Người thuộc cung nô bộc gồm cả người đương thời lẫn cổ nhân, cả đàn ông lẫn phụ nữ… Nhìn theo một hướng khác, cung nô bộc chứa cả người xấu, có khi là bạn xấu, lẫn người tốt, có khi là người giúp ích được cho mệnh tạo. Trong số đó, dĩ nhiên có bạn tri kỷ và cũng có những người chỉ giao du qua loa.
Các sao đóng ở cung thiên di tựa như đường dây giao lưu nối mệnh tạo với hoàn cảnh bên ngoài, kể cả thế giới tự nhiên, rộng ra là toàn thể vũ trụ. Đứng từ lập trường của cung mệnh mà nhìn, đây là nơi lòng mệnh tạo hướng tới, là viễn cảnh của lý tưởng, là chí hướng và mục tiêu mà mệnh tạo nhắm đến; đồng thời cũng là hoàn cảnh đang bày ra trước mắt. Khi có hung tinh chen vào thì hung tinh ấy đại biểu cho trở lực, cho lực phá hoại, tức thứ sức mạnh khiến mộng ước của mệnh tạo không sao thành, mục đích không sao đạt.
Lực "dịch động" lớn hay nhỏ cũng do các sao ở cung thiên di đại biểu. Sao ở cung thiên di mà lớn hơn sao ở cung mệnh thì lực "dịch động" mạnh; điển hình hơn cả là trường hợp cung thiên di có Hóa Quyền, hoặc cung mệnh vô chính diệu.
Gặp cung thiên di vô chính diệu thì lực "dịch động" mang tính bị động: mục tiêu đời người thường là do người khác nêu ra, dựng lên hoặc làm cho thay đổi, không phải do mệnh tạo tự mình chủ động xác lập. Lúc bình thường, họ ít khi chủ động thay đổi chí hướng hay mục tiêu. Nhược điểm của họ là dễ nghe theo lời người khác xúi giục, hoặc ngược lại bài xích đến mức cực đoan; nghĩa là khi vừa tiếp nhận thông tin, "cảm xúc" của họ không giống người bình thường. Nhìn theo mặt tích cực thì đó là thái độ khách quan; nhìn theo mặt tiêu cực thì đó là thái độ thiếu lập trường, khó mà hình thành được kiến giải chính xác ngay từ thời gian đầu.
Vì cung phu thê là cung vị khí số của cung thiên di, người đã lập gia đình tuyệt đối không nên cãi vã với người phối ngẫu trước lúc lên đường đi xa, bởi chuyện đó sẽ tác động xấu đến chuyến đi.
Cung thiên di có Tả Phụ, Hữu Bật
Tả Phụ, Hữu Bật ở đây là nguồn trợ lực cho vận đi xa và cho sự "dịch động" (không nên hiểu là xuất ngoại gặp quý nhân); tức là chúng bồi thêm sức mạnh để gạt bỏ những chướng ngại trên đường đi xa.
Khi mệnh tạo đi xa hoặc "dịch động", hai sao này khiến cơ hội thành công cao hơn; có vấp phải trở lực thì cũng mở ra được một cơ hội khác. Hữu Bật chủ về trí tuệ khá tốt, Tả Phụ chủ về sự trầm tĩnh, ổn định; nhờ phẩm chất ấy mà cuộc hành trình được thu xếp viên mãn.
Theo chiều hướng tích cực, mệnh tạo sẽ có dịp vươn ra ngoài giới hạn vốn có để phát triển hoặc thu hoạch.
Sức mạnh của các sao ở hai cung kế cận có thể được Tả Phụ, Hữu Bật kết nối hoặc gom tụ lại theo hướng cát lợi; vì vậy, nếu bảo rằng có quý nhân trợ giúp thì phải hiểu đúng theo nghĩa "tự giúp mình rồi trời giúp".
Cung thiên di là "ngã cung" hay "tha cung"?
Cung thiên di được xem là "ngã cung" khi trong cung có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa; ngược lại, khi trong cung có Hóa Kị thì nó được xem là "tha cung".
Đối với cung tài bạch, cung thiên di là cung vị phu thê. Nếu xác định cung tài bạch là cung vị biểu hiện của mệnh tạo thì cung thiên di trở thành "đối tượng phối đôi" của cung tài bạch, nghĩa là hai bên liên quan với nhau theo kiểu một bên "cho", một bên "nhận". Nếu xác định cung tài bạch là cung vị giao dịch thì cung thiên di là đối tượng giao dịch; chữ "phối đôi" được dùng vì hàm ý âm dương viên mãn. Do đó, ngay từ cung thiên di có thể tìm ra đối tượng hoặc sự việc đối ứng với biểu hiện và công dụng của cung tài bạch, nhờ vậy công dụng của cung tài bạch được viên mãn. Cũng vì thế mà tác dụng và công dụng của cung thiên di khá rộng; chẳng hạn bàn đến chuyện nghiên cứu thì đáp án cũng có thể tìm ở cung thiên di.
Những điều vừa nêu là phần luận giải mở rộng về tính chất "tha cung" của cung thiên di trong mệnh bàn, có đụng đến những vấn đề mà rất khó lấy cung này để lập thái cực (làm chuẩn). Lý do là cung thiên di vốn là không gian tồn tại của tri thức, văn hóa… của nhân loại. Tuy nhiên, khi thu hẹp phạm vi vào trong thể chế mệnh bàn và đặt cạnh cung tật ách để so sánh, thì cung thiên di là chỗ tàng chứa "hiển ý thức"; cung tật ách thì cất chứa những gì sâu thẳm nhất của tâm hồn, theo ngôn ngữ hiện đại là chỗ tàng chứa tiềm ý thức hay vô thức.
"Hiển ý thức" trong mệnh bàn được định nghĩa là ý thức của mệnh tạo về tiền đồ, về mục tiêu lý tưởng và chí hướng dành cho tương lai; nó cũng có thể là những tình huống bối rối, lúng túng, khó xử mà mệnh tạo phải đương đầu, cùng các trở lực mà mệnh tạo ý thức được. Đem ý nghĩa này ra lập thái cực thì phân tích được tình hình thực hiện tâm nguyện, hoặc tình hình lúc gặp phiền phức.
Song cung thiên di vốn là cung để luận đoán lực dịch động, chuyện đi công tác xa, thậm chí di dân…; bởi vậy dù lấy nó lập thái cực thì vẫn phải trở về mệnh bàn nguyên cục mới luận đoán được cảnh ngộ của mệnh tạo nơi xứ lạ. Còn nếu đem cung nô bộc "biến thành" cung vị huynh đệ của cung thiên di thì không có cách nào luận giải.
Thêm nữa, cung thiên di và cung tài bạch là hai cung âm dương phối đôi, nên khi cung tài bạch có vấn đề thì câu trả lời có thể tìm ở cung thiên di. Nếu hành vi của cung tài bạch là "bán thứ gì đó" thì cung thiên di là "mua thứ gì đó"; vì trong "vòng tròn thái cực", cung thiên di là "một nửa", cung tài bạch là "một nửa kia". Cung thiên di lại còn là cung vị giao dịch của cung phu thê; tức là khi hôn nhân đã thành lập, nó sẽ phát huy tác dụng trên một "phạm vi" cực lớn, chẳng hạn còn dùng được để luận giải năng lực ứng xử cảm xúc cao hay thấp.
Định nghĩa về cung thiên di vừa thuật ở trên đòi hỏi phải điều chỉnh một số quan niệm về bố cục sao và tứ hóa năm sinh cho phù hợp, trước khi bàn đến hiện tượng cung thiên di tự hóa và phi hóa.
Cung thiên di phi hóa nhập cung tài bạch
Đường đi từ cung thiên di phi hóa sang cung tài bạch là một quỹ tích thuận chiều kim đồng hồ. Quỹ tích thông thường thì khác: những kiến văn, tri thức chưa kịp hiểu thấu sẽ từ cung thiên di đi đến cung tật ách và lắng đọng lại ở đó. Việc từ cung thiên di băng qua cung tật ách mà nhập thẳng cung tài bạch không phải là lộ trình quen thuộc của dòng tri thức. Cung thiên di và cung tài bạch đều không phải cung chỉ về người, nên lối điều tiết hành vi này không liên can gì đến dục tình của con người.
Cung thiên di là kho chứa kiến văn, tri thức xưa nay, là dòng truyền thừa lịch sử và văn hóa. Sứ mệnh ấy tuy hệ trọng, song không có con người làm nhân tố động lực thúc đẩy thì tự nó chẳng thể "chủ động" bay về phía cung tài bạch. Bởi vậy, nhìn từ góc độ "cung thiên di phối đôi âm dương với cung tài bạch" mới hợp logic suy diễn: hai cung có quan hệ đối ứng với nhau. Dù vậy, hiện tượng này vẫn chỉ về một sức mạnh không rõ lai lịch, tựa hồ có thần tiên phù trợ; tức là lời nói, cử chỉ của mệnh tạo dường như đang nhận lấy một nguồn lực vô danh từ vũ trụ rót xuống.
Cung tài bạch là cửa ngõ đối ngoại của mệnh tạo, cũng là cửa ngõ của việc kiếm tiền mưu sinh; vì thế nguồn lực ấy bay về phía cung tài bạch, khiến các sao trong cung phát sinh tác dụng và năng lực hành động được đánh thức. Xét theo tinh diệu trong cung, thứ linh động lực này ứng với cung thiên di vô chính diệu, hoặc cung thiên di có Tham Lang, Thiên Cơ, Vũ Khúc. Cũng theo lẽ ấy, cung thiên di phi hóa nhập cung quan lộc là khai mở linh động lực đến từ đại tự nhiên, làm cho mệnh tạo chuyên tâm vào việc nghiên cứu.
Tâm nguyện, chí hướng, lý tưởng của mệnh tạo nằm ở cung thiên di; trong cung mà có sao Hóa Kị hoặc hung tinh thì đó là trở lực tồn tại song song với chính tinh. Tiềm ý thức tàng chứa ở cung tật ách, còn "hiển ý thức" thì do cung thiên di chủ. Từ góc độ này, hiện tượng cung thiên di phi hóa nhập cung tài bạch được giải thích là lúc "tâm nguyện biến thành lực hành động"; tức là ý thức hay ý chí đã thúc mệnh tạo bắt tay vào hành động thực tế. Căn cứ xu hướng sức mạnh của mệnh tạo và "thùy tượng" của cung phi hóa mà phân tích thì có bốn trường hợp sau.
Thứ nhất, cung thiên di phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch: đường kiếm tiền rộng mở thêm. Mệnh tạo tiếp xúc với hoàn cảnh bên ngoài nhiều hơn; cư xử với mọi người nhiệt tình nên quan hệ giao tế tăng, duyên với người chung quanh cũng tốt lên; ý niệm kiếm tiền theo đó mà nảy sinh.
Thứ hai, cung thiên di phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch: mệnh tạo làm việc tích cực hơn, gánh vác trách nhiệm bằng thái độ nghiêm túc, hướng nghề nghiệp được xác định rõ ràng; lực hành động mạnh thêm; lời ăn tiếng nói, cử chỉ của bản thân được họ rất mực lưu tâm; lời nói cũng trở nên sắc bén hơn.
Thứ ba, cung thiên di phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch: thái độ làm việc trở nên hợp lý hơn, mệnh tạo cứ chiếu theo chế độ, phép tắc mà làm, hành sự thận trọng nên ít khi sai lầm; họ yên phận với nghề đang có, hoặc trở về nghề cũ.
Thứ tư, cung thiên di phi Hóa Kị nhập cung tài bạch: về tiền bạc, mệnh tạo thiếu cảm giác an toàn, vì vậy ý niệm kiếm tiền nảy sinh rất mạnh mẽ; có thể bị cuốn vào chuyện thị phi, hoặc lao vào một môi trường làm việc đầy thị phi rắc rối để kiếm tiền; lối đối nhân xử thế trở nên khá thực dụng, nặng về tư lợi.
Khi cung thiên di gặp hung sát
Trục chính của mệnh bàn là cung thiên di và cung mệnh. Trục này là nhân tố thúc đẩy mệnh tạo "dịch động", là điều mệnh tạo cảm nhận và phán đoán về tiền đồ, đồng thời là niềm hy vọng, khát vọng mà mệnh tạo gửi vào tương lai.
Cũng như mọi cung chức khác, cung thiên di tất nhiên có công năng phái sinh. Khi các hung sát như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh đóng ở cung thiên di thì không chủ về vận xuất ngoại xấu mà mang những hàm nghĩa khác. Thứ nhất, nhân tố "dịch động" bị phá hoại, phẩm chất bình thường của lực dẫn động bị ảnh hưởng, bởi hung sát tinh phá hoại tính hoàn chỉnh của chính tinh. Thứ hai, trên đường tiền đồ tương lai của mệnh tạo sẽ có trở lực, lực phá hoại và áp lực. Thứ ba, mệnh tạo không hình dung nổi một viễn cảnh tương lai tốt đẹp, không dựng lên được một lý tưởng hoàn mỹ để theo đuổi; nguyên do có thể là thiếu lý tính, là trí phán đoán sai lầm, hoặc là bản thân mệnh tạo ý thức được, thấy được, cảm nhận được hiện tượng này.
Các hiện tượng kể trên chưa phải là cát hung họa phúc xảy ra thực sự. Bởi thế, không có căn cứ nào để nói rằng cung thiên di có sao hung thì vận xuất ngoại ắt kém, ắt không có duyên với người; càng không thể đoán là sẽ gặp tai nạn giao thông. Muốn luận đoán chính xác thì ngoài các sao tọa thủ cung thiên di còn phải xét đến cung vị giao dịch của nó là cung phúc đức của thiên bàn, để lượng định lực tạo tác của mệnh tạo khi ở bên ngoài cũng như khi đối diện cảnh tiền đồ bị tắc nghẽn. Còn để đoán đúng cát hung họa phúc của vận ở bên ngoài, vận xuất ngoại, thì phải xét từ cung vị khí số của nó là cung phu thê của thiên bàn, dùng cung này làm căn cứ luận giải thành quả của hành vi tạo tác ấy.
Cung vị giao dịch và cung vị khí số
Một khi đã hiểu cung vị khí số trọng yếu đến đâu thì lúc luận giải mệnh bàn không thể chỉ căn cứ vào tính chất các sao trong một cung; các sao ở tam phương "mệnh, tài, quan" đều có tầm quan trọng ngang nhau, nghĩa là cung vị giao dịch và cung vị khí số đều phải được xem xét tỉ mỉ.
Nói về công năng phái sinh, có thể lấy việc luận kết cấu tốt xấu của cung phúc đức làm ví dụ. Ngoài tính chất các sao ở cung phúc đức, còn phải xem cách nó biểu hiện, tức các sao tọa thủ cung phu thê, vì cung phu thê là cung vị giao dịch của cung phúc đức; lại phải xem nơi ngầm quyết định phẩm chất của cung phúc đức, tức cung thiên di, vì cung thiên di là cung vị khí số của cung phúc đức. Cung phúc đức còn là trạm điều tiết tâm sinh lý; thành quả của việc điều tiết ấy, hoặc phẩm chất cao thấp của thị hiếu hưởng thụ, giải trí, đều phải xem từ cung thiên di.
Khát vọng trong lòng mệnh tạo do sao tọa thủ cung thiên di đại biểu; đó là tiêu đích để nhắm tới, cũng là hoàn cảnh mà mệnh tạo phải đối mặt, bất kể đang xảy ra hay chưa xảy ra. Do đó không thể bó hẹp công năng của cung thiên di trong hiện tượng "dịch động"; đặc biệt khi hoạt bàn chuyển động thì công năng của nó càng hiện rõ. Chẳng hạn năm nay cung tật ách của lưu niên tích chứa nỗi buồn lo thầm kín, bệnh tật, tham vọng, hay tâm tình mơ tưởng được thoải mái, được như ý; thì sang năm, những điều ấy rất có thể trở thành hiện tượng phải đối mặt. Công năng của cung thiên di là ứng với thực tế, bởi cung tật ách của lưu niên năm nay sang năm sẽ chính là cung thiên di của lưu niên.
Vì lẽ đó cần đưa cung phi hóa vào việc luận giải. Ví dụ cung thiên di phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch thì người này có hành động thực tế để truy cầu lý tưởng, nguyện vọng. Lại giả thiết cung thiên di có Hóa Quyền năm sinh, đồng thời phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch, thì chủ về đi đến phương xa có thể toại nguyện, hoặc nhờ "dịch động" mà kiếm được tiền.
Luận đoán khuynh hướng nghề nghiệp và biểu hiện của người phối ngẫu cũng là một công năng phái sinh của cung thiên di. Biểu hiện của người phối ngẫu chưa hẳn là lực thúc đẩy mệnh tạo tiến tới, cũng chưa hẳn tạo ra nhân tố khiến mệnh tạo "dịch động"; thế nhưng cung thiên di lại là cung vị tài bạch (cung giao dịch) của cung phu thê, cho nên nó liên quan mật thiết với biểu hiện của người phối ngẫu.
Từ "thiên di" có nghĩa khá rõ: chỉ hiện tượng "dịch động", gồm đi xa, du lịch, thậm chí dời nhà…; từ đó người ta suy rộng thành "vận lúc ở bên ngoài hay xuất ngoại". Không ít người dựa vào các sao ở cung thiên di mà đoán cát hung của vận lúc ở bên ngoài hay xuất ngoại. Kỳ thực, để luận đoán tinh tế thì chẳng những phải lấy cung thiên di làm tiêu điểm (tức biến nó thành "cung mệnh", thuật ngữ đoán mệnh gọi là "lập thái cực"), mà còn phải phối hợp với cung vị giao dịch và cung vị khí số của nó; có như thế mới luận giải tinh tế được "vận lúc ở bên ngoài hay xuất ngoại", nếu không thì giỏi lắm cũng chỉ đoán trúng một phần ba sự thực.
Mệnh bàn do chính mệnh tạo "an bài"
Đối với cung phu thê, cung thiên di là cung vị tài bạch (cung vị giao dịch). Người chưa kết hôn thì chưa cần dùng đến lý thuyết này. Một khi đã kết hôn, các sao trong cung thiên di mang hai tầng nghĩa: tầng thứ nhất là những mong muốn, khát vọng của mệnh tạo, hoặc nguyên nhân dẫn tới tình hình "dịch động"; tầng thứ hai là khuynh hướng nghề nghiệp và hành vi biểu hiện của người phối ngẫu.
Cần nhớ rằng các sao ở cung thiên di đã định vị sẵn từ trước khi mệnh tạo thành thân. Kể cả khi mệnh tạo chưa lập gia đình, thậm chí chưa có bạn trai bạn gái, thì cung phu thê vẫn đã có các sao tọa thủ, và các sao trong cung vị khí số của cung phu thê (tức cung phúc đức) cũng đã bố trí xong xuôi. Thế nên tình huống trước và sau hôn nhân đều đã được mệnh tạo an bài từ sớm. Người phối ngẫu giữ "vai trò" gì, có biểu hiện gì (cung thiên di), vợ chồng hòa hợp hay cãi vã không dứt, có người thứ ba hay không (cung phúc đức)… hết thảy đều do mệnh tạo "an bài", khi thì có ý thức, khi thì trong vô thức. Vì vậy, chỉ cần nhìn kết cấu mệnh bàn là biết "mệnh tạo" đã "tạo mệnh" cho mình ra sao!
Mười hai cung trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số là những mắt xích liên hoàn, và trong bộ ba "mệnh, tài, quan", mỗi cung là một mặt của "nhất thể tam diện". Do đó, muốn xác định rõ ý tượng của cung thiên di thì nhất thiết phải nắm vững ý nghĩa cùng công năng của trục chính "mệnh di". Có hung tinh ở cung thiên di cũng không chủ về vận lúc ở bên ngoài hay xuất ngoại bất lợi, mà chủ về không "dịch động" xuất ngoại, tức là nhân tố "dịch động" xuất ngoại bị "phá hoại". Lực phá hoại ấy chẳng phải của người nào khác, cũng không do ý trời, mà thuộc về chính mệnh tạo; vì hung tinh là do mệnh tạo đặt định vào mệnh bàn, và xét đến cùng thì mệnh bàn này do chính mệnh tạo tạo ra!
Cung thiên di vô chính diệu
Khi cung thiên di vô chính diệu, có phải mượn các sao ở cung mệnh làm dụng hay không? Cung vô chính diệu vốn là cung chứa nhiều biến số ly kỳ, nên cung thiên di vô chính diệu cũng lắm "biến số". Có khi là thường xuyên phải đi xa; có khi vốn không rảnh để đi, không có cơ hội đi xa; có khi chuyện đi xa chẳng mang ý nghĩa gì với mệnh tạo; lại có khi là đi xa có điều bất tiện, có nỗi lo thầm kín không nói ra được.
Phạm vi vừa lớn vừa rộng đến thế thì làm sao xem được cát hung họa phúc của hành hạn xuất ngoại? Trước tiên phải phân tích phối hợp với các sao ở cung phu thê, kế đó xem các sao ở cung phúc đức, sẽ định được đây là trường hợp không đi xa được hay trường hợp thường hay đi xa. Giả thiết tinh hệ "Sát Phá Tham" tọa thủ cung phúc đức thì là thường hay đi xa; có thêm Hóa Kị thì mục đích chuyến đi có thể là giải quyết việc phiền phức, thuộc về nhiệm vụ chứ không phải du lịch.
Gặp cung phu thê vô chính diệu, mệnh tạo chắc chắn sẽ lo mình không có bạn trai (bạn gái); đã thành thân rồi thì sau khi kết hôn vẫn gặp sóng gió, trắc trở, phiền phức. Đại đa số người cung phu thê vô chính diệu chịu sóng gió, không được thuận lợi toại ý trong tình cảm nhiều hơn người khác. Cung thiên di vô chính diệu thì phải luận theo cách khác, bởi cung thiên di không phải cung lục thân, hơn nữa mệnh tạo còn là chủ nhân của cung thiên di. Vì vậy ý tượng của trường hợp này cũng có thể là "đi xa hay không đi xa đối với mệnh tạo không có ý nghĩa gì đặc biệt"! Còn nếu đứng ở góc độ cung mệnh mà lập luận thì đó là cách mệnh tạo nhìn về tiền đồ tương lai sẽ thay đổi theo thời gian, không có hoài bão gì to tát, cũng chẳng có chí hướng gì!
Phối hợp với cung phu thê để đoán cát hung lúc đi xa
Cát hung họa phúc lúc ở bên ngoài hay lúc đi xa thường được đoán bằng cung thiên di. Làm vậy thì quá đơn giản; muốn đoán việc này còn phải phối hợp với cung phu thê, là cung vị khí số của cung thiên di. Hoàn cảnh bên ngoài do các sao ở cung thiên di đại biểu. Có Địa Kiếp và Địa Không giáp cung thì chủ về đi xa gặp khó khăn, cũng có thể vì "biến số" lâm thời mà không sao đi xa được. Có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung thì vì mục đích của chuyến đi mà bị hoàn cảnh bên ngoài đãi ngộ không tốt. Có hung tinh tọa thủ cung thiên di thì chủ về việc hoàn thành sứ mệnh khó thêm; song giả thiết cát tinh tụ tập ở cung phu thê thì dẫu khó khăn trùng trùng, cuối cùng sứ mệnh vẫn hoàn thành, tất nhiên không tránh được khó nhọc, vất vả.
Lại giả thiết cung thiên di cát tinh la liệt mà cung phu thê hung tinh tụ tập: người này đến đất khách thì chủ khách vui vẻ ăn uống; hoặc bỏ bê việc chính, chỉ theo đuổi những chuyện ngoài lề; hoặc chìm đắm trong sắc tình ở bên ngoài mà quên cả công việc. Cụ thể ra sao thì xem ở cung phu thê sẽ rõ. Giả thiết cung phu thê có Hóa Kị, Hóa Kị ấy trực xung cung quan lộc, rất có thể sau chuyến được sai phái đi công tác vui vẻ, mệnh tạo sẽ bị sa thải! Cách hình dung này có phần phóng đại, nêu ra là để cảnh giới.
Cung thiên di có tứ hóa năm sinh, cung mệnh vô chính diệu
Cung thiên di có Hóa Kị năm sinh mà cung mệnh vô chính diệu là dạng kết cấu xem ra không tốt, vì Hóa Kị trực xung cung mệnh, đem tai ách đến cho mệnh tạo. Với người cung mệnh vô chính diệu, bản vị nằm ở cung tật ách, nhưng đa phần họ dễ chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài, trong đó ấn tượng đầu tiên tác động đến mệnh tạo rất lớn. Họ thường hay trầm tư; muốn biết họ suy nghĩ theo phương cách nào thì xem các sao ở cung tật ách. Vì cung mệnh không có chính tinh, mệnh tạo sẽ không bộc lộ bản thân ở những hoàn cảnh chưa quen thuộc; đó là nguyên tắc luận đoán thông thường cho trường hợp cung mệnh vô chính diệu. Tuy vậy chớ tưởng họ không có chủ kiến; ngược lại, họ rất chấp trước vào kiến giải của mình và rất khó thay đổi.
Khi cung thiên di có tứ hóa năm sinh mà cung mệnh vô chính diệu, thì dù đó là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hay Hóa Kị (đặc biệt là Hóa Kị và Hóa Quyền), đều đoán định được rằng mệnh tạo bị buộc phải "dịch động". Người có kết cấu này vì vậy có nhiều cơ hội đến nơi khác, hay phải đi đó đi đây vì công việc. Riêng trường hợp cung mệnh vô chính diệu mà cung thiên di có Hóa Kị, mệnh tạo thường thấy mình chìm trong áp lực, tiền đồ tương lai chỉ một màu xám.
Một ứng nghiệm khác là mối tình đầu rất dễ thất bại, lại dễ trở thành nỗi đau khắc cốt ghi tâm; vì cung thiên di là cung vị tài bạch của cung phu thê, tức là lời nói, hành vi không đúng đắn của người phối ngẫu hay người yêu đã dẫn đến chia tay. Cung thiên di có hung tinh tọa thủ vốn chủ về hoàn cảnh ở bên ngoài không được lý tưởng, còn có thể bị nơi đó không thừa nhận; "đất khách không vui" càng làm mệnh tạo lòng đầy sầu muộn, cô đơn!
Xem tiền đồ tương lai từ cung thiên di
Đã là nơi lòng người hướng tới thì mỗi chính tinh đứng ở cửa ngõ này sẽ vẽ cho mệnh tạo một chân trời riêng.
Xét về thời gian, cung thiên di bao trùm quãng thời gian kéo từ thuở xa xưa cho tới điều đang diễn ra. Xét về không gian, nó không dừng ở những gì thấy được trước mắt mà gồm cả đại thiên thế giới có thể nghĩ tới, từ thế giới tự nhiên rộng lớn đến đại vũ trụ. Xét về nhân văn, nó ôm trọn văn minh, lịch sử, văn hóa, văn học, nghệ thuật, khoa học, cho đến phong tục dân tình… của con người. Thế giới mà mệnh tạo chưa biết có cửa ngõ dẫn vào chính là cung thiên di.
Tri thức mà con người học được, loại nào cũng phát xuất từ cung thiên di. Đổi góc nhìn, nếu cung mệnh là thức ăn đưa vào miệng thì cung thiên di là lương thực của tinh thần. Chú giải một cách giản dị thì đây là cung gây ảnh hưởng lên lực dịch động. Khi lấy cung mệnh làm chuẩn (lập thái cực), cung thiên di là nơi nội tâm mong ước, hướng về, cũng là lý tưởng mà mệnh tạo theo đuổi. Các sao ở cung thiên di vì thế là tiêu chuẩn của chí hướng, lý tưởng; ảnh hưởng của chúng nhiều khi quyết định hướng đi của trọn một đời người. Tâm nguyện của một cá nhân lớn hay nhỏ, phải xem chí hướng của họ thế nào mới biết.
Xu hướng cuộc đời của mệnh tạo có thể luận đoán từ các sao ở cung thiên di; ngay đến chuyện mệnh tạo hứng thú với môn học nào cũng xem được ở đây. Nhìn từ lập trường của mệnh tạo, các sao trong cung thiên di chẳng khác gì ăng-ten thu sóng, ra-đa, máy ghi âm đối với những tri thức văn hóa mà mệnh tạo từng tiếp xúc.
Người cung thiên di vô chính diệu thường phải dựa vào bậc trưởng bối hoặc những người có ảnh hưởng để lập ra một chuẩn mực cho các quyết định về tiền đồ tương lai; tức là họ thiếu tầm nhìn và năng lực phán đoán. Bởi vậy họ rất cần một ngọn hải đăng chỉ lối giữa bến mê. Chí hướng của một người được phân tích dưới đây theo từng sao ở cung thiên di.
Cung thiên di có Tử Vi hoặc tổ hợp Tử Vi
Người này có lý tưởng, chí hướng và tham vọng; việc toan tính cho tương lai, họ cũng có tinh thần khá mạnh. Họ không phải hạng nóng lòng muốn thành công hay chỉ nhìn cái lợi trước mắt; vì thế, nếu chịu đựng nổi gian khổ thì người có mệnh cách này sẽ có cơ hội thành tựu hơn người.
Cung thiên di có Thiên Phủ hoặc tổ hợp Thiên Phủ
Thiên Phủ có ý tượng là đất đai. Người có mệnh cách này sẽ tranh thủ tài phú để giàu có và sống an nhàn, đồng thời tự bồi dưỡng cho mình tầm nhìn rộng lớn và lòng bao dung. Thiên Phủ thuộc thổ, tính vững vàng, trầm tĩnh; do đó người cung thiên di có Thiên Phủ hoặc tinh hệ Thiên Phủ đã hạ quyết tâm thì không nuốt lời. Nói khác đi, một đời họ ít có thời gian thanh nhàn.
Cung thiên di có Thiên Cơ hoặc tổ hợp Thiên Cơ
Mục tiêu người này theo đuổi là "trí tuệ và biểu hiện bản thân". Trên đường theo đuổi, họ thường có khả năng gặp trở ngại, thất lợi hoặc thất bại; mỗi bước trên đường đời là một lần lựa chọn giữa niệm thiện và sự đầu cơ lợi lộc trước mắt. Với Thiên Cơ, không phải cứ đưa tay ra là nắm được cơ hội; vì vậy người có mệnh cách này muốn thành công thường phải qua một thời gian dài chịu thử thách.
Cung thiên di có Thái Dương hoặc tổ hợp Thái Dương
Người này suốt đời theo đuổi sự nghiệp, tiền đồ, và cả ánh dương quang; họ nhìn về viễn cảnh tương lai bằng con mắt lạc quan. Cá tính đương sự dẫu khiêm tốn, trầm ổn, thậm chí hướng nội, thì vẫn luôn tận tâm tận lực theo đuổi lý tưởng. Một đời họ được hưởng rất nhiều phúc ấm của cha, song quan hệ cha con lại có sự xa cách.
Cung thiên di có Thái Âm hoặc tổ hợp Thái Âm
Lịch sử văn vật, thi thư họa là những thứ người có mệnh cách này rất hứng thú, thích học hỏi và nghiên cứu; tựa hồ cảnh sông núi tươi đẹp đã nằm sẵn trong đầu, chẳng cần tốn thời gian đi lang thang mới thưởng thức được. Phúc ấm của mẹ họ được hưởng rất nhiều trong đời, nhưng giữa mệnh tạo và mẹ có thể có sự xa cách, thậm chí thường lời qua tiếng lại.
Cung thiên di có Phá Quân hoặc tổ hợp Phá Quân
Năng lực ứng dụng của người này rất mạnh, nguồn vốn chung quanh có bao nhiêu họ vận dụng được hết mức; tuy vậy, để đứng vững, họ thường phải dựa vào một cây đại thụ thì sở trường mới phát huy. Phá Quân ở cung thiên di là nơi theo truyền thống để tìm ra thế giới độc đáo do mình tự sáng tạo. Nhìn theo góc độ khác, muốn thực hiện lý tưởng thì cái giá phải trả là đột phá tình trạng mâu thuẫn trước mắt; vì vậy tâm chí của người có mệnh cách này đối với tiền đồ tương lai chính là "một ngày nào đó nhất định sẽ thực hiện được điều gì đó to tát".
Cung thiên di có Tham Lang
Thiên Cơ mong gặp được kỳ tích; người có Tham Lang ở cung thiên di thì khác, họ hy vọng chính mình là người làm nên kỳ tích. Người có kết cấu này đa học đa năng, song phong cách hành sự lại vững chắc, thực dụng, khiến mọi chuyện trong cuộc sống đều tuần tự tiến từng bước hoặc tuân thủ quy củ. Tuy chưa đến mức đơn điệu, cuộc sống ấy cách khá xa thế giới mơ mộng. Vì thế họ sẽ vứt bỏ những thứ trần tục để theo đuổi tri thức, để khai mở tâm trí, linh cảm và năng lực sáng tạo; họ thậm chí còn thấy hứng thú với những hiện tượng kỳ diệu trong tự nhiên, kể cả các sự tích kỳ lạ của tôn giáo.
Cung thiên di có Thất Sát
Người có mệnh cách này thông thường chủ quan, ôm hoài bão hùng tâm đại chí, nhưng dễ rơi vào cảnh mắt nhìn cao mà tay với không tới. Trí tưởng tượng phong phú, năng lực lập kế hoạch cực mạnh, có điều lực hành động thực tiễn lại hơi thiếu. Họ tuy thực dụng nhưng sự tích cực tạo tác vẫn không đuổi kịp trí tưởng tượng; tuy biết thế sự biến động thay đổi cực nhanh và bản thân cũng khá thực tế, nhưng mệnh tạo nếu không thiếu lực xung kích thì cũng có thể thiếu dũng khí mạo hiểm.
Cung thiên di có Liêm Trinh
Đây là người theo chủ nghĩa duy mỹ. Mệnh tạo hay để tâm đến nhân tố thực tế của hoàn cảnh và hình tượng, thành thử cách hành sự khác rất xa niềm tin trong tâm hồn. Họ thông minh, có năng lực, thậm chí làm nên được những chuyện lớn lao và có địa vị xã hội khá tốt, vậy mà vẫn cách khá xa những ham muốn tốt đẹp từ đáy lòng thuở ban sơ.
Cung thiên di có Thiên Tướng
Lực tạo tác cực mạnh, thành tựu và lợi ích tạm thời đến thường xuyên, nhưng người này hay rơi vào tình huống phải gắng gượng mà làm, gặp trở lực vẫn cứ tiến tới. Thường thấy họ thiếu sự thuận lợi toại ý; ngoài ra còn bị mài giũa để trở nên hoàn hảo. Vì vậy, nếu không phải sửa chữa sau khi chuyện đã xảy ra thì cũng để lại hậu di chứng, bởi người có mệnh cách này lúc nào cũng trông mong dung hợp được hai trạng thái mâu thuẫn ấy.
Cung thiên di có Thiên Lương
Người này có biểu hiện xuất sắc, lại có thể tĩnh tâm học hành; họ cơ trí, lanh lợi, thông minh và có sức thuyết phục. Song tư duy hay thay đổi, nên trong quá trình thành việc họ thường nghĩ ngợi quá nhiều, hoặc vì cố cầu toàn mà tự trói tay trói chân. Do đó người có mệnh cách này thường mong hành vi của mình được công nhận, khẳng định, thậm chí được bảo vệ. Điều đáng lo là mệnh tạo làm việc thiếu nguyên tắc, cho nên sẽ trông mong được ổn định, bình hòa và bảo vệ được tiền đồ.
Cung thiên di có Thiên Đồng
Đời người này gặp nhiều phiền toái hoặc không được như ý; lắm lúc họ phiền muộn, nghĩ ngợi nhiều về hoàn cảnh của mình. Cá tính hướng nội nên họ thiếu hùng tâm tráng chí để làm nên chuyện oanh oanh liệt liệt; do vậy, đối với tiền đồ tương lai, nếu không giữ thái độ ôm lấy tình trạng yên bình thì cũng nhắm đến cuộc sống an nhàn. Phần nhiều họ sẽ đi nghiên cứu hoặc bồi dưỡng văn học nghệ thuật; hứng thú, sở thích, thị hiếu thường mang tính chất tĩnh. Hành động mạo hiểm rất hiếm thấy ở người có mệnh cách này; mục tiêu rốt ráo của họ là theo đuổi một cuộc sống lãng mạn, hợp ý, dễ chịu.
Cung thiên di có Vũ Khúc
Đây là người khá có định kiến; chí hướng và mục tiêu của tiền đồ một khi đã xác định thì họ khó thay đổi hoặc bỏ phế. Ảnh hưởng bên ngoài có gây trở lực thì mệnh tạo vẫn nhắm đến lý tưởng của mình, hoặc đi thẳng hoặc đi đường vòng. Không rời mục tiêu lý tưởng, nhưng họ vẫn đối mặt với thực tế để ổn định tài chính. Họ cũng rất tò mò, muốn hiểu cho rõ về thế giới siêu linh, về những kỳ nhân được đồn đại.
Cung thiên di có Cự Môn
Về nhân sinh quan, mệnh tạo lúc nào cũng nhìn đời qua lăng kính màu xám, thấy mình đang đối diện một thế giới u ám, hỗn độn. Do đó mệnh tạo nếu không phải người giàu cảm tính thì cũng có hứng thú với tôn giáo, triết học. Vì mong muốn thay đổi thế giới, họ có thể trở thành thi nhân hay nhà văn biếm trích thế tục; chuyên viên tư pháp, bác sĩ, y tá… cũng là những nghề có thể thành hướng đi của cuộc đời người này. Họ còn có thể là nhân sĩ trong giới tôn giáo, bởi người có mệnh cách này phần nhiều có lòng từ bi, lân mẫn.
Xem sự nghiệp của người phối ngẫu từ cung thiên di
Cũng cánh cửa ấy, nhìn từ phía cung phu thê, lại mở vào nghề nghiệp và dáng dấp của người bạn đời.
Theo Tử Vi Đẩu Số của Tứ Hóa phái, cung thiên di là cung vị tài bạch của cung phu thê. Vì vậy khi luận đoán đại vận thứ hai hay thứ ba (hoặc luận đoán lưu niên), quan sát cung thiên di của đại vận (hoặc lưu niên) không chỉ giúp hiểu rõ hai người cư xử với nhau thế nào, mà còn xem được tình hình nghề nghiệp của "người ấy". Một số tổ hợp được phân tích dưới đây để tham khảo.
Cung thiên di có Vũ Khúc
Vũ Khúc là "tài tinh" (sao tiền tài), đồng thời là sao tượng trưng cho quân sự; vì vậy "người ấy" thông thường thuộc giới tài chính, tiền tệ, thương nghiệp, hoặc là quân nhân. Trong đó, Vũ Khúc Hóa Lộc mà không gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương thì có thể theo nghiệp buôn bán kinh doanh. Vũ Khúc Hóa Quyền hoặc đồng cung với Kình Dương thì nhiều khả năng là quân nhân, cảnh sát, nhân viên kiểm tra, dù cũng có một số ít ngoại lệ. Vũ Khúc có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ thì khả năng rất cao đây là người hứng thú với huyền học.
Cung thiên di có Thiên Lương
Thiên Lương là sao cô độc, chủ về tôn giáo, lại là sao chủ về y dược. Thiên Lương tọa thủ cung thiên di thì "người ấy" có thể là bác sĩ, y tá, nhân viên y tế, chuyên viên thiết bị y tế, hay nhân viên phân phối dụng cụ y khoa…; nói gọn, nghề nghiệp của "người ấy" liên quan đến ngành y dược. Bên cạnh đó, Thiên Lương còn có thể là nhân viên công vụ, nhất là ở những công việc liên quan đến pháp luật, chẳng hạn bộ phận phụ trách các vấn đề pháp lý của công ty hay tập đoàn. Khi Thiên Lương đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp, chịu ảnh hưởng của hai sao này, Thiên Lương sẽ phát huy về phương diện tôn giáo, huyền học, làm những việc có liên quan đến tôn giáo hay mệnh lý; ở thời cổ đại, người có mệnh cách này phần nhiều hành nghề tôn giáo kiêm thầy thuốc.
Cung thiên di có Thiên Cơ
Ở đây kế thừa thuyết "Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương là nhân viên thư lại", vốn là câu cổ quyết:
Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân.
Một trong ba sao Thiên Cơ, Thiên Lương hay Thái Âm tọa thủ cung thiên di thì "một nửa kia" của mệnh tạo có cơ hội rất lớn làm công chức, nhờ tính cẩn thận, ưa yên tịnh, tôn trọng truyền thống (hoặc thiếu dũng khí canh tân). Ở xã hội hiện đại, Thiên Cơ có cơ hội rất cao trong các nghề lập kế hoạch, thiết kế quảng cáo, thiết kế kiến trúc, lập trình phần mềm máy tính, kỹ sư phần cứng máy tính, nhà văn, nghệ thuật gia, diễn viên… Thiên Cơ trời sinh rất mẫn cảm và tinh tế, nên tỉ lệ làm công việc về văn cao hơn rất nhiều so với kinh doanh buôn bán. Trường hợp Thiên Cơ đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp trong cung thiên di thì "người ấy" có thể là nhà mệnh lý học hay người hành nghề tôn giáo.
Cung thiên di có Thái Âm
Tính chất của Thái Âm rất mẫn cảm và tinh tế, tương tự Thiên Cơ. Cung thiên di có Thái Âm thì "người ấy" có thể là nhân viên công chức, làm công việc văn thư, cũng có thể là nghệ thuật gia hoặc diễn viên. Song Thái Âm còn là "tài tinh" (sao tiền tài); khi Thái Âm độc tọa cung thiên di của đại vận (hoặc lưu niên) thì rất nhiều người kinh doanh buôn bán thành công, mà đại đa số có liên quan đến bất động sản. Tính nết "người ấy" dịu dàng, cẩn thận, mẫn cảm, lại có tài năng văn nghệ; đặc biệt họ đánh hơi tiền bạc rất tài tình, lại rất giỏi tô vẽ cho hình tượng bản thân. Không làm về thương nghiệp thì họ vẫn có thể biến mình thành món hàng để đổi lấy lợi ích thực tế.
Cung thiên di có Tử Vi
Cung thiên di là Tử Vi thì trong công việc, "một nửa kia" của mệnh tạo rất có thể là người chịu trách nhiệm, bên trên không có người chủ quản, đối tượng họ phục vụ rất đông và thuộc đủ mọi tầng lớp. "Một nửa kia" có thể ở cấp chủ quản công ty, hoặc là người chịu trách nhiệm của một cơ quan công, mà cũng có thể là ông chủ một tiệm dịch vụ mạng hay người quản lý nhà hàng. Thành tựu của Tử Vi thông thường liên quan trực tiếp đến Tả Phụ, Hữu Bật; trong ba cung phu thê, thiên di, phúc đức của mệnh tạo mà có Tả Phụ, Hữu Bật thì "một nửa kia" sẽ có thành tựu tương đối cao, ví dụ làm chủ một công ty. Tử Vi đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp thì có thể người ấy rất có danh vọng trong giới tôn giáo.
Cung thiên di có Thất Sát hoặc Phá Quân
Thất Sát và Phá Quân cùng là sao dám liều, dám xung kích, rất có năng lực khai sáng. Cung thiên di có Thất Sát hoặc Phá Quân thì "một nửa kia" có thể làm công việc mang tính nghiệp vụ hay cần đến thể lực, hoặc là quân nhân, cảnh sát. Thất Sát hoặc Phá Quân đồng cung với Hỏa Tinh, Kình Dương thì khuynh hướng làm quân nhân, cảnh sát càng rõ. Cả hai sao đều chịu được gian khổ, không toan tính hư danh thế tục, cho nên ban đầu có thể họ chỉ nghĩ đến những việc nhỏ như bán hàng rong, bán hàng lưu động, kinh doanh nhỏ hoặc doanh nghiệp nhỏ… Có điều tham vọng của họ khá lớn, cách nghĩ lại đơn thuần, nói làm là làm, vì thế "người ấy" thường thuộc nhóm người rất dễ thành công, nhất là khi có Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc đồng cung. Tuy nhiên, sống với mẫu người này thì phải chuẩn bị tâm lý chịu khổ trước rồi mới sướng sau.
Cung thiên di có Tham Lang
Sao Tham Lang rất thông minh, lắm ham muốn, lại cực kỳ đa dạng và hiếu kỳ. Sao này ở cung thiên di thì "một nửa kia" của mệnh tạo thường là người có kỳ tài, phong lưu, đa nghệ. Trong công việc, mọi người hay đánh giá họ là nhân vật khá đặc biệt: có thể là nghệ nhân, chuyên viên quan hệ công chúng, cũng có thể là nhà mệnh lý học, thầy dạy khí công hay yoga; kể cả khi làm chủ công ty mậu dịch thì cũng có thể làm đại lý thuốc lá, rượu, hay các sản phẩm hiếm lạ. Cũng có một số là người bình thường, chẳng có chuyên môn hay kỹ năng gì đặc biệt.
Khi Tham Lang đồng cung với Liêm Trinh hoặc Văn Xương, Văn Khúc ở cung thiên di, người ấy sẽ thiên về sáng tác văn nghệ như tác gia, người sáng tác ca từ, họa sĩ, thiết kế quảng cáo. Trông họ có vẻ không dung tục, vậy mà lại rất xem trọng tiền bạc và vật chất. Công việc họ làm phần nhiều có tính chất không được bình thường, nhưng chắc chắn thù lao cao, ít ra là cao đối với họ.
Cung thiên di có Liêm Trinh
Liêm Trinh ở cung thiên di thì công việc của "người ấy" sẽ có khuynh hướng khác rất nhiều so với khuynh hướng nghề nghiệp của mệnh tạo. Giả sử Liêm Trinh đồng cung với Kình Dương, Hỏa Tinh, hoặc có Hóa Quyền, thì họ tích cực và mạnh mẽ, có thể làm vận động viên, quân nhân, cảnh sát hoặc chuyên viên kỹ thuật cao. Còn nếu đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc hay Tham Lang, hoặc có Hóa Kị, thì công việc sẽ nghiêng về văn hay nghệ thuật, nhất là công việc có tính chất sáng tác. Liêm Trinh thuộc âm hỏa: khi không bị kích động thì có khuynh hướng giấu tài năng, cô độc và tự đánh giá cao bản thân; khi được kích động thì phát tán ra bên ngoài rất mãnh liệt, do đó tính chất công việc cũng khác đi nhiều. Dẫu vậy, điểm chung của họ vẫn là tính ương bướng; phải chọn giữa thu nhập cao và sự vui vẻ thì họ chọn ngay công việc có thu nhập cao mà không cần suy nghĩ.
Cung thiên di có Thiên Đồng
Thiên Đồng là sao của sự thong dong, coi trọng cảm giác hưởng thụ; Thiên Đồng Hóa Lộc thì tính chất ấy càng đậm. Thiên Đồng ở cung thiên di thì "một nửa kia" của mệnh tạo rất có thể làm nghề tự do, hoặc từng làm việc theo dạng này một thời gian; tần suất đổi việc của họ cao hơn người khác. Họ còn có tài nói chuyện, bề ngoài tao nhã, phản ứng nhanh, thông minh; rất hợp với kinh doanh giải trí hoặc các ngành công nghiệp nghỉ mát, du lịch, giải trí; quan hệ công chúng, nghệ thuật biểu diễn cũng là những nghề họ có tài. Riêng trường hợp Thiên Đồng đồng cung với Kình Dương thì cá tính thay đổi 180 độ, trở nên rất mãnh liệt, thích hợp làm quân nhân, cảnh sát hoặc vận động viên. Bản thân Thiên Đồng rất lười biếng, nên "người ấy" dù thuộc loại nào cũng hay trì hoãn, thiếu tinh thần trách nhiệm; vì vậy mệnh tạo nhất định phải giúp họ trong công việc và quản lý tiền cho tốt.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
