Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cung Tật Ách: Tầng Tâm Thức Ẩn Kín Và Lúc Tiềm Năng Bộc Lộ

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn20/09/202618 phút đọc5 lượt đọc
Cung Tật Ách: Tầng Tâm Thức Ẩn Kín Và Lúc Tiềm Năng Bộc Lộ

Một người vốn nho nhã, quen ngồi yên suy nghĩ, bỗng đến một vận nào đó trở nên quyết liệt, xông xáo như thể đã hóa thành người khác. Người quen lâu năm ngỡ ngàng, còn chính đương sự cũng khó cắt nghĩa vì sao. Tứ Hóa phái tìm lời đáp ở cung tật ách — cung vẫn bị xem là chỉ để đoán bệnh, thậm chí bị coi là cung "nhìn mà không thấy gì". Nếu cung mệnh là phần băng nổi trên mặt biển thì cung tật ách là khối băng chìm bên dưới: nơi cất giữ tâm thức sâu kín, thiên tính trời phú và cả những điều không ai nhìn thấu. Từ nguyên lý "nhất lục cộng tông" của Hà Đồ, cung vị này còn soi sang người phối ngẫu, bạn bè và cả nhà cửa, tài sản. Nhưng những gì nằm im dưới mặt nước ấy sẽ đợi đến lúc nào mới trồi lên, và khi trồi lên thì mang theo phúc hay họa?


Hàm nghĩa cơ bản của cung tật ách

Phần đông con người thuộc dạng "nhất thể lưỡng diện", tức một thân mà có hai mặt; và mặt ẩn của cung mệnh chính là cung tật ách. Xét tổ hợp tinh diệu đóng tại đây thì biết được tình trạng di truyền, thể chất khỏe mạnh hay yếu đuối, lại có thể đoán trước bộ phận nào trong cơ thể dễ phát bệnh và hay mắc loại bệnh chứng nào.

Sinh lý, tâm lý cùng bệnh tật của cơ thể đều do cung tật ách chủ quản, kể cả bệnh còn ở dạng tiềm ẩn, bệnh đã thành chứng, và những tai ách, kiếp nạn.

Về mặt tâm lý, cung tật ách chủ về tâm thức. Đó là nơi sâu kín nhất của tâm hồn; tâm tính kín đáo của mệnh tạo, ngay thẳng hay gian tà, đều lộ ra ở cung này.

Cung tật ách thuộc cung vị số "6", đại biểu cho tâm thức, tức là những gì cất kín bên trong. Cung mệnh thuộc cung vị số "1", đại biểu cho "tính", tức tính cách, cá tính phô ra bên ngoài. Hà Đồ có câu:

Nhất lục cộng tông.

Hễ "nhất" của cung mệnh xung "lục" của cung tật ách thì mọi thứ đảo lộn cả. "Mệnh, tật" do đó vốn chung một nguồn, cảm ứng với nhau mà phát thành "tình". Riêng phần tình hoài, tâm trạng lại thuộc cung phúc đức; còn hành vi biểu lộ ra ngoài, tức cách ứng xử cảm xúc với người đời, thì do cung quan lộc chủ.

Cung tật ách còn là cung mệnh ngầm. Sở dĩ có tên "cung mệnh ngầm" là vì ý nghĩa của nó và của cung mệnh có thể hoán đổi cho nhau, cụ thể như sau.

Luận về tâm lý của mệnh tạo thì phần lộ là cung mệnh, phần kín là cung tật ách. Luận về sinh lý của mệnh tạo thì đảo lại: phần lộ là cung tật ách, phần kín mới là cung mệnh.

Vì vậy, cung tật ách phi hóa nhập cung mệnh thuộc dương, là bày ra ngoài; cung mệnh phi hóa nhập cung tật ách thuộc âm, là giấu kín vào trong.

Khi cung tật ách của nguyên cục phi Hóa Kị nhập cung mệnh của nguyên cục, tâm và tính của người này hợp làm một: lòng dạ ngay thẳng, nghĩ sao nói vậy, mau mồm mau miệng. Khi cung mệnh của nguyên cục phi Hóa Kị nhập cung tật ách của nguyên cục, người này cũng lòng dạ ngay thẳng nhưng không mau mồm mau miệng.

Khi cung mệnh của nguyên cục phi Hóa Lộc nhập cung tật ách của nguyên cục, tâm tính lạc quan, thân thể dễ phát phì. Khi cung tật ách của nguyên cục phi Hóa Lộc nhập cung mệnh của nguyên cục, tính tình rộng rãi, khẳng khái, trọng sĩ diện.

Lại có trường hợp cung quan lộc của nguyên cục phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu của nguyên cục, xung cung tật ách của nguyên cục. Quan lộc là hành vi; xung xạ cung tật ách nghĩa là xung thẳng vào bản tâm, vì vậy người này không có lương tâm, lại nặng lòng báo thù.

Đặt cung tật ách vào cung vị "1" rồi đếm nghịch thì "6" rơi vào cung phúc đức. Chiếu theo lẽ "nhất lục cộng tông" của Hà Đồ, khí trường của cung tật ách và cung phúc đức tương ứng với nhau.

Cũng từ cung vị "1" là cung tật ách, đếm nghịch đến "8" thì gặp cung mệnh; cung mệnh do đó là cung vị "tuyệt tình" của cung tật ách. Bệnh tật chuyển biến thế nào, vì thế, phải nhìn vào cung mệnh mới biết.

Tứ chính của cung tật ách gồm cung tật ách, cung quan lộc, cung phụ mẫu và cung phu thê; tứ chính thuộc về "thể", về "tĩnh". Tam phương của cung tật ách gồm cung tật ách, cung điền trạch và cung huynh đệ; tam phương thuộc về "dụng", về "động".

Giữ vai cung vị "khí số" của cung tật ách là cung huynh đệ; còn chính cung tật ách lại là cung vị "khí số" của cung điền trạch.

Trong mười hai cung, cung nào cũng có bản cung và đối cung. Lấy cung tật ách làm bản cung thì đối cung là cung phụ mẫu; hai cung "phụ, tật" gộp thành một thái cực, và tuyến "phụ, tật" mang tên tuyến quang minh.

Huyền nghĩa của cung tật ách

Hàm nghĩa nền tảng mới chỉ vẽ ra đường nét của một cung vị chìm khuất; muốn thấy hết bề sâu của nó, phải lần theo những tầng nghĩa mà mắt thường dễ bỏ sót.

Thiếu một quan niệm đúng đắn và có hệ thống về Tử Vi Đẩu Số thì lúc luận giải mệnh bàn người xem rất dễ lúng túng: nhìn vào mệnh bàn mà đầu óc trống trơn, hoặc như va phải đinh. Chẳng hạn thấy cung tật ách có Hóa Lộc năm sinh, lối luận thường gặp sẽ là: lạc quan, tình cảm dồi dào, bụng dạ rộng rãi nên người hơi mập; rồi thêm thắt vài lời mô tả tùy tiện, kiểu dựa vào tính chất các sao tọa thủ cung tật ách để đoán bệnh, mà mười phần thì chín phần không ứng nghiệm. Vì thế, với không ít người nghiên cứu Đẩu Số, cung tật ách rất dễ trở thành cung "nhìn mà không thấy gì", hoặc thành một cung hết sức xa lạ.

Trên thực tế, người có Hóa Lộc năm sinh nằm ở cung tật ách đa phần trông lạnh lùng, điềm đạm và ít lời, trong khi đời sống nội tâm lại vô cùng dồi dào. Bản chất giàu cảm xúc, dễ mềm lòng khiến họ khó chống đỡ khi bị hạng người "lưu manh" bám riết gây phiền, cũng dễ xiêu lòng trước mồi lợi lộc hay sắc tình. Hóa Lộc bị cất kín trong cung tật ách, thành thử trong chuyện tình cảm họ thường là bên thụ động. Họ vụng bày tỏ yêu thương: mong muốn thì nhiều mà việc làm lại chẳng theo kịp hình dung của chính mình, để rồi cứ ngỡ người yêu mới là kẻ "tướng trời", không ngờ "tướng trời" lại chính là bản thân. Trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của họ đều mạnh, lòng ham tiền có khi tới mức cuồng nhiệt, thế nhưng dáng vẻ bên ngoài vẫn có thể rất nho nhã, đạo mạo, đường hoàng.

Bức chân dung ấy hơi đậm nét và cũng chẳng mấy "nhã", song tám chín phần là thật. Chỉ có điều, đem những lời đó ra nói khi luận mệnh cho người ta thì dẫu trúng, cái trúng ấy cũng vô nghĩa, bởi nó mới dừng ở "thùy tượng" của mệnh bàn. Cung tật ách đòi hỏi một tầm hiểu sâu hơn hẳn lối nhìn hời hợt như vậy. Những ý tượng thật sự cần nắm ở trường hợp này là "khó tụ tài" và "kiếm tiền khá vất vả"; ngoài ra, Hóa Lộc ở cung tật ách còn đi kèm tâm lý ưu uất, hay ngờ vực rằng mình mang bệnh.

Theo huyền nghĩa, cung tật ách chỉ chung cơ thể, gồm cả nhục thể lẫn tâm thể chứ không riêng gì nhục thể; đó là nơi sinh lý và tâm lý gặp nhau. Hết thảy những gì thuộc "kinh nghiệm" của cảm quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác, cảm giác đau…, bất kể hữu ý hay vô ý, đều được chuyển về, thu nhận và lưu giữ tại cung này.

Vì mang tính "ẩn", những gì cung tật ách cất giữ không thể nhìn thấu từ bên ngoài. Các sao đóng tại đây có thể coi là đang chờ được khơi động, là phần tiềm năng còn đợi khai phát. Chúng tựa như ẩn mình giữa mệnh bàn, tính chất hầu như không lộ ra trong sinh hoạt thường ngày. Chẳng hạn tính "thà làm đầu gà chứ không làm đuôi voi" của "Tử Vi, Phá Quân", hoặc duyên với người khác giới cực tốt của "Tử Vi, Tham Lang"… đều là tiềm năng của mệnh tạo mà ít người biết tới. Do nằm kín trong mệnh bàn, các sao của cung tật ách chưa bị kích thích hay khơi động thì chưa xuất hiện trong đời sống hằng ngày. Thế nên, hễ có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hay Hóa Kị nhập cung tật ách thì đó là điềm báo những gì cất chứa bên trong sắp sửa bộc phát.

Lấy trường hợp cung mệnh có "Liêm Trinh, Tham Lang" làm ví dụ: bề ngoài mệnh tạo anh tuấn bất phàm, trong lòng rõ ràng dành cho bạn gái biết bao tình nồng ý đậm, quan hoài vô hạn, vậy mà cách biểu hiện lại khiến người ta trợn tròn mắt, dở khóc dở cười. Không qua sự "khai phát tiềm năng" thì điều này khó lộ rõ; tức là nhận thức về tình cảm, phương thức biểu đạt và cảm thụ của mệnh tạo đều khác thái độ thường thấy. Hóa Lộc biểu trưng cho "tình và dục"; khi nó phi nhập cung tật ách, cách mệnh tạo biểu đạt tình cảm giống sợi dây cung đã kéo căng, song người ngoài chỉ thấy họ cứng đơ, không rõ mệnh tạo có nhắm đích mà "buông tên" hay không.

Từ cung mệnh là số "1", đếm nghịch đến "6" thì gặp cung tật ách; nguyên lý này được các bậc thầy của Tứ Hóa phái gọi là "Nhất lục cộng tông". Ví như một tảng núi băng: phần nổi trên mặt biển là cung mệnh, phần chìm dưới mặt nước của cùng tảng băng ấy là cung tật ách.

Quan hệ giữa cung tài bạch và cung điền trạch là một ví dụ. Từ cung tài bạch là số "1", đếm nghịch đến "6" thì gặp cung điền trạch. Cung tài bạch chuyên về việc kiếm tiền; cung điền trạch là kho tài vật, tức nhà cửa cùng mọi vật sở hữu trong nhà như đồ điện gia dụng, đồ đạc, vàng bạc tư trang, áo quần, kể cả mối quan hệ đối đãi khó nói cho rõ giữa những người trong nhà.

Dò xem một người mỗi năm kiếm được bao nhiêu vốn chẳng khó. Còn tổng giá trị nhà đất cùng của cải cất trong nhà người ấy thì rắc rối hơn nhiều và khó lòng tính cho ra, bởi lẽ thường không ai thích phơi bày tình hình tài sản, tài chính của mình cho người ngoài. Tương quan giữa cung tài bạch và cung điền trạch là như thế. Đứng trên nền nhận thức này mà trở lại với cặp cung mệnh – cung tật ách sẽ thấy rõ: điều cốt yếu không phải là có "buông tên" hay không, mà là phải có nguyên tắc để dựa vào khi luận đoán.

Cung phu thê và cung nô bộc trong mệnh bàn cũng có quan hệ "1" và "6". Tiềm năng của người phối ngẫu, cùng những điều người ấy không muốn cho ai hay, thậm chí có thể là chuyện sức khỏe, đều do các sao ở cung nô bộc biểu trưng. Tất nhiên, nếu lấy cung mệnh là "1" thì đếm nghịch đến "3" là cung phu thê, đếm nghịch đến "8" là cung nô bộc; các số vị trí "3" và "8" ấy duyên khởi từ cung mệnh, còn xét riêng giữa cung phu thê với cung nô bộc thì là quan hệ "1" và "6".

Nối tiếp thuyết này, "1" và "6" đại biểu cho "tiểu ngã"; đối lại với "tiểu ngã" là "đại ngã", tức cung nô bộc. Có điều "đại ngã" là do rất nhiều "tiểu ngã" kết tập lại, đủ mọi hạng người: người tương đồng về lý tưởng, quan niệm, tín ngưỡng, cá tính; người gặp thì vui, người gặp thì ghét; cả bạn bè làm ăn qua lại, hoặc những người mà mệnh tạo phải nhờ cậy nhưng cần giữ kín. Bởi thế, "tiểu ngã" chính là hình ảnh thu nhỏ của "đại ngã" (tức cung nô bộc). Thế thì cung mệnh có quan trọng không? Dĩ nhiên rất quan trọng, bởi "hình tượng" của một người do địa vị xã hội của người đó quy định!

Còn từ cung nô bộc là số "1", đếm nghịch đến "6" thì gặp cung mệnh; tức cung mệnh là cung vị tật ách của cung nô bộc.

Nói cho dễ hiểu, cung nô bộc là đám đông vây quanh mệnh tạo: bạn bè, bạn học, đồng nghiệp, người đồng hành, khách hàng… Mỗi người trong số ấy giữ một ấn tượng riêng và một mức thân tình riêng với "tiểu ngã": kẻ khen người chê, kẻ thương người oán, có người "mắc nợ" về tình, có người "mắc nợ" về việc. Thế nhưng với bất kỳ ai trong cung nô bộc, "tiểu ngã" vẫn là một đối tượng không sao hiểu cho trọn. Chẳng hạn ông A rất tâm đầu ý hợp, gặp "tiểu ngã" là vui; ông B là bạn làm ăn; ông C là bạn nhậu; ông D coi "tiểu ngã" như anh hùng; ông E lại đánh giá "tiểu ngã" là kẻ chỉ biết lợi… Tức là mọi người từng qua lại với "tiểu ngã", thân cũng như sơ, đều thấy quen thuộc mà chẳng ai nắm được toàn bộ con người ấy. "Tiểu ngã" có nhiều mặt, nên phần tính ẩn của nó, kể cả các bí mật riêng tư, nằm ngoài tầm nhìn của họ.

Cách giải thích này ăn khớp trọn vẹn với định nghĩa "cung mệnh là cung vị tật ách của cung nô bộc", đồng thời đúng với nguyên tắc quan hệ "1" và "6". Bởi vậy, đặt cạnh sự hiểu biết về "tiểu ngã" của từng "cá nhân" trong cung nô bộc, thì cái "tiểu ngã" do cung mệnh đại biểu cũng phải được gọi là "đại ngã". Hơn nữa, cho dù tất cả những người thuộc cung nô bộc cộng hết ấn tượng của họ về cung mệnh lại, vẫn chẳng thể nào biết được toàn bộ cá tính và hành trình nội tâm của "tiểu ngã" ở cung mệnh, vốn chỉ thấp thoáng rất mờ trong sinh hoạt thường nhật.

Tứ hóa năm sinh nằm ở cung tật ách có thể hé lộ tình hình bạn bè của người phối ngẫu trước khi kết hôn; ấy là vì cung tật ách là cung vị tử nữ của người phối ngẫu (cung phu thê), liên quan đến đời sống tình cảm của người ấy. Gặp Hóa Khoa năm sinh ở cung tật ách, thường thấy người phối ngẫu trước khi cưới từng trải qua một mối tình lãng mạn, thanh cao. Dù vậy, hiện tượng ấy chỉ là rất có thể xảy ra, không nhất định sẽ xảy ra. Hơn nữa, tình trạng yêu đương lúc chưa kết hôn hoặc sau khi hai người đã thành thân còn cần thêm các điều kiện phối hợp khác thì mới đoán định được.

Cung tật ách mang tính "ẩn"; theo huyền nghĩa, đó là chỗ tàng chứa những gì không nhìn thấy được. Dựa vào các sao tọa thủ trong cung có thể luận đoán trí lực cùng khuynh hướng chấp trước ở tận nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn. Cung tật ách lại là cung vị khí số của cung điền trạch, nên bất động sản có giữ được lâu dài hay không, cứ xem các sao và tứ hóa ở cung tật ách thì rõ chân tướng.

Lúc nào tiềm năng ẩn trong cung tật ách bộc lộ?

Khối băng chìm không nằm yên mãi dưới mặt nước; vận trình xoay đến đúng điểm thì phần ẩn kín ấy trồi lên, đem theo trợ lực hoặc sóng gió tùy vào tinh diệu nó cất giữ.

Lúc bước vào hành hạn, tổ hợp sao ở cung tật ách của nguyên cục chính là vũ khí bí mật, là thiên tính trời phú của mệnh tạo. Có điều khi còn ở trong mệnh bàn nguyên cục, nó chưa được vén màn để cùng xuất hiện với các tổ hợp sao khác cũng thuộc "ngã cung", mà phải chờ đúng thời điểm mới thi triển được tác dụng. Có hai cách để nó xuất hiện. Cách thứ nhất là khi cung tật ách nguyên cục trở thành cung mệnh của đại vận, cung tài bạch của đại vận, hoặc cung quan lộc của đại vận. Cách thứ hai là khi can cung mệnh của đại vận kích hoạt, làm tứ hóa nhập cung tật ách của nguyên cục; đến lúc ấy nó mới chịu lộ diện.

Chẳng hạn cung tật ách toàn cát tinh thì các sao này trợ lực cho mệnh tạo rất nhiều, giúp mệnh tạo bước đi thuận lợi trên đường sự nghiệp và tài phú. Ngược lại, nếu trong cung tật ách là hung tinh thì khi chúng được kích hoạt mà xuất hiện, ngoài bệnh tật mang đến, chúng còn sinh ra lực phá hoại và trở lực đối với toàn bộ mệnh bàn.

Tử Vi hoặc Thiên Phủ ở cung tật ách

Đây là hai sao mang tài lãnh đạo, chỉ huy. Nằm ở cung tật ách, theo dòng thời gian lưu chuyển, sớm muộn chúng cũng được tứ hóa đánh thức. Đến lúc ấy, dù là khí phách hơn người, thích ra uy, hay là lối thu phục lòng người bằng sự bao dung, tất cả đều hiện lên trong vận trình, kèm theo một sức hút rất mạnh, khác xa hình tượng và tướng mạo mà tổ hợp sao ở cung mệnh từng cho thấy. Nói khác đi, hai sao lớn này một khi tỉnh giấc thường đẩy mệnh tạo lên đỉnh cao nhất của vận trình. Cần phân biệt: Tử Vi là sao quan quý, không can dự chuyện tài lợi; Thiên Phủ mới có công năng tụ tài, tích góp của cải.

"Sát Phá Tham" tọa cung tật ách

Được khơi động rồi, nhóm sao này là hiện thân của sức xung kích và sức hành động: làm việc quyết đoán, dứt khoát, có khi liều lĩnh, thích thách thức và chống đối. Mệnh tạo đổi khác tức thì, trước và sau như hai con người. Vốn nho nhã hiền hòa đến đâu cũng sẽ bừng tỉnh vì tiềm năng "Sát Phá Tham" bị kích phát; ngày thường lười nhác, chỉ ưa ngồi nghĩ ngợi, nay cũng hóa ra hăng hái, dồi dào sức xung kích, phấn chấn mà dốc sức phấn đấu. Thành tựu có hay không còn phải luận thêm, nhưng sự tích cực ấy ai cũng nhận ra; và giả như đời người này có thành tựu, rất có thể là nhờ "Sát Phá Tham" đã được đánh thức.

Thái Dương hoặc Thái Âm ở cung tật ách

Theo ngày tháng xoay vần, khi Thái Dương ở cung tật ách được khơi động, mệnh tạo bắt đầu coi trọng công danh, sự nghiệp, đồng thời nảy sinh nhiệt tâm với các việc công ích. Thái Dương đã ló mặt thì học vấn, sự nghiệp lẫn tâm tình đều sáng dần lên. Còn khi Thái Âm bước ra khỏi cung tật ách của nguyên cục, vận về bất động sản trở nên mạnh, tâm trí chín chắn hơn, bớt thiên lệch, và khả năng tự suy xét, phản tỉnh của mệnh tạo được đánh thức. Cả hai sao còn làm vận tình cảm vượng lên, khiến mệnh tạo biết quý tình thân, tình yêu và tình bạn.

Kình Dương, Đà La ở cung tật ách

Cặp sao này có khả năng làm biến chất tính của các sao cùng cung. Với Kình Dương, tính của sao trở nên chông chênh, tích cực đến mức quá khích; với Đà La, hễ bị dồn ép là sức phản kích bùng lên dữ dội. Vì thế, lúc chúng được khơi động thường nảy ra những sự cố gây bất an; gặp mệnh bàn kết cấu kém thì chủ về bệnh tật, mổ xẻ, và các chứng bệnh mạn tính cũng nhân đó mà phát.

Hỏa Tinh, Linh Tinh ở cung tật ách

Chừng nào Hỏa Tinh, Linh Tinh còn nằm kín trong cung tật ách thì mệnh tạo có giận cũng không bộc phát. Một khi chúng được khơi động, mệnh tạo thôi nhẫn nhịn, thôi nuốt giận; đụng chuyện bất bình là rất dễ làm to chuyện. Hai sao này phá các sao đồng cung, kéo phẩm chất của chúng xuống thấp. Chúng vốn cũng là sao chủ về thất lợi, vấp váp hay gặp lực cản trước khi khởi sự hoặc ngay trước ngưỡng thành công, cho nên còn gây ra bất lợi, trắc trở trong quan hệ nhân sự và trong vận tình cảm, hôn nhân.

Tả Phụ hoặc Hữu Bật ở cung tật ách

Khi Tả Phụ hoặc Hữu Bật từ cung tật ách của nguyên cục được khơi động và hiện lên ở đại vận bàn, cách đối nhân xử thế của mệnh tạo trở nên hài hòa, trí tuệ và sự vững vàng cũng tăng thêm. Đây là hai sao phù trợ rất mạnh, chủ về thân thiện, ôn hòa, dễ khiến người khác thấy gần gũi, nhờ vậy trong giao tiếp mệnh tạo gặp được nhiều cơ hội tốt; cũng vì lẽ đó chúng tượng trưng cho quý nhân trợ lực. Nói gọn lại, Tả Phụ, Hữu Bật được đánh thức thì mệnh tạo bày ra những gì đã hàm dưỡng bên trong từ lâu, đồng thời sự nâng đỡ của quý nhân cũng được thúc đẩy xuất hiện trên hành trình mệnh vận.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn