Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cung Huynh Đệ Tứ Hóa Phái: Kho Tiền, Phá Tài, Trở Ngại Tình Yêu

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn16/09/202625 phút đọc8 lượt đọc
Cung Huynh Đệ Tứ Hóa Phái: Kho Tiền, Phá Tài, Trở Ngại Tình Yêu

Cung huynh đệ trong Tứ Hóa Phái mang nhiều nghĩa hơn chuyện anh em. Đó là cầu nối giữa cung mệnh và cung phu thê, là kho tiền, là giấy tờ riêng, đồng thời là tha cung tuyệt đối của hai vợ chồng. Về tài phú, cung này được xem như nơi kết toán sau khi cung tử nữ tiêu hao, nên mỗi khi có Hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ hoặc vô chính diệu, ý nghĩa tiền bạc lại đổi khác. Kéo theo đó là những cách cục phá tài khi kho tiền bị Hóa Kỵ, như Thái Âm gắn với đầu tư bất động sản sai lầm, Cự Môn gắn với chuyện bị lừa gạt. Cũng từ cung huynh đệ, những trở ngại trong tình yêu hiện ra rõ nét. Lạ thay, Xương Khúc đóng ở đây lại khiến vợ chồng dính nhau như keo.


Hàm Nghĩa Và Huyền Nghĩa Của Cung Huynh Đệ

Hàm nghĩa cơ bản của cung huynh đệ

Từ tổ hợp tinh diệu ở cung huynh đệ, có thể biết được giữa anh chị em có quan hệ xử sự với nhau tốt hay xấu, thành tựu của anh chị em thế nào; là đại biểu cho cá tính, mệnh cách cao thấp và vận thế tiên thiên của anh chị em.

Cung huynh đệ cai quản duyên phận tình cảm giữa anh em thủ túc, xem có trợ lực hay không. Nghĩa rộng là biểu trưng cho tình trạng tốt xấu trong quan hệ giữa người với người của mệnh tạo.

Cung huynh đệ là cầu nối giữa cung mệnh với cung phu thê, chủ về tình duyên với người khác giới, con đường nối liền đối tượng với mệnh tạo. Lại còn là lạc thú phòng the của vợ chồng.

Lúc đại vận đi nghịch, cung huynh đệ là đại vận thứ hai, là vận hạn học hành, tượng trưng cho trường tư hoặc cơ cấu làm việc của tư nhân.

Cung huynh đệ cũng là văn thư tư nhân, cho nên chủ về kiện tụng dân sự, vay mượn tư nhân trong dân gian, kinh doanh tiền tệ bất hợp pháp, văn bằng không chính thức.

Cung huynh đệ và cung nô bộc trong quan hệ bản cung và đối cung, luận về nghề nghiệp, thông thường là nghề phục vụ, môi giới, có tính lao lực, cạnh tranh.

Nếu từ cung huynh đệ là "1" (nhất) đếm nghịch đến cung thứ 6 là cung thiên di (lục), luận theo Hà Đồ, cung huynh đệ và cung thiên di là "nhất lục cộng tông", giữa hai cung có khí trường tương ứng.

Cung huynh đệ là cung vị "1", đếm nghịch đến cung quan lộc là "8" (cung thứ tám), là cung vị "tuyệt tình" của cung huynh đệ. Ngược lại, nếu lấy cung quan lộc lập thái cực, thì cung huynh đệ cũng là cung vị tật ách của cung quan lộc!

Cung huynh đệ, cung tài bạch, cung nô bộc, cung phúc đức là tứ chính của cung huynh đệ; tứ chính là "thể", là "tĩnh". Cung huynh đệ, cung tật ách, cung điền trạch là tam phương của cung huynh đệ; tam phương là "dụng", là "động".

Cung vị "khí số" của cung huynh đệ là cung điền trạch; cung huynh đệ cũng là cung vị "khí số" của cung tật ách, cho nên tai kiếp của thân thể có lúc cần phải xem cung huynh đệ.

Mười hai cung chia ra bản cung và đối cung; cung huynh đệ là bản cung thì cung nô bộc là đối cung, cung huynh đệ và cung nô bộc hợp lại thành thái cực, tuyến "huynh nô" là tuyến "thành tựu".

Huyền nghĩa của cung huynh đệ

Trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, "tha cung" chung của cung mệnh và cung phu thê là cung tử nữ và cung huynh đệ; nhưng vì cung tử nữ là "kết tinh" của sự kết hợp vợ chồng, có quan hệ khá mật thiết với hai người, chỉ có cung huynh đệ là "tha cung" tuyệt đối của hai người. Cổ nhân định vị trí cho cung huynh đệ là điều rất đáng để suy nghĩ. Xét ở góc độ cung huynh đệ, cung phu thê là cung vị huynh đệ của cung huynh đệ, là ý tượng: người phối ngẫu trông mong anh em của mệnh tạo đối với mình cũng tôn trọng như mệnh tạo.

Khi thuật về sự phân biệt giữa "ngã cung" và "tha cung", thường đặc biệt nhắc đến tính chất của các sao ở "tha cung" là điều mà mệnh tạo không có (tức là không có cá tính này). Nói rộng ra một chút là, tổ hợp sao ở cung huynh đệ là "ưu điểm" và "khuyết điểm" mà mệnh tạo và người phối ngẫu (ở trạng thái tiên thiên) không có. Đây là đứng ở lập trường của mệnh tạo để "cảm thấy như vậy"; lúc luận đoán mệnh bàn, điều này sẽ làm tăng độ rõ ràng khi luận giải về mệnh tạo. Cung huynh đệ là cầu nối giữa cung mệnh và cung phu thê; nếu trong cung huynh đệ xuất hiện Tả Phụ hoặc Hữu Bật, ngoại trừ chủ về anh em là người xử sự hài hòa, còn chủ về vợ chồng trò chuyện với nhau hòa hợp, thông tình đạt lí. Cũng do là cầu nối đặc biệt, cho nên vợ chồng biết nhau rất có thể là nhờ bà mai hoặc có người giới thiệu. Các sao ở cung huynh đệ đã là con đường giao thông kết nối, tất nhiên phải được xem trọng. Nếu các sao ở cung huynh đệ (hoặc cung nô bộc) có thế mạnh thái quá, đó là ý tượng: vợ chồng là "người yếu" trên sân khấu cuộc đời. Lại ví dụ như, cung nô bộc quá mạnh (cung nô bộc là cung vị tật ách của cung phu thê), là ý tượng: gặp gỡ đối tượng tình cảm ở cung nô bộc, mà còn có thể bị người yêu sử dụng. Lúc cung nô bộc phi hóa, không thể giải thích là người yêu tỏ thiện ý với mệnh tạo, mà là trong hành hạn mệnh tạo rất khó chịu nổi thế mạnh của người yêu, còn có thể chuốc lấy tổn hại (tình yêu gặp sóng gió trắc trở hoặc thất bại, v.v...), vì cung nô bộc là "đại tha cung" của mệnh tạo, nhưng cung nô bộc lại là cung vị tật ách của người phối ngẫu (của mệnh tạo).

Về lí thuyết, tính chất của tổ hợp sao rơi vào "tha cung" tất nhiên đó là điều mà mệnh tạo thiếu, cần phải dựa vào quá trình hành hạn để chiêu nạp; nhưng khi qua kì hạn, rất có thể sẽ là "ngụy thiện cho qua chuyện". Nếu tổ hợp sao trong cung huynh đệ có thế mạnh mà còn rất đẹp, làm thế nào mới có thể nạp nó thành của mình? Lúc vợ chồng thật sự đồng lòng kết hợp thành một, mệnh tạo sẽ có được cung huynh đệ của cung mệnh và cung phu thê?!

Lại lấy lập trường của mệnh tạo để nói, đó là mệnh tạo rất yêu "kho tiền" (cung huynh đệ là cung vị tài bạch của cung điền trạch). Tuy có phân biệt quan điểm "hình nhi thượng" và "hình nhi hạ", nhưng đây là "khí trường" làm cho mệnh tạo có thu hoạch về thực chất; về lí luận, giữa mệnh tạo và người phối ngẫu sẽ thấy không có gì trở ngại trong cảnh anh em tôn trọng nhau. Lúc xem cung huynh đệ là cung vị khí số của cung tật ách, đó là thứ mà mệnh tạo thu hoạch được sau khi đã lo cho anh em, có khi còn quý giá hơn tài phú.

Từ cung quan lộc đếm theo chiều nghịch đến "6" là hào thượng (tức hào lục). (1) Về lí thuyết, thiếu hào lục thì không thành quẻ, cho nên tuy là lãnh địa của cung quan lộc, nhưng hào lục này là nơi biến hóa, là nơi mà cung quan lộc không thể kiểm soát hoàn toàn. (2) Nếu cung quan lộc lập thái cực (là "1"), vậy cung huynh đệ là cung vị tật ách, tức là nơi tàng chứa tri thức và năng lực tinh thần. Nói một cách khác, nó phải bị kích thích, tác động mới có thể phát huy tác dụng. Lấy lập trường của mệnh tạo để nói, nó ở vị trí cung huynh đệ của mệnh tạo, là đại biểu cho anh em của mệnh tạo, vì vậy gọi là "tha cung". (3) Từ cung mệnh đến cung huynh đệ là đi theo hướng nghịch chiều kim đồng hồ, cũng là cung đi theo hướng tình cảm.

Cung huynh đệ thấy Hóa Lộc: lúc lấy cung quan lộc làm chuẩn, là ý tượng ham muốn hiểu biết bị khóa lại; lấy mệnh tạo để nói, là thiếu ý niệm chủ động học hỏi.

Cung huynh đệ thấy Hóa Quyền: là thiếu động lực và thiếu độ tích cực trong chuyện học hỏi; lấy mệnh tạo để nói, là năng lực tinh thần kiềm chế, cần phải được khơi động mới có thể phát huy. Hóa Quyền ở "tha cung" là ý tượng: mệnh tạo là người khá bị động, dù có ham muốn được thành tựu, thường thường vẫn thấy thiếu năng lực thực hiện và sự kiên nhẫn.

Cung huynh đệ thấy Hóa Khoa: là tri thức và năng lực tinh thần không có thực lực rõ ràng, thành quả không rõ rệt, chỉ lúc được khơi động mới bộc lộ rõ sở học.

Cung huynh đệ thấy Hóa Kị: là năng lực tinh thần và thể lực sẽ không được như ý; dễ hiểu sai nội dung, hiểu sai nguyên nghĩa; dù ham học tập, thậm chí là rất thông tuệ, nhưng lại kém về phương diện tiêu hóa kiến thức, cho nên trong não sẽ chất đống tri thức như núi, trừ phi được khơi động và kích thích mới chỉnh lí, sửa sang; vì vậy mà kéo dài thời gian, cho nên không loại trừ sẽ xảy ra tình huống hiểu lầm, tạo thành chướng ngại trong cách biểu đạt.

Xem Tài Phú Từ Cung Huynh Đệ

Trong Tử Vi Đẩu Số, cung huynh đệ ngoại trừ dùng để luận đoán về quan hệ anh em, nó còn là "kho tiền": sau khi cung tử nữ làm tiêu hao tiền bạc, cung huynh đệ là nơi kết toán. Vì cung huynh đệ là cung vị điền trạch của cung tài bạch, cho nên địa vị của cung huynh đệ rất quan trọng trong việc luận đoán tài phú.

Trong mệnh bàn, đối cung của cung huynh đệ là cung nô bộc, tuyến huynh nô này khá trọng yếu. Cung tài bạch là cửa ngõ của hành vi giao dịch tiền bạc; dù cửa ngõ này có sự qua lại phức tạp hay đơn điệu, nhưng tiền bạc có dư giả hay không mới là điều quan trọng, mà cung vị kiểm tra tiền bạc đầy vơi là cung huynh đệ. Như đã biết, cung vị tài bạch của cung điền trạch là cung huynh đệ. Điều này cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa cung huynh đệ và cung điền trạch, vì cung huynh đệ là cung vị giao dịch của cung điền trạch. Những người có nhiều nhà, nhiều bất động sản (có thể luận giải từ cung điền trạch), nếu muốn tính toán giá trị tiền bạc, cũng phải xem xét đánh giá từ cung huynh đệ. Nếu muốn bán nhà, xem xét cung huynh đệ của lưu niên có thể cho biết có thuận lợi hay không, có lời hay không, tăng vốn hay thâm vốn.

Cung quan lộc là cung vị khí số, là cung vị thuộc lãnh vực tinh thần; ý nghĩa của cung vị khí số không phải là bình thường. Lấy cung tật ách làm ví dụ, cung huynh đệ là cung vị khí số của cung tật ách; bệnh tật ở cơ thể có thể lấy cung tật ách và cung mệnh để giải đoán, nhưng lúc trị liệu bệnh đau, xem có hung hiểm không, có nguy đến tính mạng không, thì cần phải xem xét phối hợp với các sao ở cung huynh đệ.

Cung huynh đệ có Hóa Lộc

Trong tay mệnh tạo có rất nhiều nguồn vốn có thể vận dụng, bản thân còn cân bằng thu chi, để dành tiền bằng thái độ tích cực, vì vậy đủ điều kiện để thành người giàu có.

Cung huynh đệ có Hóa Quyền

Mệnh tạo cần phải có tâm lí chuẩn bị và biện pháp dự phòng, vì lưu lượng tiền mặt xoay chuyển có thể rất nhanh và rất nhiều; việc lập kế hoạch điều độ tiền mặt và quản lí rủi ro cần phải thận trọng hơn. Tốt nhất là mệnh tạo phải có khoản tiền dự trữ bắt buộc để dự phòng.

Cung huynh đệ có Hóa Khoa

Có vận khí tốt, phòng chống được tình huống bị "cướp tài", bất kể ở vào hoàn cảnh nào cũng vẫn có tiền để dùng. Tốt nhất là nên có biện pháp dự phòng, dành sẵn một khoản tiền dùng cho trường hợp khẩn cấp bất ngờ. Bản thân mệnh tạo cũng cần phải kiểm soát việc cho vay mượn tiền một cách thận trọng, để bảo vệ số tiền đã tích lũy được.

Cung huynh đệ có Hóa Kị

Cần phải thận trọng về phương diện điều độ luân chuyển tiền bạc, để dự phòng trường hợp gặp trở ngại hoặc vì cho vay mượn không thỏa đáng mà gặp sự cố; thường xảy ra hiện tượng thắt chặt tài chính, vì vậy mệnh tạo nên tuân thủ nguyên tắc cân bằng thu chi, và mang một phần tiền gởi ở hộc an toàn trong ngân hàng hoặc tài khoản nước ngoài.

Cung huynh đệ vô chính diệu

Dù có tài sản rất lớn, nhưng cần phải theo dõi tình trạng cân bằng giữa tài sản và nợ. Ngay cả khi trong tay có nhiều tiền mặt, mỗi tháng ít nhất cũng nên tiết kiệm một ít tiền. Tiền gởi trong ngân hàng thường sẽ có phần mang tên của người nhà vợ (hoặc chồng), cũng có thể có một phần dùng vào mục đích khác, vì vậy phần tiền gởi chính thức trong ngân hàng không nhiều.

Cung huynh đệ có Tả Phụ hoặc Hữu Bật

Tiền mặt trong tay thường là khá nhiều; bất kể trước khi kết hôn hay sau khi kết hôn, bản thân mệnh tạo đều có thói quen giữ tiền riêng, ngoài lí do để có cảm giác an toàn, còn có thể dùng để đầu tư vào việc khác hoặc tiêu xài mà người nhà không biết.

Cung huynh đệ có Lộc Tồn

Mệnh tạo rất biết để dành tiền; miễn đó là khoản tiền tiết kiệm, họ có thể giữ rất bảo đảm. Mệnh tạo sẽ thành người giàu có, vì ít có khả năng họ mang số tiền để dành đi đầu cơ hay đầu tư mạo hiểm; dù họ có làm vậy, thì thành hay bại cũng đều không ảnh hưởng gì đến cuộc sống thường ngày của họ.

Cung huynh đệ có Văn Khúc hoặc Văn Xương

Có thể cho rằng mệnh tạo là một nhà quản lí tài chính giỏi, thường kinh doanh nhiều ngành nghề. Ngoại trừ công việc kiếm tiền bình thường, họ có thể còn có lợi tức, cổ tức, nhà cho thuê, các khoản tiết kiệm định kì, hoặc đầu tư.

Cung huynh đệ có Địa Kiếp hoặc Địa Không

Lưu lượng tiền mặt của mệnh tạo có thể xảy ra tình trạng hao hụt khó giải, hoặc vô tình đánh mất tiền.

Cung huynh đệ có Linh Tinh, Hỏa Tinh hay Đà La

Khái niệm quản lí tài chính cần phải được sửa chữa và tăng cường. Họ có thể vì nhất thời xung động mà mang tiền tiết kiệm vất vả ra làm tiêu xài không còn gì. Thông thường sẽ vì tiêu xài vượt quá giới hạn, hoặc doanh thu xảy ra vấn đề, không được như dự tính, nên khó để dành được.

Xem Cách Cục Phá Tài Từ Cung Huynh Đệ

Ai cũng muốn phát tài, và ai cũng sợ "phá tài"; vậy điểm "phá tài" nằm ở chỗ nào? Người có kết cấu mệnh bàn thế nào dễ bị "phá tài"? Tại sao bị "phá tài"? Như đã biết, cung huynh đệ là cung vị điền trạch của cung tài bạch, và cũng là cung vị tài bạch của cung điền trạch, chủ về tiền gởi trong ngân hàng, giá trị bất động sản. Nó có vị trí rất quan trọng trong việc luận đoán tình hình tiền của; một khi nó bị Hóa Kị gây tổn thương, thường sẽ xảy ra hiện tượng "phá tài". Dưới đây xin liệt kê một số tổ hợp "phá tài" trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số.

Thái Dương Hóa Kị ở cung huynh đệ

Cần phải cẩn thận, vì "thổi phồng năng lực của mình" mà "phá tài"; do Thái Dương là chủ về quan lộc, có thể vì muốn làm ông chủ hoặc kinh doanh gì đó mà hao tài không ít. Tâm lí chuộng hư vinh đương nhiên là động lực để người ta tiến bộ, nhưng danh và thực không tương xứng thường thường sẽ chuốc phiền phức; phàm chuyện gì cũng phải tự lượng sức mà làm, muốn làm ông chủ phải đợi cho đến khi có đủ vốn. Ngoài ra, Thái Dương còn tượng trưng cho bậc trưởng bối phái nam, phải đặc biệt cẩn thận trong chuyện qua lại tiền bạc với họ.

Thái Âm Hóa Kị ở cung huynh đệ

Thái Âm là "tài tinh" (sao tiền tài), còn tượng trưng cho cảm xúc của con người. Nếu Thái Âm ở cung huynh đệ mà không phải là cung nhược, là chủ về tích lũy được một số tiền khá khá. Nhưng nếu Thái Âm Hóa Kị thì phải cẩn thận đề phòng vì đầu tư không thích đáng mà "phá tài", nhất là về bất động sản; đầu tư liều lĩnh, sai lầm rất có thể làm cho mệnh tạo mất cả chì lẫn chài. Ngoài ra, vì Thái Âm tượng trưng cho phái nữ, nếu gặp phụ nữ, mẹ hoặc vợ muốn mượn tiền hoặc muốn hợp tác, nhất định phải suy tính thận trọng.

Liêm Trinh Hóa Kị ở cung huynh đệ

Liêm Trinh là "tù tinh" (sao tù), thường thường ngầm báo có vấn đề thị phi về pháp luật; vì vậy người có Liêm Trinh ở cung huynh đệ phải đặc biệt cẩn thận, đừng để dính đến vấn đề pháp luật và "quan ti", nếu không sẽ làm hao tốn tiền bạc. Ngoài ra, vì Liêm Trinh hóa khí làm "tù", nên có hàm ý "tự khép kín"; nếu Liêm Trinh Hóa Kị ở cung huynh đệ hoặc cung điền trạch, là chủ về thường hay túng thiếu, rất khó có tiền gởi trong ngân hàng; mệnh tạo cần phải thận trọng trong việc đầu tư và quản lí tài chính.

Cự Môn Hóa Kị ở cung huynh đệ

Thông thường người ta chỉ nói Cự Môn là sao chủ về điều tiếng thị phi, nhưng thực ra nó còn có liên quan đến y liệu và ruộng vườn, đất đai, nhà cửa. Nếu Cự Môn Hóa Lộc ở cung điền trạch, cung tài bạch hoặc cung huynh đệ, rất có thể trở nên giàu có. Giả sử Cự Môn Hóa Kị ở cung huynh đệ, phải cẩn thận đề phòng, kẻo bị người ta lừa gạt mà "phá tài". Phàm những thứ như tự xưng là "thông tin nội bộ" thì đừng bao giờ thử, hoặc những cú điện thoại hay tin nhắn đại loại như "chúc mừng bạn đã được trúng thưởng", v.v... đều phải thận trọng phán đoán thật giả. Ngoài ra, người cung huynh đệ có Hóa Kị phần nhiều dễ phạm họa tiểu nhân; giữa bạn bè một khi có dính dáng đến tiền bạc đều phải đặc biệt cẩn thận.

Thiên Cơ Hóa Kị ở cung huynh đệ

Nếu Thiên Cơ Hóa Lộc hay Hóa Quyền ở cung huynh đệ, có thể được anh chị em trợ giúp mà kiếm được tiền. Giả thiết Thiên Cơ Hóa Kị, có thể vì thông tin sai lầm mà "phá tài"; càng phải cẩn thận đề phòng vì anh chị em mà hao tài. Ngoài ra, Thiên Cơ có liên quan đến vấn đề thiên di; Thiên Cơ Hóa Kị thì người làm việc ở phương xa phải đặc biệt chú ý, đừng để số tiền kiếm được bị thua lỗ hết, rồi lại phải bôn ba vất vả.

Thiên Đồng Hóa Kị ở cung huynh đệ

Thiên Đồng là sao chủ về hưởng phước; một khi Hóa Kị ở cung huynh đệ, thì cần phải đặc biệt chú ý "vì ham chơi mà mất hết chí khí"; có một số người vui chơi giải trí, hoặc vì thị hiếu mà tiêu xài hết số tiền khổ sở tích lũy lâu nay. Ngoài ra, Thiên Đồng thuộc thủy, còn chủ về thông tin và miệng lưỡi; nếu Thiên Đồng Hóa Kị ở cung huynh đệ, mệnh tạo nhất định không được nghe tin đồn đại sai lạc mà liều lĩnh đầu tư, cần phải siêng năng làm việc mà kiếm tiền. Biện pháp cân bằng chi tiêu là cách chắc chắn nhất để không bị thiếu hụt.

Vũ Khúc Hóa Kị ở cung huynh đệ

Vũ Khúc là một "tài tinh" rất quan trọng, thuộc tính của nó được coi là tiền tệ, tài chính; cho nên cung huynh đệ có Vũ Khúc Hóa Kị thì không nên đầu tư tài chính hay cổ phiếu, rất có thể vì vậy mà "phá tài". Ngoài ra, Vũ Khúc còn có tính cương nghị, quả quyết; một khi Hóa Kị rất có thể vì tính cách khăng khăng mà "phá tài". Người có mệnh cách này, trong vấn đề đầu tư và quản lí tài chính, nhất định phải tham khảo các thông tin chuyên nghiệp một cách toàn diện, không được võ đoán chủ quan.

Tham Lang Hóa Kị ở cung huynh đệ

Thông thường người ta cho rằng Tham Lang là sao chủ về tửu sắc, mà không biết nó còn chủ về trường sinh, đại biểu cho tinh thần phấn chấn và sức sống đi lên của một người. Do đó, lúc Tham Lang Hóa Kị ở cung huynh đệ thì phải tránh xa những nơi vui chơi "thanh sắc", còn phải chú ý sức khỏe, đừng để vấn đề sức khỏe làm "phá tài". Dù việc kiểm tra sức khỏe không phải là một khoản chi phí nhỏ, nhưng để giàu có hơn trong tương lai thì chuyện này không được tiết kiệm, nếu không sau này sẽ khó khăn vô cùng.

Văn Khúc Hóa Kị ở cung huynh đệ

Văn Khúc là sao văn nghệ, cũng là sao đào hoa; nếu Văn Khúc ở cung phu thê hoặc cung tử nữ, thường thường chủ về sự kiện đào hoa. Nếu ở cung tài bạch, thì có thể đảm nhiệm công việc về chữ nghĩa hay nghệ thuật. Nhưng giả sử Văn Khúc Hóa Kị ở cung huynh đệ, phải chú ý, nếu không cẩn thận sẽ dễ xảy ra sơ sót về văn tự, khiến mệnh tạo bị "phá tài" nặng nề. Ngoài ra, những chuyện tình lãng mạn "phong hoa tuyết nguyệt", nếu mệnh tạo xử lí không tốt cũng sẽ làm túi tiền bị thủng.

Văn Xương Hóa Kị ở cung huynh đệ

Văn Xương và Văn Khúc tuy có thuộc tính ngũ hành khác nhau, nhưng ý tượng của chúng lại tương tự nhau, đều là sao đào hoa và sao văn nghệ, chủ về phong lưu hào phóng. Nhưng so với Văn Khúc, thì Văn Xương vững vàng hơn, không trôi nổi phù phiếm. Nếu Văn Xương ở cung tài bạch, về công việc cũng có thể làm nghề liên quan đến máy tính, v.v... Nhưng nếu Văn Xương Hóa Kị ở cung huynh đệ, thì phải cẩn thận đề phòng có sai sót về văn thư, hợp đồng; một khi không cẩn thận sẽ làm tổn thất tiền bạc. Ngoài ra, cần phải chú ý vấn đề tiền bạc với "một nửa kia", có thể sẽ bị mất tất cả.

Cung huynh đệ bị Hóa Kị ở cung nô bộc xung kích

Cung nô bộc là đối cung của cung huynh đệ, cũng là cung vị chủ về bạn bè; lúc cung nô bộc có Hóa Kị, "kho tiền" sẽ bị ảnh hưởng không tốt. Do đó, người có kết cấu này không nên tùy tiện hợp tác với bạn bè; việc đầu tư vốn cũng phải cố hết sức đừng dính đến bạn bè, để tránh sau này mất tiền đền bù cho họ.

Xem Trở Ngại Trong Tình Yêu Từ Cung Huynh Đệ

Tìm ra được nhân tố gây trở ngại trong tình yêu thì sẽ hạnh phúc hơn. "Một nửa kia" yêu theo kiểu "bắt cá hai tay"? Thiếu giao lưu, thường cãi vã nhau? Bị bậc trưởng bối trong nhà ngăn cản? Cứ cãi vã nhau hoài đến chán nản, mệt mỏi? Vì tình cảm bốc đồng mà yêu nhau, sau đó tình cảm nguội lạnh? Trong 12 cung, vị trí cung huynh đệ ở giữa cung mệnh và cung phu thê. Lúc luận đoán về tình cảm có thể xem nó là cầu nối giao lưu giữa vợ chồng. Nếu trong cung huynh đệ có các sao hung sát, lúc hai người giao lưu với nhau, trong nháy mắt tình thế có thể sẽ thay đổi rất lớn.

Cung huynh đệ có Văn Xương, Văn Khúc

Là biểu thị thế giới của hai người giao lưu hòa hợp; nhất là Văn Khúc rất giống như loại keo dính, dù vợ chồng có cãi vã dữ dội, thậm chí là dùng đến tay chân và nước mắt, nhưng sau khi cảm thông thì lại dính nhau như keo.

Cung huynh đệ có Hóa Khoa

Cung huynh đệ có Hóa Khoa có tác dụng hóa giải xung đột giữa vợ chồng rất hữu hiệu; còn tượng trưng cho bậc trưởng bối đóng vai trò người hòa giải cho hai bên. Hóa Khoa có tác dụng làm cho hai bên dựa vào lí tính để phán đoán sự tình đúng sai và thậm chí là thỏa hiệp nhau; dù cuối cùng hai người vẫn không cách nào sống với nhau đến bạc đầu, cũng không đến nỗi nói xấu hay thù nghịch nhau!

Cung huynh đệ có Hóa Kị

Ý tượng là, bất kể trước hay sau khi kết hôn, trưởng bối của "một nửa kia" đều thuộc phe phản đối; bất kể mệnh tạo chịu ủy khúc thế nào, và luôn cố gắng làm cho mọi chuyện được tốt đẹp, cũng khó làm cho họ vui lòng, tạo thành trở lực lớn giống như cái hố sâu chặn ở đường đi. Trừ phi các sao ở cung phúc đức cát tường, và các sao ở cung thiên di có tác dụng tốt đẹp; nếu không, dù tình nhân ưu tú, cuối cùng cũng phải chịu thua sức mạnh của Hóa Kị!

Cung huynh đệ có Hỏa Tinh, Linh Tinh

Những lúc hai vợ chồng "đàm phán", cần chuẩn bị "nước đá" để hạ nhiệt bầu không khí đang bốc lửa, hoặc chuẩn bị bình cứu hỏa để chữa cháy... vì tất nhiên hai bên sẽ tranh cãi lớn tiếng, ầm ĩ. Nhưng "giảng bài bằng những lời lẽ khó nghe" cũng là một "pháp môn phương tiện", có thể "xả" những ấm ức chất chứa trong lòng. Chỉ cần các sao ở cung phu thê thuộc loại lí trí, còn các sao ở cung phúc đức không bị hung tinh xâm phạm, thì hai người có thể dùng phương thức "đàm phán" bằng những lời lẽ khó nghe để hóa giải "chướng khí" trong lòng.

Cung huynh đệ có Địa Kiếp, Địa Không

Con đường giao lưu đầy chướng ngại, hai bên giống như bị một cái biển lớn ngăn cách, dù không muốn nhưng không chịu nói ra, còn khi nói ra thì rất dài dòng lê thê... Cuối cùng vấn đề vẫn không giải quyết được, có khả năng lại xảy ra cuộc tranh chấp khác. Cung huynh đệ thấy Địa Không, Địa Kiếp, lúc nam nữ giao du sẽ hao tổn tinh thần, sức lực, thời gian... nhiều hơn người bình thường. Vì con đường đạt tới hạnh phúc có thể rất gập ghềnh khó đi, cho nên thường thấy có người trông ngóng tình yêu. Phần nhiều người cung huynh đệ có Địa Không, Địa Kiếp là thuộc mẫu người si tình khờ dại.

Cung huynh đệ có Lộc Tồn

Dù cãi vã nhau rất dữ dội, thậm chí còn động tay động chân, nhưng sau đó cũng sẽ ân ái, hạnh phúc như trước. Người có kết cấu mệnh bàn này là điển hình của mối tình oan gia. Lúc hai người không còn cãi vã, đấm đá nhau, thường là khi giữa hai người đã xảy ra "vấn đề rất nghiêm trọng", không cách nào giải quyết được; đây mới là điều đáng lo lắng!

Cung huynh đệ có Cự Môn hoặc tinh hệ Cự Môn

Thường thường có ý tượng là: tình yêu giữa hai người ở trong bầu không khí u ám bao phủ; trong đó có sự hiểu lầm khó mở miệng giao lưu trao đổi. Hoài nghi chính là vấn đề của sự bế tắc. Hai bên phải mang vấn đề ra bàn bạc một cách thẳng thắn, như vậy mới cởi mở được tâm tình; đây là phương cách tốt nhất để thông hiểu nhau, làm tăng thêm tình cảm.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn