Bài tổng quan
Phân Biệt Ngã Cung, Tha Cung Và Cung Âm, Cung Dương
Ngã cung và tha cung, cung âm và cung dương là hai cách phân loại được dùng liên tục khi luận phi hóa. Về ngã cung và tha cung, các thuyết của Khâm Thiên Môn, Hà Lạc phái và Cửu Thiên Phi Tinh có nhiều chỗ khác nhau; đối chiếu chúng giúp hiểu vì sao bốn cung mệnh, tài, quan, điền được gọi là cung số sinh theo số Hà Đồ, cùng cách vận dụng bốn cung này trong thực tế. Về cung âm và cung dương, bốn cung phụ, tật, huynh, nô được xem là tiền của người khác, đồng thời là tuyến tử vong khi bị Hóa Kỵ xung. Ngoài lối chia chẵn lẻ quen thuộc, Tứ Hóa Phái còn phối từng cặp cung âm dương với nhau, và chính cách phối cặp ấy mở ra một góc nhìn mới về quan hệ giữa các cung.
Phân Biệt Ngã Cung Và Tha Cung
Liên quan đến vấn đề phân biệt "ngã cung" và "tha cung", có mấy thuyết như sau:
- Các cung mệnh, tài bạch, tật ách, quan lộc, điền trạch, phúc đức là "ngã cung", còn lại là "tha cung".
- Các cung mệnh, huynh đệ, tài bạch, tật ách, quan lộc, điền trạch là "ngã cung", còn lại là "tha cung".
- Các cung mệnh, tài bạch, tật ách, quan lộc, điền trạch là "ngã cung", còn lại là "tha cung".
- Các cung mệnh, tài bạch, quan lộc, điền trạch là "ngã cung", còn lại là "tha cung".
Các thuyết trên đều có lí lẽ riêng, nhưng trong thực tế khiến cho người mới học không biết theo thuyết nào.
"Ngã cung" và "tha cung" có liên quan đến việc vận dụng quan hệ đối đãi nhau, cho nên mới chia ra "ngã cung" và "tha cung"; về nguyên tắc, lúc dùng để luận đoán tài quan, lục thân mới dùng, còn lại thì không dùng.
Lấy cung để nói, đại khái chia ra "sáu cung nội" và "sáu cung ngoại": "sáu cung nội" là các cung mệnh, tài, quan, tật, điền, phúc, là "ngã cung"; "sáu cung ngoại" là huynh, phu, tử, di, nô, phụ, là "tha cung".
Nhưng có điều đặc biệt cần chú ý là: luận về bản thân mệnh tạo thì các cung mệnh, tài, quan, điền (tức "1", "5", "9", "10") là cung số sinh; ngoài ra, luận về lục thân thì các cung mệnh, huynh, phu, tử (tức "1", "2", "3", "4") là cung số sinh.
Tại sao các cung "1", "5", "9", "10" là cung số sinh?
Muốn bàn về vấn đề này, trước tiên phải biết phân biệt các cung chức. Thông thường các cung chức được phân loại như sau:
- Các cung lục thân: cung mệnh, cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung nô bộc, cung phụ mẫu.
- Sáu cung dương: cung mệnh, cung phu thê, cung tài bạch, cung thiên di, cung quan lộc, cung phúc đức.
- Sáu cung âm: cung huynh đệ, cung tử nữ, cung tật ách, cung nô bộc, cung điền trạch, cung phụ mẫu.
- Sáu cung nội: cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức, cung tật ách.
- Sáu cung ngoại: cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung thiên di, cung nô bộc, cung phụ mẫu.
Trong cách phân loại trên, cách phân loại "sáu cung dương và sáu cung âm" là không có tranh cãi, vì cung dương là số lẻ, cung âm là số chẵn; nhưng cách phân loại "sáu cung nội và sáu cung ngoại" thì có ý kiến bất đồng, như sau.
Thông thường trong vận dụng Đẩu Số, người ta cho rằng sáu cung nội là cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức, cung tật ách, gọi là "ngã cung"; và sáu cung ngoại là cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung thiên di, cung nô bộc, cung phụ mẫu, gọi là "tha cung".
Các danh gia Tứ Hóa phái, ví dụ như Khâm Thiên Môn Sái Minh Hoành hoặc Đại Dịch Nguyên Tử Dương, đều lấy cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức, cung tật ách (tức các cung vị "1", "5", "6", "9", "10", "11") định là "ngã cung". Còn Phương Ngoại Nhân Tăng Quốc Hùng thuộc Hà Lạc phái thì lại cho rằng cung mệnh, cung huynh đệ, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung điền trạch (tức các cung vị "1", "2", "5", "6", "9", "10") là "ngã cung". Hai bên khác nhau ở cung phúc đức ("11") và cung huynh đệ ("2").
Ngoài ra, tác giả sách Cửu Thiên Phi Tinh xuất bản gần đây cho rằng sáu cung nội như cung mệnh, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức (tức các cung vị "1", "5", "6", "9", "10", "11") là "ngã cung"; còn đề xuất bốn cung trong số đó là cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung điền trạch (tức các cung vị "1", "5", "9", "10") gọi là "tự thân cung".
Trên là thuyết minh Bắc phái Phi Tinh Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số đã căn cứ câu "nhất lục cộng tông, cửu cung tàng khí" của Hà Đồ Lạc Thư để lập thuyết. Hà Đồ là "thể", Lạc Thư là "dụng", mà nguyên cục là thiên bàn, đương nhiên lấy Hà Đồ là thể để bài bố, tức là tuân theo nguyên tắc "nhất lục cộng tông" để định.
Vì mệnh bàn lấy các cung tam phương mệnh, tài, quan làm chủ thể của mệnh tạo, rồi áp dụng nguyên tắc "nhất lục cộng tông", sau khi nhập vào 12 cung để chia ra "ngã cung" và "tha cung": lấy cung mệnh là cung "1", cung "6" của nó là cung tật ách; rồi lấy cung tật ách là "1", cung "6" của nó là cung phúc đức (tức cung "11"); kế đến, lấy cung tài bạch ("5") là "1", cung "6" của nó là cung điền trạch (tức cung "10"); sau cùng cung quan lộc là "9". Nếu lấy "nhất lục cộng tông" để suy ra các cung nữa thì đã vượt quá 12 cung, cho nên không liệt kê ra đây. Tóm lại, dựa vào nguyên tắc "nhất lục cộng tông" để tính ra từ các cung tam phương mệnh, tài, quan thì gồm có: cung mệnh, cung tật ách, cung phúc đức, cung tài bạch, cung điền trạch, cung quan lộc; trong Bắc phái Đẩu Số gọi là "ngã cung" hoặc "sáu cung nội".
Phương Ngoại Nhân (Tăng Quốc Hùng) của Hà Lạc phái lấy cung mệnh, cung huynh đệ, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung điền trạch (tức "1", "2", "5", "6", "9", "10") định là "ngã cung". Trong đó có chỗ khác biệt với người khác: ông mang các cung tam phương mệnh, tài, quan dựa vào nguyên tắc "nhất lục cộng tông", đều chia ra lấy cung thứ "6", tức mệnh - tật, tài - điền, quan - huynh.
Bây giờ bàn đến vấn đề "tại sao các cung vị '1', '5', '9', '10' là cung số sinh?", cũng không phải như tác giả của Cửu Thiên Phi Tinh lấy "tự thân cung" gọi là "cung số sinh". Về lí luận, phải xem lại "số của Hà Đồ". Sách Dịch học khải mông nói: "Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi; địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi; thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi; địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi; thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi. Số của Hà Đồ lấy số sinh làm chủ, số sinh là 1, 2, 3, 4, 5, thống lãnh số thành là 6, 7, 8, 9, 10; số sinh ở trong (nội), số thành ở ngoài (ngoại); trong là chủ, ngoài là khách; lẻ và chẵn hợp lại sinh ra ngũ hành vậy." (Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi, địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi. Hà Đồ chi số dĩ sinh số vi chủ, dĩ sinh số nhất nhị tam tứ ngũ, thống suất thành số lục thất bát cửu thập, sinh số cư ư nội, thành số cư ư ngoại, trung giả vi chủ, ngoại giả vi khách, cơ dữ ngẫu hợp, ngũ hành sinh yên.)
Dựa vào nguyên tắc đã thuật ở trên, mang "ngã cung" hoặc "sáu cung nội" ra để luận đoán, tức là cung mệnh, cung tật ách, cung phúc đức, cung tài bạch, cung điền trạch, cung quan lộc; chiếu theo số thứ tự bài bố 12 cung thì cung mệnh là "1", cung tài bạch là "5", cung tật ách là "6", cung quan lộc là "9", cung điền trạch là "10", cung phúc đức là "11". Mà số của Hà Đồ lấy số sinh làm chủ, số sinh lớn nhất là "5", cho nên trong "ngã cung" hoặc "sáu cung nội", ngoại trừ cung mệnh là "1", cung tài bạch là "5" đương nhiên là "cung số sinh", còn các cung vượt quá "5" đều trừ đi "5" như sau:
- Cung tật ách: 6 - 5 = 1
- Cung quan lộc: 9 - 5 = 4
- Cung điền trạch: 10 - 5 = 5
- Cung phúc đức: 11 - 5 = 6
Sau khi trừ đi "5" thì thấy số của cung tật ách là "1"; vì "mệnh tật" là nhất thể, có mệnh mới có cơ thể, cho nên lấy cung mệnh "1" làm chủ. Còn cung phúc đức sau khi trừ "5" là "6", đã rơi vào phạm vi số thành, không được nhập vào. Do đó lúc vận dụng mới mang "cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung điền trạch" (tức các cung vị "1", "5", "9", "10") gọi là "cung số sinh".
Vận dụng cung âm thế nào?
Bốn cung phụ mẫu, tật ách, huynh đệ, nô bộc chia thành hai tuyến, là then chốt của mệnh bàn. Cung phụ mẫu là cung vị tài bạch của cung nô bộc, cung tật ách là cung vị tài bạch của cung huynh đệ, cung huynh đệ là cung vị tài bạch của cung điền trạch, cung nô bộc là cung vị tài bạch của cung tử nữ; cho nên cung phụ mẫu, cung tật ách, cung huynh đệ, cung nô bộc là tiền bạc của người khác.
Nếu cung mệnh của lưu niên phi Hóa Lộc, Hóa Quyền nhập cung âm (như phụ, tật, huynh, nô) là chủ về năm đó có thu hoạch; nhưng lúc lại chuyển phi Hóa Kị nhập cung âm, thì sau khi mệnh tạo thu hoạch lại đem cho người khác, trừ phi lại chuyển phi Hóa Kị nhập cung điền trạch của nguyên cục hoặc tam hợp của cung mệnh thì do bản thân tiêu xài. Nếu phi Hóa Lộc, Hóa Quyền nhập cung tử nữ số âm, thì cũng kiếm được tiền, nhưng chỗ khác nhau là cầm tiền chi ra nhiều, nhưng tiền kiếm được thì ít, tức có tượng chi ra, cũng có ý tượng: muốn kiếm tiền thì phải cầm tiền chi ra trước. Cho nên rơi vào cung tử nữ, thực tế mà nói, là không thực sự cát, là cát giả; nhưng nếu lại chuyển phi Hóa Kị nhập cung điền trạch, thì mới định là lợi thực, cát thực.
Cung tật ách là thể của mệnh, là kho của quan lộc, là tình trạng quản lí tiền bạc của mệnh tạo. Cung huynh đệ là mẹ của mệnh, là thể của quan lộc, là kho của tài bạch. Cung nô bộc là tiên thiên tạo hóa của mệnh, là cung vị "nhất khí sinh tử", là tình trạng thăng giáng quan lộc của mệnh tạo, là tình hình thu chi tài bạch của mệnh tạo.
Cung phụ mẫu là cung vị điền trạch của cung phu thê, cung tật ách là cung vị điền trạch của cung quan lộc; cho nên cung phụ mẫu và cung phu thê là cùng tổ, cung tật ách và cung quan lộc là cùng tổ, cùng thuộc loại chủ về tuổi thọ, vì có câu nói: "Kị nhập cung phụ mẫu xung cung tật ách và Kị nhập cung phu thê xung cung quan lộc là Kị nhập tuyến tử vong". Tức là, Hóa Kị cùng tổ có thể nhập mà không được xung; Hóa Kị không cùng tổ thì không được nhập mà cũng không được xung, xung thì tử vong. "Tử vong" nói ở đây, đại khái là: sự nghiệp tử vong tức là phá sản, sập tiệm, mất chức; tiền bạc tử vong tức là phá sản, tổn tài, hao tài; hôn nhân tử vong tức là li hôn, ở hai nơi; hợp tác tử vong tức là tách phần hùn, không hợp tác nữa; cơ thể tử vong tức là thọ chung, v.v... chớ không đơn thuần chỉ sự chấm dứt mạng sống.
Bất luận cung nào, chỉ cần Hóa Kị phi nhập hai tuyến phụ tật, huynh nô đều chủ về cung phát xạ bị tổn thất. Nguyên nhân tổn thất phải xem sao Hóa Lộc ở đâu, phát sinh phản ứng gì với Hóa Kị, mới rõ được cát hung họa phúc.
Ý nghĩa của "ngã cung" và "tha cung" trong luận đoán
Trên là thuật quan niệm của một số danh gia Bắc phái liên quan đến vấn đề "ngã cung" và "tha cung". Đến đây xin nói rộng ra một chút để hiểu rõ ý nghĩa của "ngã cung" và "tha cung" trong luận đoán mệnh bàn Tứ Hóa phái.
Trong thực tế, các câu hỏi của người đến hỏi mệnh thường thấy nhất là: Có tiền hay không? Có lấy được chồng (vợ) tốt không? Mục đích cuối cùng đại khái là có thể thay đổi được vận rủi không? Liên quan đến vấn đề người sinh ra cùng một thời điểm: thông thường về trạng thái tâm lí, mức độ nhận thức về bản thân, họ đều sẽ có quỹ tích mệnh vận tương tự nhau. Dù họ sinh ra cùng một thời điểm, nhưng hoàn cảnh bên ngoài của họ nhất định là khác nhau; tuy vậy trong cùng một lưu niên, người sinh ra cùng một thời điểm thường thường về tâm lí nhận thức và phản ứng sẽ tương tự nhau. Dẫu sao, những người sinh ra cùng một thời điểm vẫn có những điểm khác nhau; ngoại trừ do hoàn cảnh sinh ra và hoàn cảnh trưởng thành có ảnh hưởng rất lớn, thì vấn đề cá nhân có thể làm thay đổi mệnh vận hay không vẫn là một câu hỏi lớn! Thử lấy góc độ của Tử Vi Đẩu Số để phân tích xem, người tri mệnh có thể "xu cát tị hung" hay không?
Như đã biết, trong Tử Vi Đẩu Số, ngoài các khái niệm như cung vị, cung chức, "hình phú" của các sao, tứ hóa và phi hóa, còn một khái niệm tối quan trọng khác được dùng làm cơ sở để luận đoán, đó là phân biệt "ngã cung" và "tha cung". Khái niệm này có thể giải thích câu hỏi vừa nêu ở trên. Trong Tứ Hóa phái, các "ngã cung" tượng trưng cho ý chí, cách suy nghĩ, hành vi tạo tác của bản thân mệnh tạo; còn các "tha cung" là tượng trưng cho hoàn cảnh và người mà mệnh tạo tiếp xúc. Nói một cách đơn giản, "ngã cung" là bộ phận mệnh tạo nắm trong tay, còn "tha cung" là những gì bị người khác kiểm soát. Cho nên người có tứ hóa năm sinh ở "ngã cung", bất kể là điểm xuất phát của dục vọng, cách thức đạt được mục đích, hay thành quả cuối cùng, thảy đều xoay quanh bản thân mệnh tạo, dựa vào năng lực bản thân mà nâng cao, do bản thân nắm các nguồn lực để đạt thành mục tiêu của mình. Vì vậy người có Lộc Kị ở "ngã cung" thường có thể thoát khỏi vỏ kén mà chui ra. Còn tình huống Lộc Kị ở "tha cung" thường thường phải đợi người khác; mệnh tạo đã mang quyền quyết định giao vào tay người khác, thậm chí mang thành quả dâng cho người ta, gây ra tổn thất đối với bản thân.
Trên cơ sở lí luận này, có thể nhận thức một cách đơn giản rằng điểm bay vào của Hóa Lộc và Hóa Kị sẽ quyết định kết quả thành bại; còn có thể biết rằng "ngã cung" là cái ta muốn, cái có thể kiểm soát, cho nên hiện tượng can cung phi xuất tứ hóa nhập ngã cung cũng là nguồn mà mệnh tạo có thể kiểm soát. Nói một cách khác, nếu phát hiện cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc, còn Hóa Kị nhập cung phu thê, tất sẽ có sự ỷ lại vào người phối ngẫu, có biểu hiện bám vào người phối ngẫu, hơn nữa sẽ dễ làm lệch trọng tâm của cuộc sống, không tự biết mình đã mang áp lực đổ lên người phối ngẫu, cuối cùng sẽ tạo thành tình trạng Kị xung cung quan lộc, gây ra sự đả kích về mặt tinh thần, thậm chí ảnh hưởng đến biểu hiện trong nghề nghiệp. Bởi vì mọi thứ đều bắt nguồn từ cung mệnh phi xuất tứ hóa, tức là do bản thân gây ra ảnh hưởng, cho nên bản thân có thể kiểm soát, khống chế để thay đổi. Tác động của Hóa Lộc không thích đáng sẽ làm cho tác động của Hóa Kị không thích đáng theo. Thử không phát động sao Hóa Lộc này, sẽ có thể tránh được những tổn hại do sao Hóa Kị gây ra, còn có thể làm thay đổi một phần hướng đi của mệnh vận, có thể "xu cát tị hung", và đây cũng là mục đích của việc luận mệnh.
Cho nên, nếu hiểu được một cách chính xác ý nghĩa của "ngã cung" phi xuất tứ hóa, có thể tu sửa cách nhìn và hành vi lâu nay của bản thân. Hành vi tạo tác này sẽ ảnh hưởng đến biên độ của các tình huống xảy ra trong quỹ tích mệnh vận ở những người cùng một thời gian sinh ra, từ đó tạo thành sự khác biệt giữa họ. Đây là nguyên tắc "thường biến" mà tiền bối Viên Thụ San xếp vào mục thứ hai trong "Tinh gia thập yếu". Từ cổ chí kim các tinh tướng gia cao thủ đều không hoàn toàn theo "túc mệnh luận", mà họ muốn người đến hỏi hiểu được hoàn cảnh của bản thân, biết điều gì có thể làm và điều gì không nên làm.
Tự hóa ở "ngã cung" và "tha cung"
Lúc lấy "ngã cung" và "tha cung" để phân loại các cung trong mệnh bàn, khi vào đại vận thứ hai, nhất định là cung mệnh của đại vận ở "tha cung". Tính chất của các sao ở "tha cung", về lí luận, đương nhiên mệnh tạo không có bản năng thiên phú đó. Đại vận thứ hai nếu không phải cung phụ mẫu thì cũng là cung huynh đệ; về tình cảm mà phải phân biệt rạch ròi thì quá miễn cưỡng, rốt cuộc cũng đều là máu mủ tình thân, nhưng cá tính, hình tượng, hành hạn, sự cảm thụ và cảnh ngộ gặp phải trong cuộc đời, v.v... của mệnh tạo, so với song thân và anh em, nhất định là khác nhau. Cho nên có thể mang các sao ở cung phụ mẫu và cung huynh đệ của nguyên cục (tức các sao của đại vận thứ hai) đi làm một cuộc kiểm tra để thấy sự khác biệt: rõ ràng là mệnh tạo không có những tính chất này.
Về vấn đề này, cổ nhân đã có hệ thống mã hóa rất hoàn mĩ, đó chính là động thái cung tự hóa, phi hóa. Ví dụ như cung huynh đệ tự Hóa Khoa, chủ về tuy cũng là anh em với nhau, nhưng anh em ít được song thân che chở hơn mệnh tạo. Ở đây chưa tính đến tác dụng của chính tinh, vẫn có thể nói là anh em thiếu lực phù hộ, còn nhờ mệnh tạo dốc sức giúp đỡ. Xét ở góc độ khác, đây là chủ về anh em của mệnh tạo có thái độ làm việc khá tích cực và trực tiếp, không đạo đức giả, không bị hào quang của Hóa Khoa lôi kéo, kiềm chế. Hiện tượng tự Hóa Khoa này cũng là biểu thị: anh em của mệnh tạo ở một số phương diện sẽ tự tìm kiếm sự may mắn.
Nhưng lúc luận đoán, không được vì cung huynh đệ tự Hóa Khoa mà nói hành hạn này không cát. Vì tuy ít được che chở, nhưng tác dụng bảo vệ vẫn có công hiệu phòng xảy ra sự cố. Lúc hành hạn trùng điệp với cung huynh đệ là vào đại vận thứ hai, đối với mệnh tạo mà nói, trong vận này sẽ mở rộng các mặt của cuộc sống, đương nhiên bao gồm cả phạm vi do sao tự Hóa Khoa chủ đạo. Nhưng nếu vì đại vận thứ hai có tự Hóa Khoa mà cho rằng đây là điểm tốt, thậm chí dựa vào các tính chất của Hóa Khoa mà luận mệnh, thì nhất định sẽ dẫn đến sai lầm. Vì trong đại vận thứ hai, mệnh tạo còn phải đối mặt với các mặt cuộc sống do các sao không Hóa Khoa biểu thị, tức là phương diện không có tác dụng của Hóa Khoa. Muốn biết phương diện không có tác dụng của Hóa Khoa sẽ dẫn đến sự kiện gì, thì phải truy cứu "tam phi hóa" còn lại, xem chúng có tác dụng gì trong mệnh bàn mà định.
Cần phải biết rõ cung huynh đệ là "tha cung", cho nên hiện tượng sao trong cung này tự hóa là "khiếm khuyết" của mệnh tạo. Nhưng nếu thuận theo chiều kim đồng hồ đến đại vận thứ ba (cung phúc đức của nguyên cục), mà thấy sao trong cung này tự Hóa Khoa, thì đó là mệnh tạo "sáng tạo" ra được một Hóa Khoa khác, là nhận được tác dụng bảo vệ; vì cung phúc đức là "ngã cung"!
Hiện tượng tự hóa ở "ngã cung" và "tha cung" đương nhiên có tác dụng khác nhau. Ví dụ như trong cung huynh đệ có sao tự Hóa Quyền, lúc cung huynh đệ của nguyên cục trùng điệp với cung tài bạch của đại vận, vậy phải luận giải tình huống tự Hóa Quyền này mang lại hiện tượng gì? Vì cung huynh đệ là "tha cung", mà tự Hóa Quyền, có nghĩa là mệnh tạo "thiếu" lực tác động của Hóa Quyền. Cho nên trong đại vận này, nếu mệnh tạo tự kinh doanh làm ăn, lúc tình hình trở nên nghiêm trọng có thể xảy ra tình hình đáng tiếc như phải đóng cửa hoặc tạm thời đình chỉ kinh doanh. Nếu mệnh tạo thuộc nhóm đi làm hưởng lương, vậy rất có thể trong đại vận 10 năm này sẽ có năm bị thất nghiệp; nhẹ thì lúc đi làm không được hăng hái, không có cảm giác thành tựu. Nhưng nếu cung tài bạch của đại vận thuộc "ngã cung" (ví dụ trùng điệp với cung điền trạch của thiên bàn) mà thấy tự Hóa Quyền, vậy trong đại vận này mệnh tạo sẽ có thái độ nghiêm túc, hăng hái làm việc, xem trọng sự nghiệp; còn có thể tăng thêm thu nhập nhờ kiêm nhiệm chức vụ hay làm thêm bán thời gian.
Lúc lưu niên nhập "tha cung" trùng điệp với cung tài bạch của đại vận và gặp tự Hóa Quyền, mệnh tạo rất có thể sẽ đối mặt với tình trạng đình chỉ kinh doanh hoặc thất nghiệp. Lúc lưu niên nhập "ngã cung" trùng điệp với cung tài bạch của đại vận và gặp tự Hóa Quyền, rất có thể được thăng chức, tăng thêm quyền hành và chức trách, hoặc làm thêm nghề phụ để tăng thu nhập.
Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Hóa Kị ở trong các cung đều có tác dụng riêng của nó. Lấy trường hợp Hóa Lộc nhập cung mệnh làm ví dụ, đó là thiên nặng dục tình, thiên nặng hưởng thụ, truy cầu sung túc và hạnh phúc, xem trọng hình tượng bản thân, rất đậm nét chủ nghĩa cá nhân. Lúc Hóa Lộc ở cung quan lộc là ham học, đa năng; xem tri thức học vấn phong phú là yến tiệc của tinh thần. Lúc cung tài bạch thấy Hóa Lộc là muốn kiếm được nhiều tiền, trong lời nói và hành vi thường rất đậm tình người, thái độ lúc dùng tiền khá khoa trương. Hóa Lộc nhập 12 cung chức sẽ thấy 12 biểu trưng khác nhau, không được hễ thấy Hóa Lộc thì liên tưởng đến tiền bạc. Nếu vậy, lúc Hóa Kị năm sinh của nguyên cục gặp Hóa Lộc đại vận, làm sao giải thích hiện tượng này? Nếu xem Hóa Lộc gặp Hóa Kị là "Song Kị", vậy rõ ràng đây là chuyển vận, vận tốt. Vì Hóa Lộc năm sinh gặp Hóa Kị đại vận có thể biến thành "Song Kị" rất xấu, nhưng Hóa Kị năm sinh gặp Hóa Lộc đại vận thì lại không biến thành "Song Kị".
Đương nhiên, những điều thuật ở trên về trường hợp Hóa Kị năm sinh gặp Hóa Lộc đại vận hoặc Hóa Lộc năm sinh gặp Hóa Kị đại vận, còn phải truy cứu các cung mà Hóa Lộc và Hóa Kị năm sinh tọa thủ xem có thích đáng hay không, mới có thể đưa ra giải đoán tinh tế và chính xác!
Luận các sao ở "tha cung" bằng phương pháp so sánh
Như đã biết, gọi "ngã cung" tức là cung mệnh, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung phúc đức; các cung còn lại là "tha cung". Xét ở góc độ nhị phân pháp, lúc cung thiên di liên can đến vận ra bên ngoài, đi xa, xuất ngoại và duyên với người ở bên ngoài, thì nó là "ngã cung"; nếu không, nó cũng được xem là "tha cung" (xem thêm tiết "Cung thiên di biệt luận"). Đứng ở góc độ ý nghĩa của mặt chữ để giải thích "tha cung", đó là các cung phụ mẫu, cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung nô bộc, là chỉ những sinh mệnh thể không phải là "ta".
Thông thường, người học Tử Vi Đẩu Số có kinh nghiệm, đối với tính chất của các sao đều có khái niệm cơ bản, nhưng lúc phân tích luận giải các sao ở "tha cung" thì không thuyết minh rõ ràng được. Ví dụ, người có "Thái Dương, Thái Âm" ở cung mệnh (khoan nói đến cục ngũ hành), cung huynh đệ là "Vũ Khúc, Thiên Phủ"; không thể lấy tính chất của "Vũ Khúc, Thiên Phủ" để luận giải cá tính của anh em mệnh tạo, huống hồ anh em không chỉ có một người; mà cần phải đứng ở góc độ so sánh và tương giao để phân tích đặc tính của "Thái Dương, Thái Âm". Có nghĩa là, kết cấu mệnh lí "Vũ Khúc, Thiên Phủ" của anh em là điều mà bản thân mệnh tạo không có, hoặc đó là điều đang so sánh với mệnh tạo. Vì anh em đều có mệnh bàn của riêng mình, nên lúc luận đoán thiên bàn, về anh em chỉ có thể dùng phương pháp so sánh để suy diễn. Lúc luận đoán địa bàn, cũng có thể nói trong tay của mệnh tạo lúc nào cũng có rất nhiều tiền hoặc có tiền gửi cố định, bởi vì cung huynh đệ còn là "kho tiền", mà "Vũ Khúc, Thiên Phủ" rõ ràng là biểu thị một số tiền lớn. Dù như vậy, nếu không hiểu rõ ý nghĩa cục ngũ hành của "Thái Dương, Thái Âm" thủ mệnh ở cung Sửu, thì vẫn khó biện minh làm sao có được số tiền lớn; tóm lại vẫn không thể lấy "rất nhiều" để bao trùm tất cả. Xét ở góc độ tương giao giữa "Thái Dương, Thái Âm" và "Vũ Khúc, Thiên Phủ", cũng có thể nói trong số anh em có người có tiền hoặc có thành tựu hơn mệnh tạo; đây là vận dụng phương pháp so sánh hơn kém! Cho nên cục ngũ hành rất quan trọng trong phương pháp so sánh.
Phân Biệt Cung Âm Và Cung Dương
Ý nghĩa vận dụng các cung âm
(1) Hai tuyến cung phụ mẫu với cung tật ách, cung huynh đệ với cung nô bộc là bộ phận quan trọng của mệnh bàn Đẩu Số. Cung phụ mẫu của nguyên cục là cung vị tài bạch của cung nô bộc; cung tật ách là cung vị tài bạch của cung huynh đệ, và cũng là cung vị huynh đệ của cung tài bạch; cho nên cung phụ mẫu, cung tật ách, cung huynh đệ, cung nô bộc đều là kiếm tiền của người khác. Nếu cung mệnh của lưu niên phi Hóa Lộc và phi Hóa Quyền nhập cung âm (như cung phụ mẫu, cung tật ách, cung huynh đệ, cung nô bộc) là chủ về năm đó có thu hoạch; nếu lại chuyển phi Hóa Kị cũng nhập cung âm, là sau khi mệnh tạo thu hoạch lại mang cho người khác, trừ phi chuyển phi Hóa Kị nhập cung điền trạch hoặc cung tam hợp của cung mệnh thì bản thân tiêu dùng.
(2) Nếu phi Hóa Lộc và phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ (cũng là cung âm), thì cũng vậy, theo lí thì kiếm được tiền không lầm, nhưng chỗ khác nhau là cầm tiền chi ra nhiều mà tiền thu vào ít, tức có tượng "nhả ra", hoặc muốn kiếm tiền thì phải chi ra trước. Cho nên thực tế phi Hóa Lộc và phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ không phải là cát thực sự, mà chỉ là cát giả; nhưng nếu lại chuyển phi Hóa Kị nhập cung điền trạch, thì mới tính là lợi thực, cát thực.
(3) Cung tật ách là thể của mệnh; cung tật ách là kho của cung quan lộc; cung tật ách là tình trạng quản lí tiền bạc của cung tài bạch. Cung huynh đệ là mẹ của cung mệnh; cung huynh đệ là thể của cung quan lộc; cung huynh đệ là kho của cung tài bạch. Cung nô bộc là tiên thiên tạo hóa của cung mệnh, là cung vị "nhất khí sinh tử"; cung nô bộc là tình trạng tăng giảm của cung quan lộc; cung nô bộc là tình hình thu chi của cung tài bạch.
(4) Cung phụ mẫu là cung vị điền trạch của cung phu thê; cung tật ách là cung vị điền trạch của cung quan lộc; cho nên cung phụ mẫu và cung phu thê là cùng nhóm, cung tật ách và cung quan lộc là cùng nhóm, đều cùng thuộc hệ thống cung chủ về tuổi thọ. Vì vậy mới có thuyết: phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu xung cung tật ách, và phi Hóa Kị nhập cung phu thê xung cung quan lộc, là Kị nhập tuyến "tử vong". Tức là nói Hóa Kị cùng nhóm cung thì có thể nhập mà không được xung; Hóa Kị không cùng nhóm cung thì không thể nhập mà cũng không được xung, xung thì tử vong. "Tử vong" ở đây là: sự nghiệp tử vong thì phá sản, sập tiệm, mất chức, bị đuổi việc; tiền bạc tử vong thì phá sản, tổn tài, hao tài; hôn nhân tử vong thì li hôn, ở riêng; hợp tác tử vong thì tan rã, đường ai nấy đi; cơ thể tử vong thì thọ chung, v.v... không phải chỉ nói mạng sống không còn.
(5) Bất luận cung nào, chỉ cần phi Hóa Kị nhập hai tuyến "phụ tật" và "huynh nô", đều chủ về cung phát xạ bị tổn thất. Muốn biết nguyên nhân tổn thất thì phải xem phi Hóa Lộc nhập cung nào, có quan hệ đối đãi với Hóa Kị như thế nào, mới có thể rõ được đầu mối của cát hung họa phúc.
Khái niệm cung phối đôi âm dương
Khái niệm cung âm và cung dương, ngoại trừ căn cứ vị trí lẻ chẵn như đã thuật ở trước, còn có một khái niệm cung âm và cung dương khác. Tượng của hỗn thiên lấy trường hợp từ cung mệnh đi thuận là âm, đi nghịch là dương; số thuận nghịch cũng là "âm dương tương hỗ". Ví dụ như cung phụ mẫu và cung huynh đệ thành cặp âm dương đối đãi. Cung phúc đức và cung phu thê, cung điền trạch và cung tử nữ, cung quan lộc và cung tài bạch, cung nô bộc và cung tật ách, cung mệnh và cung thiên di, cũng đều thành những cặp âm dương đối đãi của nhau.
Cung là bắt chước tượng của tự nhiên mà bài bố; mà số của tự nhiên xuất phát từ Hà Đồ, Lạc Thư. Số âm dương của Hà Lạc có thể chia thành chẵn lẻ, tung hoành, sinh thành. Cho nên tượng của cung chức cũng có thể dựa vào kiến giải khác nhau mà phân chia âm dương. Có thuyết lấy cung chẵn lẻ để phân biệt âm dương, có sáu cung dương và sáu cung âm; có thuyết vận dụng bản cung và đối cung, lấy bản cung lập cực là dương, đối cung là âm.
Lí thuyết âm dương ứng dụng trong dự đoán học rất rộng. Ví dụ như: quá khứ là âm, tương lai là dương; lúc dương tận cũng là lúc sinh mệnh kết thúc.
Theo Tứ Hóa phái, các cung trong Tử Vi Đẩu Số đều có phối đôi âm dương. Ví dụ như cung mệnh và cung phu thê; nếu lấy quan hệ trong ngoài của cung mệnh làm chuẩn, vậy cung mệnh là dương, còn cung tật ách là âm.
Dưới đây là lấy quan hệ phối đôi của cung mệnh và cung phu thê để làm cơ sở luận thuật về quan hệ phối đôi của cung huynh đệ và cung tử nữ. Cung huynh đệ là thân nhân có quan hệ huyết thống, còn cung tử nữ là lấy mệnh tạo làm tác nhân giao du với bạn bè. Lúc dùng quan niệm này để thiết lập quan hệ âm dương, thì cung tử nữ ở đây không chỉ hướng con cái của mệnh tạo, mà chỉ hướng bạn bè của mệnh tạo ở bên ngoài.
Lại lấy cung tài bạch làm ví dụ: các sao trong cung tài bạch lúc đại biểu cho cửa ngõ giao dịch hay cách thức mưu sinh, vậy cung phối đôi của nó là cung thiên di. Cho nên lúc cung thiên di có Hóa Lộc là chuyện tốt đối với cung tài bạch, nhất là lúc mệnh tạo làm nhân viên nghiệp vụ, khách hàng của mệnh tạo khá nhiều.
Lại lấy cung mệnh và cung thiên di làm ví dụ: lúc cung mệnh là âm, cung thiên di là dương; do cung mệnh là quá khứ và hiện tại, còn cung thiên di là tương lai (ở trên đã nói tương lai là dương), cho nên lúc một người hết tuổi thọ, cũng là lúc dương tận, tức là không có tương lai. Nhưng quan hệ phối đôi của cung mệnh và cung thiên di cũng có thể giải đoán thành cung mệnh là dương còn cung thiên di là âm, vì sao? Bởi vì hình tượng của cung mệnh là rõ ràng dễ thấy, nên là dương; còn cung thiên di là ý thức về hoàn cảnh bên ngoài của mệnh tạo, ý thức là tồn tại ở trong đầu, vì vậy là âm. Cho nên cung nào cũng đều tồn tại thuộc tính âm và dương, tùy thuộc vào góc độ quan sát.
Cung tự hóa là động thái điều chỉnh bố cục các sao để ứng với nhu cầu của xu thế mệnh vận. Ví dụ, cung mệnh tự Hóa Kị; Hóa Kị là "thu vào", "chịu đựng", "tiếp nhận", "gánh vác"; đó cũng là nói mệnh tạo cần phải tái bổ sung tác dụng của Hóa Kị mới có thể "thỏa mãn" bài toán của vận thế, tiếp cận được nhu cầu thực sự của mệnh vận. Nhưng trách nhiệm nó phải "gánh vác" là gì? Đó là hậu quả của các tác dụng khác mà cung mệnh đã phi hóa (gồm phi Hóa Lộc, phi Hóa Quyền và phi Hóa Khoa). Lúc cung phu thê tự Hóa Kị, phải giải đoán thế nào? Trường hợp này có hai lập trường: một là, mệnh tạo thành lập điều kiện đối với người phối ngẫu, đó là đòi hỏi vượt quá giới hạn, tức mệnh tạo cho rằng người phối ngẫu phải gánh vác trách nhiệm nặng hơn nữa; hai là, cảm thụ của người phối ngẫu sau khi thành vợ chồng. Lúc cung mệnh và cung phu thê phối đôi, có thể căn cứ tác dụng của ba loại phi hóa khác của cung phu thê mà biết được đòi hỏi của mệnh tạo, và tình trạng người phối ngẫu nhận thấy mình phải gánh vác trách nhiệm vượt quá giới hạn; đương nhiên người ấy nhất định sẽ có cảm giác hụt hẫng.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
