Bài tổng quan
Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Diêu: tượng ý khi vào cung
Có sao khiến người ta cô độc, có sao khiến người ta nghi ngờ, có sao chỉ cần đứng nhầm chỗ là thành họa. Mỗi sao mang một kiểu số phận riêng, và cách chúng hiện ra ở từng cung…
Mục lục · 11 phần
- 01Thiên Cơ và Thiên Lương: hai sao thiện đi theo vận
- 02Thiên Tướng, Liêm Trinh và Cự Môn
- 03Vũ Khúc: sao quả tú
- 04Thất Sát: sát khí và quyền lực
- 05Phá Quân và Tham Lang: họa phúc của người thân
- 06Thiên Phủ, Thái Âm và vài sao khác
- 07Thiên Diêu ở cung Phu Thê: có thật là trùng hôn
- 08Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hình khi hóa Kỵ
- 09Vài ghi chú về nguồn gốc môn học
- 10Sao nào khiến người ta lười học
- 11Những nhận xét rời trên một lá số
Thiên Cơ và Thiên Lương: hai sao thiện đi theo vận
Thiên Cơ hóa khí là thiện, và khí ở đây nghĩa là sự vận hành. Khi lưu niên gặp Thiên Cơ thì sao ấy là sao thiện. Nếu lưu niên không gặp, khí số của Thiên Cơ chưa tới, lúc ấy Thiên Cơ chưa chắc đã là sao thiện. Thiên Cơ gặp Hóa Lộc thì chắc chắn là sao thiện.
Thiên Cơ và Thiên Lương đều là sao thiện. Hai sao ngồi cùng cung ở Mệnh thì người ấy không làm điều xấu. Tuy nhiên ở cung chung của hai sao, Thiên Cơ không được hóa Kỵ. Nếu đại hạn đi vào cung ấy thì sức khỏe lục thân, tức cha mẹ, không tốt. Cơ Lương ngồi ở Huynh Đệ, mà Phụ Mẫu lưu niên có Thiên Cơ hóa Kỵ, thì một trong hai bậc cha mẹ qua đời.
Đại hạn có Thiên Lương hội với "ám Văn Xương", tức Văn Xương nằm trước Lộc Tồn hai cung, thì lưu niên phải đi dạy học. Cung đối xung lại có Thiên Cơ tự hóa Lộc, nên tâm thiện, không hại người.
Thiên Tướng, Liêm Trinh và Cự Môn
- Thiên Tướng là sao nhiều chuyện, thích làm người hòa giải.
- Thiên Tướng tọa Mệnh: người gầy thì háo sắc, xung chiếu thì nhẹ hơn; người béo thì thích y phục lộng lẫy, nhà cửa sang trọng.
- Thiên Tướng đồng cung Hồng Loan: đào hoa nhục dục, bị xung thì nhẹ.
- Thiên Tướng đồng cung Thiên Diêu: tượng ma túy. Nếu rơi vào Nô Bộc thì bạn bè có người buôn bán hoặc hút. Rơi vào Phụ Mẫu rồi xung Tật Ách thì thân thể phải chống chọi với thuốc, hoặc cha mẹ nghiện. Rơi vào Phúc Đức, cung vốn là cung tự sát, thì có tượng uống thuốc độc.
- Liêm Trinh ở Mệnh là đào hoa thứ cấp, nhưng phải tham chiếu cung Phúc Đức. Nếu Phúc Đức có nhiều sao đào hoa thì Liêm Trinh cũng là đào hoa nhục dục như Tham Lang. Nếu nhập Quan Lộc thì đó là Quan Lộc chủ nhập chính vị.
- Liêm Trinh cần Thiên Tướng để chế sự ác của nó, Cự Môn cần Lộc Tồn để chế thị phi. Hai sao cùng cung thì có lực chế, bị xung chiếu thì không.
- Liêm Trinh đồng cung: y phục hoa lệ, nhà cửa đẹp để giữ thể diện.
- Cự Môn là cách giác sát, hay nghi ngờ, vì bị cách trở một góc nên thường sinh nghi. Cự Môn tốt nhất không nên rơi vào Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Vũ Khúc: sao quả tú
Vũ Khúc là tướng tinh, chủ quả tú, bất lợi cho lục thân và càng bất lợi cho cung Phu Thê. Vũ Khúc nhập Phu Thê thì người phối ngẫu tính cứng rắn. Nếu Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Phu Thê thì vợ chồng không hợp, vì Vũ Khúc vốn là quả tú lại thêm hóa Kỵ.
Một năm nọ, Vũ Khúc của thái tuế hóa Kỵ nhập Phu Thê bản mệnh rồi xung Quan Lộc: chuyện liên quan sự nghiệp, bận rộn. Nhưng thiên can cung Vũ Khúc ấy tự hóa Khoa nên vợ chồng ở chung cũng ít thời gian nói chuyện với nhau. Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Mệnh thì cô đơn, khó hòa hợp, không được ai tán thưởng hay đề bạt. Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu thì ít nói chuyện với cha mẹ, vì không có gì để nói.
Vũ Khúc hay Phá Quân ở tứ chính vị mà không phải Tý Ngọ thì là Dịch Mã. Con cái lớn lên ra ngoài mưu sinh, không ở bên cạnh. Nhập Phu Thê là Dịch Mã của người phối ngẫu, thời gian ở chung ít. Nhập Mệnh là Dịch Mã của chính ta, bôn ba, bận rộn, ra ngoài mưu tài.
Thất Sát: sát khí và quyền lực
Thất Sát là tướng tinh. Trong "số" chủ sát khí, mà số là sự vận hành, nên lưu niên gặp Thất Sát thì phải đề phòng tai họa. Ngồi ở Mệnh, Thất Sát là Quyền, chủ nắm quyền. Muốn hóa sát thành Quyền thì tam phương cũng phải hội sát tinh. Tử Vi gặp Thất Sát thì Tử Vi bị Thất Sát dùng, Thiên Phủ cũng thế, và hóa thành Quyền.
- Thất Sát tuyệt đối không được nhập Điền Trạch, kể cả của đại hạn hay lưu niên. Trong "số", chỉ Thất Sát và Kỵ nhập Điền Trạch mới đáng ngại, các cung còn lại không sao.
- Thất Sát nhập cung Thân giống như nhập Mệnh: sau 40 tuổi phải nắm quyền.
- Thất Sát tọa Tài Bạch, đồng cung với Thân: có tiền là phải đầu tư vào sự nghiệp, tiền không muốn nằm yên.
- Thất Sát tọa Quan Lộc của đại hạn: nhiều biến động. Sát và Liêm ở cung của đại hạn: nắm quyền.
Phá Quân và Tham Lang: họa phúc của người thân
Hai sao này đặt vào tay mình cả chuyện chồng vợ, con cái, bạn bè, và tốt xấu của mỗi mối quan hệ còn tùy chỗ đứng.
- Tham Lang chủ họa phúc, đào hoa, tiền tài và dính tới thọ nguyên.
- Phá Quân chủ họa phúc và là chủ tể của vợ chồng, con cái, bạn bè. Phá Quân ở Tý hoặc Ngọ thì không cần xem tứ hóa cũng biết rất tốt: vợ che chở, con hiếu thuận, có thành tựu. Không ở Tý Ngọ thì con cái có hiện tượng không thuận.
- Phá Quân nhập Tật Ách mang nghĩa con cái. Nếu hóa Kỵ thì con không nhiều và không có thành tựu. Phá Quân không rơi vào chính vị Tý Ngọ thì chắc chắn có mất mát: vợ chồng, con cái, bạn bè không trọn vẹn.
Thiên Phủ, Thái Âm và vài sao khác
- Thiên Phủ và Thái Âm là sao Lộc Khố. Thiên Phủ giống Tử Vi: nhập cung lục thân thì cô độc, nhập Nô Bộc thì hay nịnh người, nhập Phụ Mẫu thì mắt trọng lợi, lạc Phu Thê là đào hoa của bản thân và vợ xinh đẹp (gặp sát thì luận khác). Thiên Phủ nhập Phu Thê ở một trong bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức bốn cung mộ khố, thì người phối ngẫu có kho, có tiền.
- Thiên Đồng chủ tai, Cự Môn chủ miệng. Cự Môn hóa Kỵ thì miệng lưỡi không tao nhã. Tử Vi thuộc đầu, não bộ.
Thiên Diêu ở cung Phu Thê: có thật là trùng hôn
Quan niệm cũ cho rằng Thiên Diêu tọa Phu Thê thì phạm trùng hôn. Thực ra không đơn giản như vậy.
- Thiên Diêu tọa Phu Thê có hai nghĩa: người phối ngẫu có tướng mạo đẹp, và có duyên với người khác.
- Không thể quen người đầu tiên là lấy ngay. Người bạn đời của ta trước khi quen ta cũng đã có nhiều bạn trai hoặc bạn gái. Trước hôn nhân ngươi phong lưu thì ta cũng phong lưu, nên hai người không thể yêu lần đầu là cưới.
- Phu Thê phi Kỵ vào Huynh Đệ hay Nô Bộc thì đào hoa không dứt, mới có chuyện trùng hôn.
- Nếu thiên can Phu Thê là Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Mệnh, thì dù Phu Thê có Thiên Diêu cũng không phạm trùng hôn. Vì vậy muốn dùng Thiên Diêu ở Phu Thê để đoán trùng hôn thì nhất định phải nhìn thiên can của Phu Thê.
Vài dữ kiện đi kèm khi đọc cung Phu Thê: Tử Tức của Phu Thê mang can Ất, Thiên Cơ hóa Lộc tự chiếu: đào hoa nhiều. Nếu là hóa Kỵ thì đào hoa chấm dứt. Tử Tức của Phu Thê phi Lộc chiếu Tật Ách thì người phối ngẫu nhiệt tình, si mê ta. Phi Quyền nhập Tật Ách thì lên xe trước. Phu Thê phi Lộc nhập Phụ Mẫu thì người phối ngẫu có tiền hiếu kính cha mẹ ta, còn nếu Kỵ nhập thì không có tiền. Kỵ nhập, Kỵ xuất thuộc tứ chính vị, tức là vấn đề âm dương.
Phu Thê mang can Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Mệnh, mà Mệnh là Phúc Đức của Phu Thê: người phối ngẫu hưởng được phúc. Tật Ách của Phu Thê, tức Nô Bộc, có can Ất, Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ. Thiên Cơ hóa Lộc cho chiều cao trên 165 cm, Thái Âm hóa Kỵ tự xung vào Tật Ách của Phu Thê: người phối ngẫu cao và gầy. Tử Tức mang can Đinh, Thái Âm hóa Lộc nhập Kỷ Mùi, vị trí Khôn, nên con đầu là gái. Con thứ hai xem Tài Bạch can Bính, Thiên Đồng hóa Lộc nhập chính vị Tử Tức nên là con trai.
Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hình khi hóa Kỵ
- Văn Xương hóa Kỵ: hay phải sửa xe máy.
- Văn Xương, Văn Khúc hóa Kỵ nhập Điền Trạch: hay bị phạt giao thông, Cự Môn và Thiên Cơ cũng vậy.
- Văn Xương, Văn Khúc ứng với xe hơi. Nếu Xương hoặc Khúc rơi vào Điền Trạch mà có Kỵ nhập thì sẽ mua xe, xung chiếu vào Điền Trạch cũng có thể mua.
- Thiên Diêu hội với Hóa Kỵ ở Tật Ách: có thể gặp nạn nước. Phá Quân hóa Kỵ nhập Tật Ách, Văn Khúc hóa Kỵ hội Phá Quân, hoặc Văn Khúc hóa Kỵ nhập Tật Ách cũng có thể có thủy nạn.
- Thiên Hình đồng cung với Hóa Kỵ: có thể gặp nạn lửa. Những điều này vẫn phải thường xuyên kiểm chứng.
Vài ghi chú về nguồn gốc môn học
Tử Vi Đẩu Số cổ vốn gồm ba hệ: Kỳ Môn Độn Giáp Tử Vi Đẩu Số, Hà Lạc Lý Khí Tử Vi Đẩu Số và Tam Hợp Tử Vi Đẩu Số. Trong Đẩu Số còn có Hy Di Số, có thể dự đoán số anh em thiếu hụt, cùng việc con cái sống chết và số lượng.
Sao nào khiến người ta lười học
- Thiên Đồng tọa Quan Lộc: tính ham chơi, không thích học, học không nghiêm túc, vì đây là sao lười biếng rơi vào Quan Lộc.
- Thiên Phủ thông minh nhưng học không chuyên tâm. Các sao thọ thường có hiện tượng này: tọa Mệnh thì thông minh nhưng thích đọc thêm những thứ ngoài bài vở.
- Văn Xương, Văn Khúc đồng cung ở Phúc Đức: thích đọc văn nghệ, ngôn tình, tạp chí hoặc tiểu thuyết tình ái mà không thích môn chính khóa.
Những nhận xét rời trên một lá số
- Phá Quân tọa Nhâm Tý: con cái thông minh nhưng bướng bỉnh.
- Mệnh cung Đinh Mùi, Thiên Lương hóa Lộc: có phúc ấm của cha mẹ, chìa tay ra là cha mẹ cho tiền.
- Tử Tức Giáp Thìn tọa Tham Lang: con cái tốt, nhưng bản mệnh tọa Sát cùng Linh Tinh nên con không nhiều.
- Cung Mệnh nằm ở địa cung, nếu đơn tọa: người lạc quan, không thích tính toán thị phi.
- Vũ Khúc, sao quả tú, rơi vào Điền Trạch bản mệnh: ít con.
- Điền Trạch can Canh, Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Phúc Đức bản mệnh: có tiền tự mình tiêu nhưng không dám tiêu. Canh Thái Dương hóa Lộc ở Quan Lộc: tự lực kiếm tiền.
- Tài Bạch can Quý Mão, Phá Quân hóa Lộc: hợp tác với bạn bè. Nhưng Nô Bộc can Nhâm có Vũ Khúc hóa Kỵ nhập Điền Trạch nên bạn bè làm tổn tài của ta.
- Mệnh tọa Lộc, Khoa ở Thiên Di chiếu: một là lạc quan, hai là trường thọ.
- Kỵ năm sinh tọa Điền Trạch: sẽ mua bất động sản. Xung Tử Tức thì muộn hôn, nghĩa là mua nhà trước rồi kết hôn sau.
- Đinh Thái Âm hóa Lộc: làm ngành kỹ thuật. Mệnh tọa Thiên Lương: liên quan y học.
- Tài Bạch có Phá Quân hóa Lộc: kiếm tiền nhiều mặt, vì Phá Quân vốn chủ Dịch Mã.
- Kỵ năm sinh tọa Canh Tuất, Thái Dương hóa Lộc ở Quan Lộc: học hành tốt. Canh Thiên Đồng hóa Kỵ nhập Kỷ Dậu, đại hạn 22 đến 31 tuổi: trước 31 tuổi không phát tài.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
