Bài tổng quan
Hình phú Phá Quân: Hao tinh, Trúc la tam hạn, căn nguyên
Số tiền vất vả dành dụm nhiều năm có thể bay sạch trong một đêm — tiền bạc của Phá Quân đến nhanh mà đi cũng nhanh, nên cổ nhân gọi nó là hao tinh. Nhưng vì sao người xưa lại đặt sao ấy vào cung Tí thuộc quẻ Khảm, rồi lại thấy nó ở cung Ngọ thuộc quẻ Li? Biết được căn nguyên rồi thì lời chê trong cổ thư cũng chưa phải là lời cuối…
Ý tượng cơ bản của Phá Quân
Phá Quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, sát khí đằng đằng, trong mệnh số là hao tinh, tức sao hao tổn, chủ về họa phúc. Đây là sao chuyên quản chuyện vợ chồng, con cái và nô bộc, với hàm ý rằng người phối ngẫu, con cái và bạn bè đều làm hao tổn thời gian, tinh thần, tiền bạc của mệnh tạo — vì vậy mới thành hao tinh. Nó là đại sát tinh, giống như đội quyết tử, đội tiên phong trong quân đội, xung phong phá trận, lấy tranh đoạt và phá hoại làm mục đích.
Tính chất
Cương cường hiếu thắng, thích khai sáng, nhưng nóng nảy, thiếu nhẫn nại, ưa mạo hiểm đầu cơ, ưa cải cách thay đổi.
Không chú trọng bề ngoài, thích mới ghét cũ, bất mãn với hiện trạng, ưa phá lề lối, tính cương, ít hòa hợp.
Ương bướng, cuồng ngạo, đa nghi, lời nói thường có tính kích động xúi giục, dám nói dám làm, hơi thần kinh chất.
Bốn đặc điểm
Thương ghét rõ ràng, cực đoan, nặng tính chống đối, không thích bị trói buộc.
Với người mình thích thì thái độ rất gần gũi, sốt sắng; với người không hợp ý thì đến chào hỏi cũng lười biếng.
Phá Quân mang ý tượng bỏ cũ, cải cách, nên bất lợi về hôn nhân.
Quan sát sự việc rất nhạy bén, nặng tính đầu cơ; xem xét xong là dốc túi đánh một phen, chỉ trong nháy mắt đã thấy ngay thành bại.
Hình thái và vị trí địa lí
Vóc người ngũ đoản, eo lưng đầy đặn, khoảng cách giữa hai lông mày khá rộng; nữ mệnh thì lông mày mang nét tướng. Trên cơ thể, sao này ứng vào sinh thực khí, tạng thận và thần kinh não. Vị trí địa lí mà Phá Quân chỉ tới là bến tàu, bãi chứa thùng hàng, bờ biển, bờ nước, thị trường, bãi xử lí rác và kho hàng.
Kiến lập quan niệm: phá bỏ chứ không kiến thiết
Trong ba sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, gặp một sao cũng giống như gặp cả ba, nhưng hàm nghĩa mỗi sao một khác. Thất Sát và Tham Lang có tính chất thay đổi vượt ra ngoài lề lối; còn Phá Quân là cải cách ngay bên trong lề lối, thiên về phá bỏ chứ không phải kiến thiết.
Phá Quân không chỉ chủ về tiêu hao, mà còn có thể mang số tiền vất vả khổ sở dành dụm nhiều năm ra tiêu hết trong một đêm; tiền bạc của sao này đến nhanh mà đi cũng nhanh. Người có Phá Quân thủ mệnh chuộng hư vinh, lãng phí, thần kinh chất, dễ bị hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng nên tâm trạng cũng thay đổi rất nhanh.
Tuy Phá Quân là sao cai quản con cái, nhưng nếu nó đóng ở cung tử nữ thì lại chủ về ít duyên với con cái. Nếu Phá Quân Hóa Lộc ở cung tử nữ thì chủ về con cái tiêu xài tiền rất bạo.
Phá Quân tinh giải
Đã biết sao ấy hao những gì, còn phải xem nó hao theo lối nào khi ngồi vào ngôi chủ.
Lúc cung mệnh là Phá Quân thì cung quan lộc nhất định có Tham Lang tọa thủ, còn cung tài bạch sẽ thấy Thất Sát. Đặc tính của Phá Quân là cuồng ngạo, không thích câu thúc; cho nên hễ gặp chỗ không bằng phẳng là chảy rất xiết, gặp gió mạnh là thành sóng lớn vỗ vào bờ.
Phá Quân ở mười hai cung vị đều có cơ hội thủ mệnh, và đều nhìn thấy Thiên Phủ tọa thủ cung phúc đức — đó là chủ về Phá Quân có độ lượng lớn, bụng dạ rộng rãi, không phải là không biết điều chỉnh thân tâm của mình. Cung tật ách là nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn, mà người có Phá Quân thủ mệnh thì cung tật ách luôn luôn có Thiên Lương; đó là thước đo của việc cân nhắc thị phi, cũng đại biểu cho tính nguyên tắc. Tức là mệnh tạo ghét người xấu như kẻ thù, thị phi đúng sai yêu ghét phân minh. Những thuyết giải trên là lúc Phá Quân chưa bị ảnh hưởng của các sao khác đồng cung. Nắm được một trăm bốn mươi bốn bố cục các sao thì sẽ phát giác: lúc Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang độc tọa, trong số đó tất có một sao rơi vào cung Thìn hoặc Tuất là Thiên La Địa Võng; nhưng lúc chúng thành tổ hợp song tinh thì có thể không bị hai cung ấy trói buộc.
Lí tưởng của Tham Lang ở cung quan lộc
Sưu tập mệnh bàn của các bác sĩ, y tá thì sẽ phát hiện một hiện tượng rất thú vị: số người có Phá Quân thủ mệnh ở cung Ngọ và ở cung Tuất làm bác sĩ hay y tá với tần suất khá cao.
Lúc Tham Lang tọa cung quan lộc là chủ về có lí tưởng cao xa, hoặc vì tham lam mà có biểu hiện toan tính cho tương lai; nhưng nếu lí tưởng ấy giống như trời cao thì lại vượt quá tầm tay. Tham Lang là sao chủ về dục vọng, cũng nặng tính hiếu kì ham hiểu biết; với những vấn đề tôn giáo, thần bí, những chuyện dị thường đều mong muốn tìm hiểu hơn người bình thường. Tính chất của Tham Lang ở cung quan lộc là chủ về đầu cơ mang tính cờ bạc, lại có tình ý lãng mạn, thậm chí có thể đạt tới mức ý niệm nhập vào cảnh giới huyền diệu; cho nên thái độ gánh vác trách nhiệm của họ sẽ nhắm đến những đối tượng có tính gợi mở, có tính mới lạ mà bản thân cảm thấy hứng thú. Lúc ấy người này tập trung toàn bộ tinh thần vào đó, nên cũng có tính kế thừa người đi trước, mở đường cho người đi sau, và có bản lãnh phát quật một tảng đá chìm trong biển lớn đã lâu, bày ra sự tích lịch sử tích lũy đã nhiều năm.
Nhưng Tham Lang ở cung quan lộc cũng có thể xuất hiện tư duy lơ mơ như có như không, quá rộng, không có chỗ để làm, không có chỗ để tin. Từ những điều vừa thuật có thể đoán ra vì sao Tham Lang ở cung Thìn hay Tuất lại bị kiềm chế, bị quy phạm, và vì sao lúc không bị ước thúc thì thành Tham Lang thiên mã hành không.
Không hét thì thôi, đã hét thì mọi người phải kinh hãi
Người có cung mệnh là Phá Quân phần nhiều mang những tính chất nội tại kể trên. Tính chất của Phá Quân thuộc thủy là không hét thì thôi, đã hét lên thì mọi người phải kinh hãi. Người có sao này thủ mệnh mà không điều chỉnh tính khí, hoặc không bị kiềm chế giới hạn, thì âm trầm, thậm chí trông có vẻ lạnh lùng lặng lẽ — nữ mệnh là nét đẹp lạnh lùng. Thủy có tính thấm xuống, cũng tức là người có Phá Quân thủ mệnh thường hay ban ơn cho thuộc cấp, nhưng lại không chịu luồn cúi nịnh hót cấp trên. Nước nhỏ giọt lâu ngày thành hồ, mà cũng có thể ào ạt chảy băng nghìn dặm — đó là đặc tính của Phá Quân trong tình huống không bị kiềm chế.
Năng lực thực hiện của người có Phá Quân thủ mệnh được Thất Sát ở cung tài bạch biểu thị: phong cách vì nghĩa không từ nan, dũng cảm xông thẳng tới trước, không vòng vo, sảng khoái, dứt khoát; là người khá tích cực, lấy chân tình mà đối đãi, dám chịu trách nhiệm. Tức là Thất Sát ở cung tài bạch sẽ thực hiện triệt để mệnh lệnh của Phá Quân ở cung mệnh, mà phong cách tạo tác lại hoàn toàn nối kết với khí của Tham Lang ở cung quan lộc.
Cho nên có thể nói người có Phá Quân thủ mệnh có khuynh hướng nhận những nhiệm vụ mang tính khiêu chiến, theo con đường kì khu khó đi mà tiến tới; hoặc thấy dốc tiền ra đầu cơ theo kiểu đánh bạc; hoặc vì cứu chủ mà thi triển tài năng. Họ có thể là chiến tướng thập bát ban võ nghệ, cũng có thể là trộm cướp; có thể là người phụ nữ mạnh mẽ khí thế oai phong, cũng có thể là nữ nghệ nhân yêu kiều vô cùng quyến rũ. Nhưng các ý tượng kể trên đều phải dựa vào các chính tinh đồng cung với phụ tinh, cát tinh, hung tinh ở ngã cung; sau khi sinh khắc chế hóa mới biểu hiện được cá tính thật sự của mệnh tạo, và mới tính ra được hiện tượng cùng quỹ tích mệnh vận của người này.
Ở thời thịnh bình, người có Phá Quân thủ mệnh không cách nào lộ rõ cá tính; nhưng họ lại rất mẫn cảm với hoàn cảnh biến động thay đổi, cũng dễ bị bên ngoài ảnh hưởng mà có động thái sai lầm.
Dòng sông chảy xiết và cái đê ngăn nước
Thử tưởng tượng tình huống một dòng sông chảy xiết: ắt là vì địa thế chảy qua rừng cây núi đá, thấp xuống quá nhiều mới khiến nước chảy kịch liệt như vậy. Thuộc tính nước chảy xuống chính là quán tính của Phá Quân thủy, còn tính nguyên tắc là Thiên Lương ở cung tật ách. Giả thiết lúc Tham Lang ở cung quan lộc không bị kiềm chế, khi ấy Phá Quân thủy có thể trở thành con hồng thủy cuồn cuộn, có khả năng thành hao tinh, dấu chân nó đi qua sẽ để lại cảnh tượng điêu linh tiêu điều. Cũng do tính âm hàn của Phá Quân Quý thủy mà với người không hợp ý họ sẽ lười chào hỏi. Tuy cá tính của Phá Quân khó rõ nét, nhưng quan sát từ tổ hợp sao ở cung thiên di lại nhìn thấu được ý hướng, khát vọng và lí tưởng của người có sao này thủ mệnh.
Thủy chủ về trí, cho nên người có Phá Quân thủ mệnh không phải hạng ngu xuẩn, ngây ngô, ngốc nghếch, hữu dũng vô mưu; nhưng về phương diện nhẫn nại thì bất túc. Ngoài lực xung kích, họ còn có tính xung động, ít nhiều kèm tính có mới nới cũ. Vì vậy họ cũng không có tâm trạng nhớ nhung, không quá vương vít những nơi hoặc hoàn cảnh đã từng ở hay từng trải qua.
Nhưng cũng đừng bao giờ cho rằng người có Phá Quân thủ mệnh là tuyệt đối cương liệt. Lúc Phá Quân gặp Văn Khúc thì tình hình lại mang ý vị khung thép dịu dàng: thái độ cương dũng của Phá Quân bị chữ tình khuất phục, thậm chí tan xương nát thịt cũng không tiếc — hình dung như vậy tuy hơi khoa trương, nhưng ít nhiều cũng có điểm tương tự.
Phá Quân cần có tính hỏa của cung vị điều hòa mới thay đổi được tính chất của nó, hoặc lấy tính thổ của cung Thìn, cung Tuất làm cái đê ngăn nước thì mới quy phạm được lực đạo của Sát Phá Tham; nếu không thì phải dựa vào tính của các sao khác đồng độ để kiềm chế. Phá Quân không thể nhờ Hỏa Tinh làm ôn hòa tính thủy, mà còn có thể vì trở lực của Hỏa Tinh mà tăng thêm hung tính, bởi sức ảnh hưởng của Hỏa Tinh không kéo dài mãi được. Hỏa Tinh giống như sấm chớp, có thể khiến Phá Quân thủy thành dòng nước chảy loạn xạ.
Trúc la tam hạn chân giải
Ba sao ấy chưa bao giờ đi một mình; động một góc là cả hình tam giác rung theo.
Trong Tử Vi Đẩu Số có mười bốn sao gọi là chính tinh cấp một, sức mạnh và lực tác động của chúng đều khác nhau; thông thường sao có sức mạnh càng lớn thì tính ổn định càng nhiều. Như hai sao đứng đầu là Tử Vi và Thiên Phủ, vì sức mạnh rất lớn nên hình tượng rất trầm ổn, bản thân có độ vững vàng rất cao, đương nhiên quỹ tích mệnh vận cũng theo đó mà yên ổn, rất khó gặp biến động. Trong số các sao có sức mạnh, nếu nhìn từ góc độ động tĩnh thăng trầm mà phân tích, thì ngoại trừ Thái Dương luôn luôn tự phát tán ánh sáng và nhiệt năng, các sao còn lại hoàn toàn khác với ba sao Sát Phá Tham.
Ba sao này tuy cũng có sức mạnh nhưng lại thuộc loại không ổn định, tùy lúc mà mang sức mạnh phát tán tầm tã. Cũng vì vậy, cung nào có chúng tọa lạc sẽ liên tục chịu sự xung kích, phát tán rồi lại lấp đầy của các sao tọa thủ, khiến cung ấy biến động khó yên. Cho nên cổ nhân đánh giá người có một trong ba sao này thủ mệnh thì đa số chê nhiều hơn khen, cho rằng nếu chúng thủ mệnh mà gặp tứ sát, gặp Hóa Kị hay ở hãm địa thì có chí mà khó thành, hoặc là hung ách chí tử. Đúng là vì cung ấy mà sinh ra biến động, nhưng những biến động thăng trầm ấy không phải luôn luôn hung hiểm; mệnh tạo thường có thể lập tức nắm bắt cơ hội, tạo ra tài phú và thành công to tát. Do đó trường hợp một trong ba sao thủ mệnh thì không được luận chung chung, mà phải cẩn thận quan sát cách phối trí của các cung và ảnh hưởng của vận hạn.
Hình tam giác chuyển góc nhọn về cung mệnh
Lại luận giải từ phương thức bài bàn. Ba sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang trong tinh bàn Tử Vi Đẩu Số luôn luôn ở trạng thái phối trí hình tam giác, cùng nằm trong phương tam hợp của nhau. Đứng ở góc độ cung vị khí số mà xem xét thì ba sao này ở cung vị khí số của nhau, đồng thời ảnh hưởng lẫn nhau, là biểu lí — tức trong ngoài — của nhau.
Trong tình trạng không có tứ hóa, hoặc không ở cung mệnh, phải nói là chúng đang ở trạng thái thăng bằng. Nhưng khi một trong ba sao nhập cung mệnh thì hình tam giác ấy hướng góc nhọn vào cung mệnh; lúc các đại vận có tứ hóa dẫn động, mệnh bàn chuyển động thì trọng tâm của tinh bàn ba góc này tất theo đó mà thay đổi, cũng tạo thành biến động trong mệnh vận. Vì vậy cổ nhân gọi vận hạn gặp chúng là Trúc la tam hạn; song cát hung biến động vẫn cần quan sát sát tinh và các cung tương quan. Có điều, luận giải đây là bước ngoặt của cuộc đời thì cũng không phải là quá.
Tham sân si trong ba sao
Lấy tính của sao mà phân tích thì sở dĩ ba sao Sát Phá Tham có lực xung kích mạnh như vậy, thực ra là có liên quan tới nhân tố tâm lí của mỗi cá nhân. Tử Vi Đẩu Số trên thực tế là một loại triết học vận tác nhân sinh của Đạo gia. Ba sao Sát Phá Tham thực ra đại biểu cho tham sân si của nhân tính: Tham Lang đại biểu cho tham, Phá Quân đại biểu cho sân, còn Thất Sát đại biểu cho si. Do đó lúc ba sao này trong mệnh bàn được khơi động thì những gì chúng đại biểu đương nhiên sẽ xảy ra.
Điều kiện khơi động ba sao ấy là tứ hóa. Trong tứ hóa của mười thiên can, bản thân Thất Sát không có tứ hóa; Phá Quân chỉ có Hóa Lộc và Hóa Quyền; Tham Lang không có Hóa Khoa. Nhưng vì ba sao là biểu lí của nhau nên bất cứ tứ hóa của một sao nào cũng ảnh hưởng đến hai sao còn lại ở các cung tam hợp, làm chúng xảy ra biến động, khiến sự biến động thay đổi có tính liên kết của ba sao này càng mạnh hơn.
Vậy vì sao ba sao này không có Hóa Khoa? Nắm vững tác động của Hóa Khoa thì sẽ biết: Hóa Khoa mang ý tượng bổ cứu sau khi sự tình đã xảy ra, hoặc che giấu, hoặc có hành vi trang điểm bề ngoài. Lấy đặc tính của bản thân ba sao mà nói thì chúng chủ về gặp chuyện sẽ không quay đầu lại bổ cứu, mà phải giải quyết ngay ở hiện trường, phương thức xử lí là trực tiếp, cũng không bao giờ có động tác màu mè bề ngoài. Dù Tham Lang có nhiều điều kiện để thành công, chuyện gì cũng làm được, thì cũng vẫn nặng tính xử lí lập tức. Bởi thế, việc ba sao Sát Phá Tham không có Hóa Khoa chính là chỗ thú vị của Tử Vi Đẩu Số.
Ba kiểu động khác nhau
Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang là ba sao có lực tạo tác tích cực trong Tử Vi Đẩu Số. Đại vận hoặc lưu niên gặp một trong ba sao thì hai sao còn lại tất nhiên theo nhau như bóng với hình ở các cung tam hợp, là điểm triệu của biến động khác thường. Nói về đời người, tính chất của ba sao này là lấy thế mạnh, nổi bật, tiềm phục, hoặc thoắt ẩn thoắt hiện làm phương thức tồn tại trong mệnh vận của mỗi cá nhân. Người ta thường cho rằng chỉ cần hành hạn lưu niên gặp một sao trong Sát Phá Tham là có thể xảy ra biến động; lời ấy không sai, nhưng cũng chưa chắc đã biến động được.
Lấy Thất Sát làm ví dụ: đó là mưu định rồi mới động, mà loại mưu định ấy là mưu sâu nghĩ xa, suy nghĩ có tính rất độc lập, lực tạo tác tích cực, chứ không phải xung động như nhiều người vẫn hiểu lầm. Cho nên lúc gặp Thất Sát ở cung mệnh của lưu niên là hành vi chủ động làm cho biến động thay đổi, rất hiếm khi do tư duy và lực tạo tác của người khác, tức Tả Phụ và Hữu Bật.
Phá Quân nhập cung mệnh của lưu niên thì không loại trừ có nhân tố tâm trạng hay cảm xúc trong đó: có thể vì bất mãn với hiện trạng hay không muốn an phận, ít nhiều cũng mang tính xung động, sẽ có hành vi kiểu tiền trảm hậu tấu. Nhưng tính xung động ấy thường là tình trạng trong lòng cảm thấy không yên, muốn thay đổi hoàn cảnh sống, tính xung động vượt khỏi sự kiểm soát của lí trí. Vì lực phá hoại của bản thân Phá Quân là luận kết quả, tính chất tương tự như Hóa Kị.
Còn cái động của Tham Lang thì xuất phát từ lí tưởng, dục vọng, lòng tham, sự hứng thú và có suy tính hướng tới tương lai, là đầu óc tăng thêm sôi nổi; nói theo quan điểm y học thì là kích thích tố của tuyến nội tiết quá thịnh, do đó độ hoạt bát và sức tưởng tượng cũng tăng lên. Nếu sức mạnh ấy bị nhân tố tình cảm dẫn động thì sẽ theo đuổi hướng tình dục; nếu bị nghệ thuật dẫn động thì động hướng sẽ đẩy không khí văn nghệ; nhưng nếu là khát vọng về tiền đồ sự nghiệp thì sẽ dũng cảm tiến tới phía trước. Cho nên biến động của Tham Lang không chỉ là phản ứng trong môi trường làm việc.
Một đại vận can Quý có phải là bại cục
Có thuyết cho rằng lúc hành hạn đến cung Thất Sát tọa thủ mà can cung là Quý, tức Phá Quân Hóa Lộc và Tham Lang Hóa Kị, thì sẽ thấy phá bại, là bại cục. Thực ra luận mệnh và luận vận cần xem xét từ gốc đến ngọn của nó. Mệnh bàn dưới đây là một trường hợp như vậy.
| TỊ THIÊN DI Thiên Mã 65–74 | NGỌ TẬT ÁCH Thiên Cơ Lộc Thiên Hình Thiên Hỉ 55–64 | MÙI TÀI BẠCH Tử Vi Khoa Phá Quân 45–54 | THÂN TỬ NỮ Thiên Việt 35–44 |
| THÌN NÔ BỘC Thái Dương Văn Khúc Kình Dương 75–84 | Âm nam Thổ ngũ cục | DẬU PHU THÊ Thiên Phủ Hỏa Tinh 25–34 | |
| MÃO QUAN LỘC Vũ Khúc Thất Sát Lộc Tồn 85–94 | TUẤT HUYNH ĐỆ Thái Âm Kị Thiên Diêu Văn Xương Linh Tinh 15–24 | ||
| DẦN ĐIỀN TRẠCH Thiên Đồng Thiên Lương Quyền Đà La | SỬU PHÚC ĐỨC Thiên Tướng Tả Phụ Hữu Bật | TÍ PHỤ MẪU Cự Môn Thiên Khôi Hồng Loan | HỢI (Đinh Hợi) MỆNH Liêm Trinh Tham Lang Địa Kiếp Địa Không 5–14 |
Sát Phá Tham trong mệnh bàn Đẩu Số luôn luôn ở phương tam hợp. Trong mười can cung, tứ hóa của can Quý là Phá Quân Hóa Lộc, Cự Môn Hóa Quyền, Thái Âm Hóa Khoa, Tham Lang Hóa Kị. Lúc hành hạn đến cung có can Quý, nếu sao tọa thủ là một sao trong Sát Phá Tham thì hai sao còn lại tất nhiên thấy ở tam phương. Lấy đại vận Thất Sát làm ví dụ: Phá Quân Hóa Lộc và Tham Lang Hóa Kị đều ở ngã cung của đại vận, cho nên đại vận này tuy thấy vận thế biến động thăng trầm với biên độ khá lớn, nhưng vẫn thi triển được lực tạo tác, vẫn có thu hoạch, là lợi nhiều hơn tệ hại, được nhiều hơn mất.
Do cung tam hợp của đại vận này sẽ không bị tình trạng Tham Lang Hóa Kị phá Phá Quân Hóa Lộc — giả thiết Tham Lang Hóa Kị không xung phá Hóa Lộc của năm sinh — cho nên lúc lưu niên trùng điệp với cung có Thất Sát tọa thủ thì lực đạo tác uy tác phúc của nó khá mạnh. Hơn nữa can cung phi tứ hóa thấy Thái Âm Hóa Khoa, là sao mạnh hơn Sát Phá Tham; mà một trong những công dụng của Hóa Khoa là ngầm trợ giúp và hóa giải tai ách. Nếu các cung có tứ hóa bay vào hợp cách thì tác động công hay tội của Sát Phá Tham sẽ phát huy sự ổn định rất lớn. Trong mệnh bàn trên, Thái Âm Hóa Khoa của đại vận có thể chuyển hóa Hóa Kị của năm sinh, giải trừ cái kết cục không thỏa đáng mà Hóa Kị năm sinh mang lại.
Căn nguyên của Phá Quân
Muốn biết vì sao sao này mang tiếng hao, phải lần về tận chỗ người xưa đặt nó lên bàn cờ.
Trước tiên phải bàn về nguyên tắc bố cục lập tinh diệu trong Đẩu Số. Nguyên tắc thiết lập Tử Vi Đẩu Số là căn cứ vào Dịch lí Hà Lạc. Dịch là thái cực, là âm dương; cho nên dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Người xưa dựa vào nguyên lí của thuyết tiên thiên bát quái, hậu thiên bát quái và nạp giáp để lần lượt bài bố ra vị trí của các sao; cho nên mới nói các sao là dựa vào các quẻ mà có vị trí. Sách Chu Dịch, thiên Thuyết Quái truyện nói:
Bát quái xen nhau, tính toán quá khứ thì đi thuận, biết tương lai thì đi nghịch, cho nên dịch là đếm nghịch.
Nói cách khác, phép an sao của Tử Vi Đẩu Số là theo phương thức âm nghịch dương thuận, như sau. Hệ Tử Vi gồm Tử Vi, Thiên Cơ, trống một ô, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, trống hai ô, Liêm Trinh; do Tử Vi là Kỉ thổ thuộc âm nên bài bố nghịch. Hệ Thiên Phủ gồm Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, trống ba ô, Phá Quân; do Thiên Phủ là Mậu thổ thuộc dương nên bài bố thuận.
Ban đầu Đẩu Số bài bố sao ở mệnh bàn cơ bản như mệnh bàn nguyên thủy dưới đây. Nhìn vào đó có thể thấy thiết kế ban đầu đặt cung vị của Phá Quân ở cung Tí thuộc thủy.
| TỊ Cự Môn | NGỌ Liêm Trinh Thiên Tướng | MÙI Trống 2 Thiên Lương | THÂN Thất Sát |
| THÌN Tham Lang | DẬU Thiên Đồng | ||
| MÃO Thái Âm | TUẤT Vũ Khúc | ||
| DẦN Tử Vi Thiên Phủ | SỬU Thiên Cơ | TÍ Trống 1 Phá Quân | HỢI Trống 3 Thái Dương |
Ngoài ra, Thất Sát và Tham Lang ắt phải ở cung tam phương của nó để cấu tạo thành cách cục Sát Phá Tham. Cách cục ấy không chỉ biểu hiện khí cương mãnh sắc bén, mà sao nào cũng mang đặc tính song trùng vừa là sao cương vừa là sao động; do đó tiên thiên đã trình hiện tình trạng không yên ổn ở hiện thực, dễ xung động, ưa sửa đổi, khai sáng và nhiều biến động mà ít yên tĩnh, tích cực tiến thủ. Căn cứ quái vị của hậu thiên bát quái mà quan sát: Phá Quân ở cung Tí thuộc quẻ Khảm là thủy; Tham Lang ở cung Thìn thuộc quẻ Tốn là phong; Thất Sát ở cung Thân thuộc quẻ Khôn là địa. Vì vậy ba sao này có liên quan đến âm dương trạch trong phong thủy địa lí.
Kế đến, Bắc Đẩu Thất tinh — tức Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân — được bài bố như mệnh bàn thứ hai dưới đây.
| TỊ Vũ Khúc NHÂN | NGỌ Phá Quân THIÊN | MÙI Vũ Khúc ĐỊA | THÂN Liêm Trinh NHÂN |
| THÌN Liêm Trinh ĐỊA | DẬU Văn Khúc THIÊN | ||
| MÃO Văn Khúc THIÊN | TUẤT Lộc Tồn ĐỊA | ||
| DẦN Lộc Tồn NHÂN | SỬU Cự Môn ĐỊA | TÍ Tham Lang THIÊN | HỢI Cự Môn NHÂN |
Nhìn mệnh bàn ấy có thể biết Phá Quân ở cung Ngọ, cũng là vị trí của quẻ Li, nạp số là chín. Sách Chu Dịch, thiên Thuyết Quái truyện nói:
Li là hỏa, là mặt trời, là giáp trụ, là binh giáo.
Số chín là số chí dương, là tượng trưng của quyền lực, cho nên Phá Quân cũng là sao quyền lực. Vì mang tính của Li hỏa nên đương nhiên phải có tính tích cực và xung động của hỏa: lúc đắc vị thì khai sáng thành công, lúc thất vị thì vì tính xung động phá hoại mà dẫn đến tình trạng việc gì cũng không thành. Tổng hợp từ hai mệnh bàn trên, có thể biết chính vị của Phá Quân là ở hai cung Tí và Ngọ.
Lời cổ thư về Phá Quân
Liên quan đến Phá Quân, sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư viết rằng Phá Quân thuộc thủy, là sao thứ bảy của Bắc Đẩu; là thần cai quản cung phu thê, cung tử nữ và cung nô bộc; ở Tí, Ngọ là nhập miếu; tại trời là sát khí, tại số là hao tinh, cho nên hóa khí làm hao.
Sao này chủ về hung bạo, giảo hoạt, gian trá, ít hợp với người khác; động thì hao tổn người, không phò người thiện mà ưa giúp người ác, xem lục thân như kẻ thù, xử sự với cốt nhục không có nhân nghĩa. Nhưng nếu sinh những năm Quý, năm Giáp thì hợp cách, chủ về phú quý. Ở hãm địa mà bị sát tinh xung phá thì chủ về làm nghề tay chân, dễ bị tàn tật, không giữ được tổ nghiệp, nên xuất gia làm tăng nhân hay đạo sĩ; nữ mệnh bị xung phá thì dâm đãng vô sỉ.
Phá Quân đồng cung với Tử Vi thì mất uy quyền; gặp Thiên Phủ thì trá ngụy; gặp Thiên Cơ thì trộm cắp; đồng độ với Liêm Trinh, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì dễ gây ra chuyện quan phi; đồng độ với Cự Môn thì miệng lưỡi đấu đá; đồng độ với các sao hình kị thì suốt đời tàn tật; đồng độ với Vũ Khúc nhập cung tài bạch thì đông khuynh tây bại; đồng độ với văn tinh thủ cung mệnh là cuộc đời bần sĩ; gặp các sao hung là kết bè kết đảng, phá bại.
Phá Quân ở hãm địa thì họa không nhẹ. Nhưng Thiên Lương có thể khống chế tính xấu của nó, Thiên Lộc tức Lộc Tồn có thể giải tính cuồng của nó. Nếu gặp lưu sát tinh tụ tập xung chiếu thì gia nghiệp trống rỗng, không còn gì. Đồng độ với Văn Khúc ở các cung thuộc thủy thì tàn tật, li hương, xa xứ. Gặp Văn Xương ở cung Chấn, thấy thêm cát tinh thì có thể quý; nữ mệnh gặp trường hợp này thì không cần bà mai mà tự gả, thất tiết phiêu lưu. Phàm Phá Quân thủ mệnh ở Tí, Ngọ, có Tham Lang và Thất Sát cùng chiếu thì uy chấn Hoa Di; hoặc đồng độ với Vũ Khúc ở cung Tị, có Tham Lang cùng chiếu, cũng ở đài các, nhưng phải xem hung tinh ra sao. Người sinh năm Canh hay năm Quý là nhập cách, đến già vẫn không toàn mĩ.
Phá Quân ở hãm địa thủ cung thân hay cung mệnh là xa tổ rời tông; thủ cung huynh đệ thì cốt nhục thảm thương; thủ cung phu thê thì bất chính, hôn nhân nhiều biến động; thủ cung tử nữ thì trước mất sau mới có con; thủ cung tài bạch thì tiền bạc giống như đổ nước sôi vào tuyết; thủ cung tật ách thì nhiều bệnh tật; thủ cung thiên di thì bôn tẩu không định hướng; thủ cung nô bộc thì chủ về nói xấu, oán giận, đào tẩu; thủ cung quan lộc là ý tượng thanh bần; thủ cung điền trạch là phá sạch tổ nghiệp; thủ cung phúc đức là nhiều tai kiếp; thủ cung phụ mẫu là phá tướng, hình khắc cha mẹ.
Vì sao Phá Quân hóa khí làm hao
Như đã biết, Tử Vi và Thiên Phủ là Mậu thổ và Kỉ thổ âm dương hòa hợp ở cung Dần. Cung Dần là cung vị thuộc nhân, cũng tượng trưng cho sự bắt đầu của nhân. Cho nên từ cung Dần khởi tháng giêng, đi thuận đến cung Hợi là tháng mười; cung Hợi là địa hộ, chỉ cung vị một người mang thai đã đến lúc lâm bồn sinh con. Sau đó thấy Phá Quân là biểu thị con người sau khi sinh ra thì sẽ tiêu hao, ví như phải kiếm tiền để nuôi con cái.
Nói về thiên can thì cũng là từ Giáp đến Quý, mà Phá Quân ở cung Tí là thủy vượng, giống như sóng ở biển lớn, thuộc âm thủy, là Quý thủy, là đại hải thủy. Can Quý lại là can không căn cứ vào cung thiên địa nhân, cho nên về mặt thiết kế tính của sao là có ý nghĩa phá hao, vì vậy mà hóa khí làm hao. Ngoài ra Phá Quân còn ở cung Ngọ là vị trí quẻ Li, là hỏa; cho nên Phá Quân là thủy mà tính thuộc hỏa, mang ý tượng chuyện binh đao chinh chiến, nên có sát khí.
Quan sát phương thức an sao của hệ Thiên Phủ sẽ thấy cổ nhân ngầm vận dụng số đại diễn. Về thứ tự và quy phạm thì có lúc dùng phép tắc của lí số trống một, trống hai, trống ba. Theo nguyên cung thiên địa nhân thì vị trí trống một ở thiên, vị trí trống hai ở địa, vị trí trống ba ở nhân; thiên địa nhân trong thiết kế Đẩu Số cũng tượng trưng cho nguyên lí tam tài. Trở lại mệnh bàn nguyên thủy, tức mệnh bàn Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung, giả thiết cung ấy là cung mệnh, thì trống một ở cung thuộc thiên là cung phu thê, trống hai ở cung thuộc địa là cung nô bộc, trống ba ở cung thuộc nhân là cung tử nữ. Mà Phá Quân là Quý thủy, Quý chủ về hao tổn tinh thần; cho nên cung phu thê tức hôn nhân, cung tử nữ tức con cháu, cung nô bộc tức bạn bè hoặc sức khỏe, chính là những chỗ mà cuộc đời mệnh tạo phải hao tổn tinh thần.
Còn Phá Quân nhập tọa cung Tí, cung Ngọ thì như đã thuyết minh: ở cung Tí là phương vị thuộc thủy, ở cung Ngọ là phương vị thủy hỏa kí tế, là sao nhập chính vị của nó, là đất miếu vượng, cho nên gọi là anh tinh nhập miếu, mang ý tượng có thể biến hung thành cát.
Cổ nhân chê nhiều, nhưng chưa phải là lời cuối
Cổ nhân có nhận xét về Phá Quân không được tốt. Trên thực tế, Phá Quân tọa cung mệnh đều là người có chủ kiến; cuộc đời sẽ vì những nhân tố ngoại tại và nội tại mà lăn lộn thăng trầm trong những biến cố đổi thay. Cá tính nóng vội, hiếu thắng, hiếu cường, dễ mừng dễ giận, cách suy nghĩ rất khó đoán, thích đầu cơ, ưa mạo hiểm, không chịu thua, dễ thăng trầm trồi sụt, thích phá bỏ hiện trạng và cải cách thay đổi, làm việc quá cảm, có phách lực, có năng lực lãnh đạo; hơn nữa phần nhiều đều có một nghề sở trường, không yên tâm giao việc cho người khác nên việc gì cũng đích thân làm, cuộc đời khó được thanh nhàn. Nhập miếu thì ngạo khí càng nặng, lạc hãm thì li hương xa xứ.
Phá Quân thuộc âm thủy, vĩnh viễn có Thất Sát và Tham Lang hội chiếu ở tam phương; đó là then chốt khiến đời người nhiều biến động thay đổi, mà biến động của Phá Quân thường có biên độ lớn, đủ gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến cuộc đời. Hơn nữa thủy tính của nó cũng liên quan đến đào hoa; ở các cung vị đào hoa như Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì tính chất này càng nặng. Cho nên cổ nhân coi cá tính cương cường hiếu thắng và cuộc đời sóng gió không ngừng của Phá Quân là khuyết điểm; nhưng ở thời đại động loạn thì chính nó lại phát huy được tính quả cảm, khai sáng và năng lực lãnh đạo.
Phá Quân đồng cung với các sao khác
Ngoài trường hợp Phá Quân độc tọa ở các cung Tí, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất, đại khái nó còn đồng cung với tinh diệu khác như Tử Vi Phá Quân ở Sửu Mùi, Vũ Khúc Phá Quân ở Tị Hợi, Liêm Trinh Phá Quân ở Mão Dậu. Trường hợp Tử Vi Phá Quân đồng cung, do Tử Vi có quyền uy áp chế sát khí của Phá Quân nên khí thế của nó khá yếu; tính thận trọng vững vàng của Tử Vi gây ảnh hưởng khiến Phá Quân không phát huy được xung lực.
Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư có chỗ lầm lẫn: Phá Quân không gặp Thiên Phủ, cũng không tương hội với Thiên Cơ, và cũng không đồng cung với Cự Môn. Phá Quân đồng cung với Liêm Trinh ở hai cung Mão hoặc Dậu, nếu có thêm Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh là tượng quan phù, rất nhiều thị phi.
Phá Quân đồng cung với Kình Dương hoặc Đà La thì ở bộ vị nào đó trên cơ thể sẽ có thiếu sót, hay mắc một bệnh tật gì đó đeo bám suốt cuộc đời. Phá Quân đồng cung với Vũ Khúc ở hai cung Tị hoặc Hợi nhập cung tài bạch thì cung mệnh ắt có Tử Vi và Tham Lang; do Vũ Khúc là tài tinh, gặp Phá Quân thì tổn tài hao tài, cho nên trong đời sẽ có một khoảng thời gian rất điên đảo, sự nghiệp làm gì cũng không thành. Phá Quân đồng cung với Văn Khúc hoặc Văn Xương là chủ về bần hàn, bôn ba vất vả, vì khí chất và đặc tính của hai bên không hợp nhau.
Phá Quân gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì kết bè kết phái thành bầy, lúc đầu rất đoàn kết hợp tác, về sau do ý kiến không hợp mà tan đàn xẻ nghé. Thiên Lương thuộc thổ nên kiềm chế được Phá Quân thuộc thủy. Phá Quân khá nóng nảy, trôi nổi; còn Lộc Tồn thì khá thận trọng, vững vàng, bình hòa, không dễ bị kích động, tính toán rồi mới hành động, nên hóa giải được tính lỗ mãng của Phá Quân.
Phàm cung thân hay cung mệnh có Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Tham Lang và Thất Sát ở tam phương hội chiếu, lại hội hợp lục cát tinh: nếu là người sinh năm Giáp thì Liêm Trinh Hóa Lộc, Phá Quân Hóa Quyền, Lộc Tồn ở cung Dần; nếu là người sinh năm Quý thì Phá Quân Hóa Lộc, Lộc Tồn ở cung Tí — đều là mệnh cách tốt, có địa vị danh vọng trong xã hội. Phá Quân đồng cung với Vũ Khúc ở hai cung Tị hoặc Hợi thì ở cung Tị tốt hơn ở cung Hợi, tam phương có Thất Sát và Tham Lang hội hợp. Phá Quân ở cung Tị thì người sinh năm Canh tốt hơn người sinh năm Quý, vì năm Canh Vũ Khúc Hóa Quyền, còn năm Quý Phá Quân Hóa Lộc thì trước trung niên rất tốt nhưng vận về già lại không tốt.
Ý tượng của Phá Quân ở mười hai cung
Do Phá Quân chủ về hao, nên ngoại trừ hai cung Tí và Ngọ, các cung khác bất luận tốt hay xấu, ý tượng của nó tóm tắt như sau.
Cung mệnh: Phá Quân tọa cung mệnh ở hãm địa thì sẽ rời bỏ nơi sinh ra, rời xa cha mẹ, đi nơi khác phấn đấu sáng lập cơ nghiệp; làm con nuôi người ta, hay lúc nhỏ được gởi cho người khác nuôi dưỡng, hoặc ở rể.
Cung huynh đệ: anh em trai không có tình cảm với chị em gái, khó thông cảm nhau; lúc phân chia sản nghiệp của tổ tiên thì rất tính toán, so bì, tranh chấp; anh em không trợ giúp nhau, không thể làm việc chung với nhau.
Cung phu thê: nên kết hôn muộn; hoặc trước khi kết hôn việc giao du với người khác giới dễ gặp trở ngại, không được thuận lợi, hoặc bị cha mẹ hai bên phản đối, có ý kiến.
Cung tử nữ: dễ có hiện tượng không giữ được thai con trai đầu tiên, thai con trai thứ hai mới giữ được; hoặc sinh con gái trước rồi mới sinh con trai; thông thường cơ hội sinh con gái nhiều hơn.
Cung tài bạch: rất biết kiếm tiền nhưng không giữ được, thành lớn bại lớn, tiền đến tiền đi. Nên lấy tiền mua bất động sản mới giữ được, trong nhà không nên giữ tiền mặt nhiều.
Cung tật ách: cơ thể có khuyết hãm, có sẹo, hoặc mắc bệnh mạn tính, thường phải uống thuốc.
Cung thiên di: rất muốn ra ngoài khai sáng nhưng khó thành công, hơn nữa ở bên ngoài thường không trụ được, mà đi cũng không xa.
Cung nô bộc: Phá Quân ở cung nô bộc thì cung mệnh ắt có Thiên Lương, tính nhân từ, thường trợ giúp bạn bè. Nếu không có Thiên Lương tác động đến, hoặc Phá Quân không có cách trợ giúp bạn bè, thì sẽ bị bạn bè ôm oán hận, thậm chí nói xấu sau lưng.
Cung quan lộc: có danh mà không lợi, bề ngoài thì có chức vị không tệ nhưng lương bổng không cao, kiếm tiền cũng không nhiều.
Cung điền trạch: ở hãm địa thì tổ tiên hay cha mẹ để lại tài sản sẽ bị phá sạch. Bản thân mệnh tạo lần đầu mua tậu bất động sản cũng dễ phải bán đi, mua lần thứ hai mới có thể giữ được.
Cung phúc đức: cuộc đời nhiều phiền não, không thanh nhàn, bôn ba vất vả, nạn tai trùng trùng.
Cung phụ mẫu: phần đầu và phần mặt dễ bị sẹo, và không thân với cha mẹ, duyên phận khá bạc.
Biết thể rồi mới bàn tới dụng
Trước khi phân tích đặc tính và tổ hợp của một sao, cần tìm hiểu nguyên lí cơ bản về phương diện thiết kế bố cục lập sao nguyên thủy của Tử Vi Đẩu Số, sau đó mới học thuộc đặc tính và tổ hợp của sao. Tức là phải biết căn nguyên, hay cái thể của sao trước, rồi mới bàn về cái dụng của nó; nếu không thì mãi mãi dừng lại ở trình độ thuộc lòng như vẹt, khó mà đột phá để bước vào cảnh giới thâm sâu của Tử Vi Đẩu Số.
Bất luận theo cổ thư hay phú văn của người xưa, rõ ràng tất cả đều đánh giá không cao về Phá Quân. Ngoài trường hợp thủ cung tử nữ ở cung Ngọ là có tổ hợp sao tốt đẹp, lại được cát tinh đến hội chiếu, còn các trường hợp khác đều không được tốt. Nhưng người có Phá Quân tọa cung mệnh cũng không cần phải lo, vì tính khai sáng và năng lực lãnh đạo của họ đều khó xem thường; chỉ cần trong hành hạn hậu thiên biết cách lấy sở trường bù sở đoản, khéo vận dụng ưu điểm và tránh khuyết điểm, thì Phá Quân cũng không đến nỗi tệ hoàn toàn như lời phê bình trong Tử Vi Đẩu Số toàn thư. Bởi vì tinh diệu vốn không ứng cát hung, mà phải xem mệnh tạo có tri mệnh biết vận để khéo léo phát huy sở trường hay không mà thôi.
Xin nhắc lại, theo lí luận Đẩu Số của Khâm Thiên môn, cung, sao và hóa tượng là nhất thể; do đó bất kể là đơn tinh hay tổ hợp sao, về nguyên tắc vận dụng thì không được chỉ căn cứ đơn thuần vào đặc tính của sao hoặc hình thái cấu tạo thành cách cục mà trực tiếp đưa ra lời đoán cuộc đời của mệnh tạo là ưu liệt, tốt hay xấu. Vì các sao và cách cục đều chưa ứng cát hung, nhưng có tượng thì ắt có vật, phải đợi đến hành hạn hậu thiên hình thành cung chức hoán vị và phi cung hóa tượng, mới có thể căn cứ tình trạng toàn thể của cung, sao và hóa tượng để tổng hợp luận đoán, như vậy mới không thiên lệch.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
