Bài tổng quan
Tuổi trời, hơi thở đầu đời và cuốn lịch dạy mỗi người giờ nào việc đó
Một đứa trẻ cất tiếng khóc, và chỉ một hơi thở đã tách nó khỏi cõi hỗn mang trước đó. Từ hơi thở ấy đến tuổi trời một trăm năm là quãng thời gian mà mỗi người chỉ có một lần để dùng. Cuốn lịch nào dạy được cách dùng nó cho đúng giờ...
Mục lục · 7 phần
- 01Một đời người bắt đầu từ lúc nào, và kết thúc ra sao
- 02Tiếng khóc chào đời và một hơi thở giữ cho vòng quay không đổ
- 03Sống bao lâu là thọ: con số một trăm năm và hệ số của mỗi người
- 04Một hành dài bao lâu trong từng nhịp thời gian
- 05Ba thứ đã mất thì không lấy lại được, và cuốn lịch dành riêng cho từng người
- 06Ba cách đọc lịch: xem hằng ngày, tra nhanh, và khi vội
- 07Ngũ hành phả: tấm sổ kiểm đếm nguyên khí của gia đình
Một đời người bắt đầu từ lúc nào, và kết thúc ra sao
Từ xưa đến nay, phần đông người ta tính thời gian hưởng dương của một người, tức quãng đời nhìn thấy ánh mặt trời, từ lúc đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, rồi trừ đi một năm cho thời kỳ nằm trong bụng mẹ. Nguyễn Ngọc Thạch cho rằng cách tính ấy còn thô, và đề nghị tính lại cho chính xác hơn, vì thời khắc xuất hiện của một con người là thời điểm quyết định độ chính xác của mọi dự đoán sau đó.
Theo ông, một đời người, trong ngôn ngữ của ông là một Thái cực con người, được sinh ra vào thời khắc hội đủ các thành tố mà nó phải có. Khi ấy khí vũ trụ tụ kết ở tinh cha huyết mẹ. Thường thì do nhân duyên tình thương phối kết, cân bằng của Thái cực cha và Thái cực mẹ bị phá, và sau một thời lượng nhất định, một cân bằng mới hình thành, trong đó đơn nguyên Thái cực mới xuất hiện trong bụng người mẹ. Thời điểm đó là điểm đầu của giai đoạn hưởng dương, nó được tính bằng đơn nguyên gia số lớn nhất trong số các đơn nguyên có thể có của Thái cực ấy.
Từ điểm đầu đó đến lúc cất tiếng khóc chào đời là thai kỳ. Ông lấy thai kỳ bình thường là chín tháng mười ngày, rồi cộng thêm phần chênh của từng thai kỳ cụ thể so với mức trung bình. Có điều rất ít ai ghi chép được thời điểm giao phối, trừ một số vua chúa thời phong kiến. Do đó, việc tìm đúng thời điểm ấy phần lớn phải đi theo phương pháp tiếp cận vi phân, và cuốn lịch phong thủy của ông sẽ là công cụ phục vụ công việc tính và tìm.
Vì vậy ông khuyên cha mẹ nên ghi lại thời khắc sinh của con thật tỉ mỉ và chính xác, nên ghi cả vào giấy khai sinh như lá số mà ông cha ta từng làm. Đây là món quà vô giá cha mẹ có thể dành cho con, như vật bảo bối riêng của từng người trước khi bước vào cuộc hưởng dương đầy bất ngờ. Những thông số đầu đời ấy, theo ông, đôi khi lại là khe hở của tạo hóa, có thể mở lối thoát khi người ta không biết theo đường nào cho khỏi uổng phí thời gian.
Còn cái chết, ông định nghĩa là lúc Thái cực con người tới tử. Một trong các biến nguyên độc lập của nó rơi vào miền không xác định của bảng mã hóa nòi giống người Trái đất, nằm ngoài hiểu biết hiện nay của khoa học về con người. Hoặc vòng luân hồi bản mệnh không còn liên tục, vượt ra ngoài tầm kiểm soát thông thường của các công cụ kiểm dương: hơi thở, âm thanh, màu da, xúc cảm, phản xạ sinh tồn. Vòng luân hồi bản mệnh được chia thành hai phần là hưởng dương và hỗn mang vũ trụ. Khi tinh cha huyết mẹ phối kết thành Thái cực thì gọi là sinh, cuộc hưởng dương bắt đầu; khi nhắm mắt lìa trần thì gọi là tử, chấm hết cuộc hưởng dương của một người Trái đất bình thường.
Tiếng khóc chào đời và một hơi thở giữ cho vòng quay không đổ
Thái cực con tách thành công khỏi Thái cực mẹ được đánh dấu bằng tiếng khóc chào đời. Còn trạng thái sinh tách khỏi trạng thái tử thì được đánh dấu bằng một hơi thở. Hơi thở là mối liên hệ cảm nhận được, là cột trụ duy nhất, mà Nguyễn Ngọc Thạch gọi là Nhất trụ, ngăn lại xu thế cuốn hút con người trở về trạng thái tiền thân của nó. Nhờ trụ ấy mà trạng thái tụ dương khí được giữ tách khỏi hỗn mang vũ trụ.
Hơi thở cũng là nguồn sinh khí giữ cho mọi vòng luân hồi của con người ở mức giới hạn cho phép dưới ánh sáng mặt trời trong suốt thời kỳ hưởng dương. Khi giới hạn ấy bị phá vỡ, chu kỳ hưởng dương chấm dứt, Thái cực con người trở lại trạng thái mất cân bằng và tiếp tục chuyển dịch trong nửa kia của vòng luân hồi, để lập một chu trình cân bằng mới với đơn nguyên mới, không bao giờ giống đơn nguyên tiền thân về mặt chất, về mặt vật thể.
Sống bao lâu là thọ: con số một trăm năm và hệ số của mỗi người
Thọ, theo ông, là khi thời gian hưởng dương của một người đạt giá trị gần bằng số lượng thời gian mà thiên nhiên quy định cho sự tồn tại của Thái cực con người dưới ánh mặt trời. Khoảng thời gian ấy gọi là tuổi trời. Theo các nghiên cứu mà ông dẫn, tuổi trời dao động từ bảy mươi lăm đến một trăm bảy mươi lăm năm Trái đất, gấp ba đến bảy lần thời gian để một người bình thường trưởng thành hoàn toàn về thể chất. Với tiến bộ của dinh dưỡng và vệ sinh môi trường, cận dưới của tuổi trời ngày càng được nâng cao; tạm thời ông giả thiết tuổi trời trung bình hiện nay là một trăm năm.
Tỉ số giữa thời gian hưởng dương thực tế của một người và tuổi trời được ông gọi là hệ số thọ yểu. Hệ số càng gần một thì càng thọ, càng nhỏ thì càng yểu. Lịch phong thủy, ông viết, sẽ giúp người ta dùng thời gian hưởng dương hiệu quả hơn, tiết kiệm sinh lực, giữ gìn nguồn năng lượng do trời đất quy định, nhờ vậy góp phần tăng cả chất lượng lẫn số lượng của hệ số thọ yểu.
Một hành dài bao lâu trong từng nhịp thời gian
Để có những con số ấy, việc quan trọng nhất là chọn đúng các chu trình cân bằng động của tự nhiên có liên quan đến sự mất cân bằng của Thái cực con người. Có thể kể rất nhiều chu trình: chu kỳ ngày đêm, chu kỳ tháng năm; chu kỳ sinh học của lục phủ ngũ tạng, chu kỳ tuần hoàn máu, chu kỳ sinh dục; những chu trình gắn với môi trường sống như gia đình, con cái, nhà ở, việc làm; rồi chu kỳ trăng sao, chu kỳ Trái đất quay quanh Mặt trời và quanh trục của nó, chu kỳ thời tiết khí hậu. Chọn chu trình này hay chu trình khác làm đối tượng nghiên cứu của phong thủy học, theo ông, hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm của các nhà phong thủy: lối chọn nào cho hiệu quả dự đoán được số đông chấp nhận thì trường phái ấy tồn tại lâu hơn, ngược lại sẽ bị đào thải theo thời gian. Việc chọn bản mệnh làm đối tượng thay cho cả con người đã tồn tại hàng nghìn năm, và dù còn nhiều thông số cần chỉnh cho chuẩn, mô hình dựng trên nền kinh nghiệm của Lục thập Hoa giáp với những sửa đổi cần thiết có thể phát huy hiệu quả thực tế rất nhanh, vì tiết kiệm được nhiều thời gian khảo cứu.
Thời gian được người xưa chia thành tứ trụ: năm, tháng, ngày, giờ, cộng thêm vòng trăm năm. Nguyễn Ngọc Thạch tính xem, nếu dùng cách chia năm hành, mỗi hành chiếm bao lâu trong từng vòng.
Trong vòng trăm năm, một hành dài khoảng mười tám năm bảy, tức hơn hai trăm hai mươi tư tháng, hay gần sáu nghìn tám trăm ba mươi ba ngày. Trong vòng một năm, một hành dài khoảng hai tháng rưỡi, chính xác là hơn sáu mươi tám ngày. Trong vòng một tháng, một hành dài khoảng năm ngày bảy phần mười, tương đương sáu mươi tám canh giờ. Trong vòng một ngày, một hành dài khoảng hai canh giờ rưỡi, tức gần bốn giờ rưỡi, hay hai trăm sáu mươi tám phút. Trong vòng một canh giờ, một hành chỉ còn dài khoảng hai mươi hai phút rưỡi.
Con số cuối cho thấy một hành không choán hết cả canh giờ. Vì thế, theo ông, người xưa đã phân biệt sinh đầu canh giờ, giữa canh giờ và cuối canh giờ, như sách Ngọc hạp chính tông, nơi dự đoán rằng trẻ sinh ở những khoảng khác nhau của cùng một canh giờ thì tính khí khác nhau. Tuy nhiên, Ngọc hạp chính tông không dùng hệ chia năm hành mà dùng hệ chia ba.
Nếu dùng cách chia mịn hơn năm phần, ta có thể dựng những mô hình mà độ dài của một hành chỉ còn nhỏ hơn một phút, thậm chí xuống tới một phần tỷ giây. Ông ví đó như cây gậy như ý trong tay người dự đoán: đơn vị đo càng nhỏ thì phạm vi truy tìm thời điểm xảy ra sự kiện mất cân bằng càng hẹp, và khả năng đoán trúng càng cao. Ông gọi công cụ thực hiện việc này là máy tính phong thủy.
Ba thứ đã mất thì không lấy lại được, và cuốn lịch dành riêng cho từng người
Người xưa nói rằng trong đời mỗi người có ba thứ quý giá đã đi thì không bao giờ trở lại: tuổi trẻ, lời nói và thời gian; mà lãng phí thời gian là điều đáng trách nhất. Ông kể ba nguyên nhân khiến thời gian trở nên vô ích. Một là thời gian bất khả kháng vì tật bệnh. Hai là thời gian do dự, không biết phải quyết theo đường nào. Ba là thời gian lãng phí vào những việc không đâu do chính ta định hướng sai, hoặc đi theo một định hướng sai.
Cuốn lịch phong thủy của ông được viết để mỗi người có thể tìm ra con đường riêng, khám phá tiềm năng của bản thân và tìm được người bạn đường trung thành nhất cho những quyết sách. Lịch được dùng riêng cho từng người và từng việc cụ thể, là ứng dụng trực tiếp của mô hình Thái cực Hoa giáp. Phương châm của lịch là giờ nào việc đó, được xem như kim chỉ nam cho những ai ước nguyện thành công. Nền tảng của nó là định hướng giải thoát của đạo Phật, lấy thuyết Âm Dương Ngũ hành làm công cụ và lấy xu thế vận động của cái tâm con người làm đối tượng nghiên cứu.
Lịch gồm hai phần: phần hướng dẫn một số ứng dụng cơ bản và phần triển khai lịch từ tháng bảy năm hai nghìn không trăm linh sáu đến năm hai nghìn không trăm bốn mươi ba. Bản minh họa trình bày lịch của ba năm 2007, 2008, 2009; lịch từ 2008 đến 2043 nằm trong cuốn Phong thủy thế giới tiền tâm linh.
Ba cách đọc lịch: xem hằng ngày, tra nhanh, và khi vội
Công dụng thứ nhất là xem ngày giờ hằng ngày. Trước hết phải nhớ kỹ vận khí của bản thân thuộc hành gì, được ghi ở góc trái phía dưới của lịch; lúc đầu chỉ nên để ý đến chữ đầu trong mục vận khí. Sau đó căn cứ vào hành của ngày, ghi trong cột tên thông thường của ngày, và hành của giờ, ghi trong cột giờ nào việc đó, để suy xét và quyết định xem ngày giờ ấy tốt hay không đối với vận khí bản thân và công việc đang quan tâm. Việc suy xét dùng nguyên lý tương sinh và tương khắc của Ngũ hành.
Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Mộc khắc Thổ, Hỏa khắc Kim, Thổ khắc Thủy, Kim khắc Mộc, Thủy khắc Hỏa.
Công dụng thứ hai là truy nhanh hành của tuổi, của năm, của tháng, của ngày, của giờ khi biết tên Can Chi của chúng. Cách làm là dóng từ hàng Chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi trong cột giờ nào việc đó xuống phía dưới, cho tới khi gặp đúng tên Can của đối tượng cần tra thì dừng lại. Đáp số nằm trong ô vuông dưới Can đó.
Công dụng thứ ba dành cho lúc vội: có thể đọc phần gợi ý về giờ tốt, ngày tốt và màu sắc ghi dưới bảng. Nhưng ông nhắc rằng người dùng phải tự suy ngẫm về mức chính xác giữa điều mình mong ước và thực tế xảy ra để chỉnh lại cho hợp với bản thân, bởi ngày giờ tháng năm sinh của mỗi người chưa chắc đã chính xác. Do vậy lời phán quyết của người khác dựa trên những thông số ấy chỉ nên dùng để tham khảo. Ông kết rằng, với sự giúp đỡ của lịch phong thủy, mỗi người sẽ trở thành người thầy của chính mình.
Ngũ hành phả: tấm sổ kiểm đếm nguyên khí của gia đình
Ngũ hành phả là phiên bản của mô hình Thái cực Hoa giáp theo quan niệm Ngũ hành, dùng để kiểm đếm nguyên khí của mỗi gia đình và mỗi dòng họ. Nó là cơ sở để quy hoạch và lập kế sách cân bằng khí lâu dài cho gia đình và cộng đồng. Ông kể ba tác dụng.
Tác dụng thứ nhất là giúp mỗi người tự kiểm chứng tính cách của mình dựa vào tính tương sinh, tương khắc của tứ trụ thời gian lúc sinh, từ đó tự điều chỉnh hành vi sống. Tác dụng thứ hai là sau khi đã biết mình nhờ xem lịch phong thủy và định vị được Ngũ hành của tứ trụ thời gian sinh, mỗi người sẽ tìm cho mình chiến lược hành động phù hợp nhất về nghề nghiệp, chuyện riêng tư và giao hữu bạn bè, có lợi nhất về mặt lý thuyết. Tác dụng thứ ba là cách làm tương tự có thể áp dụng cho hai người, một gia đình nhỏ, một gia đình lớn, một tập thể hay một cộng đồng dân cư; một việc cần triển khai trong dòng họ là lập Ngũ hành phả, tham khảo mẫu Ngũ hành phả của dòng họ Nguyễn ở Ninh Bình.
Nguồn: Nguyễn Ngọc Thạch, Hằng Số Luân Hồi – Thái Cực Hoa Giáp.
