Bài tổng quan
Thiên phù, tuế hội, thiên hình và vận khí sáu mươi năm
Có tám năm mà vận của can và vị của chi nhìn nhau như hai mặt của một tấm gương, và có mười hai năm mà khí trên trời sinh ra vận dưới đất. Người xưa đếm đủ từng loại một: thiên phù, tuế hội, thuận hóa, tiểu nghịch, thiên hình, bất hòa. Vì sao ngày Giáp Tuất của năm Mậu Thân lại được chọn làm chứng cứ…
Mục lục · 10 phần
- 01Thiên phù: khi vận và khí hợp thành một
- 02Tuế hội: chính vận gặp chính vị
- 03Sáu năm đồng thiên phù, sáu năm đồng tuế hội
- 04Thuận hóa: trời sinh vận
- 05Tiểu nghịch: vận sinh trời
- 06Thiên hình: trên khắc dưới
- 07Bất hòa: dưới làm hại trên
- 08Tương đồng: vận và khí cùng một hành
- 09Các phù và hai thế chính hóa, đối hóa
- 10Gốc sống của từng hành và hạn Dương Cửu
Trong sáu mươi năm, vận của can và khí của chi lúc thì cùng một hành, lúc thì sinh nhau, lúc thì khắc nhau. Có năm hai khí ấy nhập làm một và đẩy cực lực lên mạnh nhất, có năm chúng giằng co nhau như hai người không chịu nhường bước. Người xưa tính ra từng loại một, với con số cố định mười hai năm cho mỗi loại, và từ đó nhìn ra năm nào hòa, năm nào nghịch.
Thiên phù: khi vận và khí hợp thành một
Thiên phù là thế vận và khí tư thiên hợp nhau. Vì hợp nên khí hóa mãnh liệt. Thế này không chỉ xét theo năm mà còn xét theo tháng và ngày. Người ốm vào ngày ấy dễ nguy khốn, không chết cũng chậm khỏi. Nếu thiên phù lại gặp thêm tuế hội, tức khi năm, tháng, ngày đều mang thế ấy, thì gọi là Thái Ất thiên phù và coi là cực xấu. Thí dụ ngày Đinh Hợi của năm Đinh Mão mà tháng cũng mang Đinh Mão, Quý Mão hoặc Đinh Hợi, thì ba tầng thời gian cùng chồng lên nhau. Người xưa coi đó là thế nặng nhất đối với người tuổi Đinh Mão, và càng nặng hơn nữa với người tuổi Đinh Hợi hay Quý Mão.
Mười hai năm, cũng như mười hai tháng hay mười hai ngày mang tên sau đây, thuộc Thiên phù, nghĩa là khí hóa khác vận mà gặp khí tư thiên hội họp đồng hóa:
- Vận Thổ, tư thiên Thái âm: Kỷ Sửu, Kỷ Mùi. Kỷ thuộc Thổ vận, Sửu và Mùi thuộc chủ khí Thái âm thấp thổ tư thiên. Thổ khí và thấp khí cùng đồng hóa.
- Vận Hỏa: Mậu Dần, Mậu Thân, Mậu Tý, Mậu Ngọ. Mậu thuộc Hỏa vận. Dần và Thân chủ Hỏa, thuộc Thiếu dương tướng hỏa tư thiên. Tý và Ngọ chủ nhiệt, thuộc Thiếu âm quân hỏa. Hỏa khí và thử khí cùng đồng hóa.
- Vận Kim: Ất Mão, Ất Dậu. Ất thuộc Kim vận. Mão và Dậu chủ táo, thuộc Dương minh táo kim tư thiên. Kim khí và táo khí cùng đồng hóa.
- Vận Mộc: Đinh Tỵ, Đinh Hợi. Đinh thuộc Mộc vận. Tỵ và Hợi chủ phong, thuộc Quyết âm phong mộc. Mộc khí và phong khí cùng đồng hóa.
- Vận Thủy: Bính Thìn, Bính Tuất. Bính thuộc Thủy vận. Thìn và Tuất chủ hàn, thuộc Thái dương hàn thủy. Thủy khí và hàn khí cùng đồng hóa.
Tuế hội: chính vận gặp chính vị
Có tám năm mà vận của can và vị của chi nhìn nhau như hai mặt của một tấm gương.
Tuế hội là khí trung vận và khí của chi năm tương đồng hóa, nghĩa là bản vận lâm bản khí, nên khí gốc tràn lên vận. Có tám năm như thế:
- Đinh Mão: Đinh thuộc Mộc vận, Mão nằm đúng chính vị của Mộc.
- Mậu Ngọ: Mậu thuộc Hỏa vận, Ngọ nằm đúng chính vị của Hỏa.
- Giáp Thìn, Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi: Giáp và Kỷ thuộc Thổ vận, còn Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đều gửi ở Thổ.
- Ất Dậu: Ất thuộc Kim vận, Dậu là chính vị của Kim.
- Bính Tý: Bính thuộc Thủy vận, Tý là chính vị của Thủy.
Năm đồng tuế hội được coi là rất hiểm, vì vận và khí giống nhau nên khí hóa càng dồn dập. Người giỏi Thái Ất và Ngũ vận lục khí nhờ đó đoán được những ngày nguy hiểm của người bệnh.
Sáu năm đồng thiên phù, sáu năm đồng tuế hội
Những năm dương, tức khí trung vận thái quá mà hợp với khách khí tại tuyền, gọi là Đồng thiên phù, nghĩa là dương vận đồng hóa với bản khí tại tuyền. Có sáu năm: Giáp Thìn và Giáp Tuất, vì Giáp là dương thổ, khí trung vận thái quá, mà Thìn và Tuất thuộc Thái âm thấp thổ tại tuyền. Nhâm Dần và Nhâm Thân, vì Nhâm là dương mộc, còn Dần và Thân thuộc Quyết âm phong mộc tại tuyền. Canh Tý và Canh Ngọ, vì Canh thuộc dương kim, còn Tý và Ngọ thuộc Dương minh táo kim tại tuyền.
Những năm âm, tức khí trung vận bất cập mà hợp với khách khí tại tuyền, gọi là Đồng tuế hội. Có sáu năm: bốn năm Quý Tỵ, Quý Hợi, Quý Mão, Quý Dậu, vì Quý thuộc Hỏa vận bất cập, trong khi Tỵ và Hợi thuộc Thiếu dương tướng hỏa tại tuyền, còn Mão và Dậu thuộc Thiếu âm quân hỏa tại tuyền. Và hai năm Tân Sửu, Tân Mùi, vì Tân thuộc âm thủy, còn Sửu và Mùi thuộc Thái dương hàn thủy tại tuyền.
Về chứng cứ lịch sử, bà Từ Hy Thái hậu mất ngày mười lăm tháng mười một năm 1908, nhằm ngày hai mươi hai tháng mười năm Mậu Thân. Ngày ấy là Giáp Tuất, đúng ngày Đồng thiên phù, mà năm Mậu Thân cũng thuộc hàng năm Thiên phù. Hoàng đế Quang Tự mất ngay trước bà một ngày.
Thuận hóa: trời sinh vận
Có mười hai năm trong sáu mươi năm mà khí tư thiên sinh ra trung vận, tức trên sinh dưới. Đó là thuận hóa, khí sinh ra vận, thời thuận lý, năm tương đắc. Dù là năm thái quá mà gặp thuận hóa thì cũng bớt thái quá và có thể giải được. Mười hai năm ấy là:
- Quý Tỵ, Quý Hợi: Mộc sinh âm Hỏa.
- Giáp Tý, Giáp Ngọ, Giáp Dần, Giáp Thân: Hỏa sinh dương Thổ.
- Ất Sửu, Ất Mùi: Thổ sinh âm Kim.
- Tân Mão, Tân Dậu: Kim sinh âm Thủy.
- Nhâm Thìn, Nhâm Tuất: Thủy sinh dương Mộc.
Nếu chữa bệnh mà gặp năm bất cập có thuận hóa thì nên chữa theo lối thẳng, tức chính trị.
Tiểu nghịch: vận sinh trời
Ngược lại, có mười hai năm trung vận sinh ra khí tư thiên, tức dưới sinh trên. Đó là tiểu nghịch, như con ngồi trên đầu mẹ, thuộc hạn nhẹ, bệnh nhẹ. Gồm các năm:
- Quý Sửu, Quý Mùi: âm hỏa sinh Thổ.
- Nhâm Tý, Nhâm Ngọ, Nhâm Dần, Nhâm Thân: dương mộc sinh Hỏa.
- Tân Tỵ, Tân Hợi: âm thủy sinh Mộc.
- Canh Thìn, Canh Tuất: dương kim sinh Thủy.
- Kỷ Mão, Kỷ Dậu: âm thổ sinh Kim.
Thiên hình: trên khắc dưới
Có mười hai năm khí tư thiên khắc trung vận, tức trên khắc dưới. Đó là thế bất tương đắc, gặp các năm ấy thì dù thái quá hay bất cập cũng đều xấu. Người ta gọi chung là Hình sát, nghĩa là có thể chết. Người đang bệnh mà gặp Thiên hình thì các chứng xấu nguy nảy sinh, gọi là ác chứng. Năm trường hợp của Thiên hình gồm:
- Kỷ Tỵ, Kỷ Hợi: Mộc khắc âm Thổ.
- Tân Sửu, Tân Mùi: Thổ khắc âm Thủy.
- Mậu Thìn, Mậu Tuất: Thủy khắc dương Hỏa.
- Canh Tý, Canh Ngọ, Canh Dần, Canh Thân: Hỏa khắc dương Kim.
- Đinh Mão, Đinh Dậu: Kim khắc âm Mộc.
Bất hòa: dưới làm hại trên
Có mười hai năm bất hòa, tức vận khắc khí, nghĩa là trung vận khắc tư thiên, dưới làm hại trên. Khí không được hòa nên có tai ương và chủ bệnh nặng. Năm trường hợp, tính chung cho cả năm, tháng, ngày:
- Ất Tỵ, Ất Hợi: âm kim khắc Mộc.
- Bính Tý, Bính Ngọ, Bính Dần, Bính Thân: dương thủy khắc Hỏa.
- Đinh Sửu, Đinh Mùi: âm mộc khắc Thổ.
- Quý Mão, Quý Dậu: âm hỏa khắc Kim.
- Giáp Thìn, Giáp Tuất: dương thổ khắc Thủy.
Tương đồng: vận và khí cùng một hành
Vì vận có thái quá, có bất cập, có tư thiên, có tại tuyền, nên người xưa chia chuyện tương đồng thành nhiều trường hợp: Chi đức phù, Can đức phù, Thiên phù, Chính hóa, Đối hóa, Thiên kim phù, Tuế thủy hội, và nhiều thế khác với những điều tốt xấu rất phức tạp. Riêng loại tương đồng thuần túy, tức vận và khí cùng một hành, có mười hai năm:
- Đinh Tỵ, Đinh Hợi: vận và khí đều Mộc.
- Mậu Tý, Mậu Ngọ, Mậu Dần, Mậu Thân: vận và khí đều Hỏa.
- Kỷ Sửu, Kỷ Mùi: vận và khí đều Thổ.
- Ất Mão, Ất Dậu: vận và khí đều Kim.
- Bính Thìn, Bính Tuất: vận và khí đều Thủy.
Hai bên cùng hóa khí: thiên can hóa khí cho ngũ vận, địa chi hóa khí cho lục khí. Thiên can hợp hóa là Giáp Kỷ hóa Thổ, Ất Canh hóa Kim, Bính Tân hóa Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quý hóa Hỏa. Địa chi hợp hóa thì Sửu Mùi hóa Thổ, đồng hóa khí Thái âm thấp. Mão Dậu hóa Kim, đồng hóa khí Dương minh táo. Thìn Tuất hóa Thủy, đồng hóa khí Thái dương hàn. Tý Ngọ hóa quân hỏa, đồng hóa khí Thiếu âm nhiệt. Dần Thân hóa tướng hỏa, đồng hóa khí Thiếu dương hỏa. Tỵ Hợi hóa Mộc, đồng hóa khí Quyết âm phong.
Các phù và hai thế chính hóa, đối hóa
Chi đức phù: Giáp có lộc ở Dần, Bính có lộc ở Tỵ, Canh có lộc ở Thân, Nhâm có lộc ở Hợi. Nếu gặp vận Mộc mà chi và nguyệt cùng thuộc Mộc thì gọi là Chi đức phù. Hỏa, Kim, Thủy cũng xét như vậy. Gặp thế này thì phần trên tốt, phần dưới xấu.
Can đức phù: các cặp Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý, hai can của mỗi cặp hợp nhau thành bộ. Gặp thế này thì điều tốt thêm tốt, điều xấu được cứu trợ.
Thiên mộc phù: năm vận Mộc mà gặp Dần, Thân thì xấu. Các vận hóa khác thì cứ theo thiên can hóa khí và địa chi hóa khí mà xét. Dựa theo luật Ngã sinh, Sinh ngã, người xưa dùng nguyên lý này để đoán chuyện bệnh nặng nhẹ, tìm đồ vật đã mất hoặc chọn giờ tốt xấu trong ngày. Theo luật ấy, hành do mình sinh ra thì hưu, còn hành sinh ra mình thì vượng.
Với ngày Không vong, tuần Không vong, người xưa còn dùng hai thế Chính hóa và Đối hóa. Chính hóa là thực, Đối hóa là hư. Chính hóa là khi số can chi chia đều nhau và lý ngũ hành, tức khí hóa, đều được địa vị, nên khi xét nhân sự thì là thực và có tác dụng để theo đuổi. Đối hóa là khi số can chi xung nhau, ngũ hành cũng xung nhau, nên khi xét nhân sự thì là hư, như cô dương, cô âm, hoặc tuyệt khí sắp đến thời suy.
Các năm chính hóa là Ngọ, Mùi, Dần, Thìn, Dậu, Hợi. Các năm đối hóa là Tý, Sửu, Thân, Tuất, Mão, Tỵ.
- Ngọ ở chính Nam là hành hỏa vượng.
- Mùi ở Tây Nam là hành thổ vượng.
- Dần ở Đông Bắc là hành hỏa vượng.
- Thìn ở Đông Nam là kho tàng của thủy.
- Dậu ở chính Tây là hành kim vượng.
- Hợi ở Tây Bắc là hành mộc vượng.
- Tý đối với Ngọ được khí của hành hỏa.
- Sửu đối với Mùi được khí của hành thổ.
- Thân đối với Dần được khí của hành hỏa.
- Tuất đối với Thìn được khí của hành thủy.
- Mão đối với Dậu được khí của hành kim.
- Tỵ đối với Hợi được khí của hành thủy.
Gốc sống của từng hành và hạn Dương Cửu
Chính hóa và đối hóa là gốc số sinh, tức thời lệnh thực hư. Người biết Thái Ất dùng số khí hóa của can ngày sinh để khởi hạn Dương Cửu, theo gốc sống như sau: Giáp Kỷ hóa Thổ khởi năm tuổi ở Ngọ, nơi hỏa vượng. Ất Canh hóa Kim khởi bốn tuổi ở Tỵ, gốc sống của Kim, vượng ở Dậu. Bính Tân hóa Thủy khởi một tuổi ở Thân, vì Thân đối với Dần, gốc sinh Thủy nhờ thế của Dần là gốc sống của Hỏa. Đinh Nhâm hóa Mộc khởi ba tuổi ở Hợi, nơi hành mộc vượng. Mậu Quý hóa Hỏa khởi hai tuổi ở Dần, nơi hành hỏa vượng.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
