Bài tổng quan
Mồ mả họ Nguyễn ở Hoa Lư, địa cung phục vị và hướng đặt mộ cho từng người
Họ Nguyễn ở Hoa Lư giữ một ngôi nhà thờ gần trăm năm và nghĩa trang của gần năm thế kỷ quanh nó. Mỗi người trong họ được xếp vào một trong tám cung, mỗi cung có bốn hướng và bốn khu đất để đầu mộ quay về nhà thờ. Cách xếp ấy dựa vào đâu...
Mục lục · 12 phần
- 01Mộ phần của nhiều thế hệ là sợi dây vô hình nối con cháu với cội nguồn
- 02Gần năm trăm năm của một họ ở đất Hoa Lư
- 03Bốn điều nguyện của tổ tiên và lời hồi hướng của con cháu
- 04Chuyên đề gồm bốn nội dung và năm bước dùng
- 05Vòng một trăm tám mươi năm và vị trí của mỗi thế hệ
- 06Nhà thờ quay hướng Cấn, và đôi câu đối ghi thời gian khánh thành
- 07Tám cung và bốn hướng cho mỗi người
- 08Tám nhóm người, mỗi nhóm bốn hướng ghi trong bảng
- 09Khu đất quanh nhà thờ: đầu mộ luôn quay về phía nhà thờ
- 10Những lời dặn khi chọn hướng: một người một huyệt
- 11Hình dáng và tỷ lệ mộ phần
- 12Ca quyết tính trùng tang cho người đã khuất
Mộ phần của nhiều thế hệ là sợi dây vô hình nối con cháu với cội nguồn
Âm phần chủ yếu là mồ mả của nội tộc và dòng họ. Nguyễn Ngọc Thạch viết rằng muốn bình ổn âm phần, trước hết người trưởng họ phải ý thức được trọng trách lưu giữ, cập nhật, xây dựng và nghiền ngẫm gia phả của dòng giống nhà mình. Tùy vào nhân duyên mà kiến tạo nghĩa trang và nhà thờ của dòng tộc, rồi từ đó lập Ngũ hành phả. Trên cơ sở ấy, người ta tìm ra quy luật thịnh suy của dòng họ và có chiến lược bình ổn lâu dài.
Ông giới thiệu một mô hình định vị âm phần của họ Nguyễn ở Ninh Bình, trích từ bài viết nhân kỷ niệm chín mươi năm ngày khánh thành nhà thờ họ, soạn tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng năm năm 2005. Theo ông, mô hình này chứa nhiều thông tin có thể áp dụng cho các dòng họ khác, nếu đã có cơ sở vật chất ban đầu tương tự, và mang tên Nhất đường tổ khảo tụ anh linh.
Thực tế mách bảo rằng có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Một trong những mối liên hệ vô hình níu kéo hoặc phù trợ con người trong nỗ lực vươn tới giải thoát tâm thân, theo ông, chính là mồ mả của nhiều thế hệ. Mồ yên mả đẹp phải hiểu là thể xác và linh hồn được an táng theo phong thủy truyền thống.
Gần năm trăm năm của một họ ở đất Hoa Lư
Họ Nguyễn trong bài viết ấy đã tồn tại gần năm trăm năm. Từ khi gia phả ghi nhận cụ Nguyễn Văn Đăng, sinh năm Giáp Tý 1564, là thủy tổ, cho đến ngày nay, các thế hệ đều được an táng theo truyền thống phong thủy Phật giáo. Nhà thờ họ được dựng cách đây gần một trăm năm. Sự sinh sôi và trưởng thành của nhiều thế hệ con cháu họ Nguyễn ở Thoong Bái, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình suốt gần năm thế kỷ là minh chứng cho công đức tổ tiên đã đạt tới sự linh ứng, tụ được dương khí trên mảnh đất này.
Sứ mệnh ngàn đời của con cháu mai sau, ông nhắn nhủ, là biết gìn giữ nguyên khí của dòng họ, thứ đã được ấn chỉ trong tủy sống của mỗi người. Sinh khí và dòng giống đều từ đó mà ra và từ đó mà tồn tại. Quên cội nguồn đại khí của mình xuất phát từ đâu và quy tụ về đâu thì cũng như mất tủy sống. Mỗi sinh linh không hơn không kém, chỉ như một viên gạch nhỏ trong cấu hình linh khí tổng thể của dòng họ, hay như một giọt nước làm đầy ly đức trong đại dương âm đức mênh mông của tổ tiên.
Làm tổn thương nguyên khí của mình trong tổng thể đại khí của dòng họ, dưới bất kỳ hình thức nào, theo ông đều là tội với tiên tổ và chắc chắn không khá được vì mất gốc. Ý nguyện ghi trong bài là một trong những yếu quyết để xây dựng gốc gia quy. Ai không ngộ được điều ấy thì khác nào cánh chim lạc đàn, mỏi cánh rã rời trong một thế giới không có ngày mai.
Bốn điều nguyện của tổ tiên và lời hồi hướng của con cháu
Câu Nhất đường tổ khảo tụ anh linh là một trong bốn điều nguyện của tổ tiên mà ông gọi là Tứ linh nguyện. Điều nguyện thứ nhất dặn con cháu noi theo người nhân nghĩa hiếu thảo. Điều nguyện thứ hai dặn làm người phải biết gìn giữ bản sắc theo chuẩn mực chân, thiện, mỹ mà đạo Khổng đã dạy. Điều nguyện thứ ba nói về cố đô Hoa Lư, nơi tụ hội hồn thiêng sông núi, và về tổ đường, nơi các cố tổ đã trụ lại lập nghiệp trong khí thiêng đó.
Nhất đường tổ khảo tụ anh linh.
Điều nguyện thứ tư dặn con cháu phải gìn giữ và lưu truyền công đức của tổ tiên tới muôn đời sau bằng đạo hiếu thảo. Bài viết kết bằng lời kêu gọi những ai là con cháu Nguyễn tộc thế tôn hãy nguyện đời đời kiếp kiếp tĩnh tâm hồi hướng, tụ khí anh linh cho nguyên khí dòng họ ngày càng viên mãn và trường tồn trên mảnh đất này.
Chuyên đề gồm bốn nội dung và năm bước dùng
Chuyên đề này gồm bốn phần chính. Phần thứ nhất là bảng tra địa cung phục vị của nam và nữ, mà ông cho là kết quả đúc kết văn hóa phương Đông nhiều nghìn năm và được thuyết phong thủy thế giới tiền tâm linh khái quát, diễn giải và minh chứng. Phần thứ hai là giải thích ý nghĩa của từng phương hướng đối với từng người, một hệ quả suy ra từ Kinh Dịch, qua phép biến quẻ của hậu thiên bát quái. Phần thứ ba là quy hoạch tổng thể mồ mả của dòng họ khi lấy nhà thờ làm tâm, kèm sơ đồ chỉ dẫn vị trí từng người, theo ý nguyện của gia tiên đã ghi trên cột đá nhà thờ. Phần thứ tư là chú thích, giải nghĩa một số khái niệm cơ bản, một số lưu ý khi an táng và cách tính trùng tang.
Quy trình dùng gồm năm bước. Bước một là xác định mình tuổi gì, sinh năm nào. Bước hai là tìm địa cung phục vị của bản thân. Bước ba là xem ý nghĩa từng hướng. Bước bốn là tìm khu đất phù hợp với mình. Bước năm là đọc ghi chú để thấu triệt sự lựa chọn. Mọi thắc mắc, ông cho biết, sẽ được thuyết trình tại đạo tràng của Nguyễn tộc thế tôn, trong khuôn khổ hội Tu tại gia.
Vòng một trăm tám mươi năm và vị trí của mỗi thế hệ
Để nói về thời gian và không gian tồn tại của dòng họ, ông dựa vào quy luật thiên văn: chín hành tinh của hệ Mặt trời, gồm sao Hỏa, sao Kim, sao Mộc, sao Thổ, sao Thủy, sao Thiên Vương, sao Hải Vương, sao Diêm Vương và Trái đất, cứ sau mỗi chu kỳ một trăm tám mươi năm lại nằm trên cùng một đường thẳng. Mỗi chu kỳ như vậy là một kỷ nguyên, mà trong thuyết của ông gọi là một vòng luân tinh. Sáu mươi năm đầu của kỷ nguyên gọi là thượng nguyên, sáu mươi năm tiếp theo là trung nguyên, sáu mươi năm cuối là hạ nguyên.
Ông lấy mốc là năm đức Chúa Jesus ra đời, được coi là năm đầu Công nguyên, và theo lịch Can Chi là năm Canh Thân. Cụ thủy tổ Nguyễn Văn Đăng sinh năm Giáp Tý 1564, vào năm thứ ba thời vua Mạc Mậu Hợp, thuộc vòng luân tinh thứ mười, chính xác là năm đầu của trung nguyên trong vòng ấy. Vòng luân tinh thứ mười một bắt đầu năm 1684 và kết thúc năm 1863. Vòng thứ mười hai bắt đầu năm 1864 và kết thúc năm 2043. Như vậy thời điểm viết bài, người ta đang ở những năm cuối của hạ nguyên của vòng thứ mười hai. Vòng thứ mười ba bắt đầu từ năm 2044 và kết thúc năm 2223.
Ông đặt câu hỏi: phải làm sao để con cháu thuộc vòng luân tinh thứ mười ba, mười bốn và về sau không những trường tồn mà còn tự hào về tổ tiên, như thế hệ hiện nay đã tự hào về tổ tiên sống ở vòng thứ mười, thứ mười một và những năm đầu của vòng thứ mười hai. Do giới hạn của cuốn sách, bảng tra địa cung phục vị chỉ ghi trọn vòng thứ mười hai, vì đó là những năm liên quan trực tiếp đến năm đời gần nhất. Địa cung phục vị của ba nghìn năm trước Công nguyên và ba nghìn năm sau Công nguyên được ông ghi trong cuốn Phong thủy thế giới tiền tâm linh.
Nhà thờ quay hướng Cấn, và đôi câu đối ghi thời gian khánh thành
Nhà thờ họ Nguyễn trong chuyên đề được xây theo hướng Cấn. Thời gian khánh thành được ghi lại bằng hai câu đối. Câu thứ nhất nói về đế quốc Duy Tân, năm Nhâm Tý, tháng cuối mùa thu thành lập xã hiệu. Câu thứ hai nói về hoàng triều Khải Định, năm Bính Thìn, tháng giữa mùa hạ dựng nhà thờ. Từ hai câu này, ông suy ra rằng xã được thành lập vào tháng chín năm 1912, thời vua Duy Tân tại vị từ giữa năm 1907 đến giữa năm 1916; còn nhà thờ khánh thành vào mùa hè, tháng năm năm 1916, thời vua Khải Định tại vị từ giữa năm 1916 đến cuối năm 1926.
Lý do là mỗi năm có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, và ba tháng trong mỗi mùa được gọi theo thứ tự Mạnh, Trọng, Quý: tháng đầu mùa là Mạnh, tháng giữa mùa là Trọng, tháng cuối mùa là Quý. Vì vậy quý Thu là tháng chín âm lịch, còn trọng Hạ là tháng năm âm lịch. Ông cũng nhắc rằng chữ quý mà ta nghe khi chơi bài xuất phát từ bốn tháng cuối mùa là tháng ba, sáu, chín, mười hai âm lịch. Vào lúc chuyển mùa, thời tiết thay đổi mạnh, con người dễ sinh bệnh và hay mất nhiều vào những tháng ấy; ai ốm nặng mà qua được các tháng cuối mùa thì rất quý.
Việc tìm ngày khánh thành và ngày khởi công nhà thờ, theo ông, căn cứ vào quy luật phát triển của dòng họ và vào bản mệnh của các bậc tiền bối trực tiếp đại diện cho dòng tộc xây nhà thờ.
Ông còn nêu một khuyến cáo về khu đất quanh nhà thờ. Khái niệm này không bị giới hạn trong bất kỳ ranh giới nào, kể cả biên giới quốc gia. Vì vậy, khi thấu ngộ nguyên lý Nhất đường tổ khảo tụ anh linh, con cháu vẫn có thể tụ khí về nhà thờ họ mà không nhất thiết phải cải táng về nghĩa trang gần nhà thờ, dù đương nhiên càng gần nhà thờ được bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Điều kiện để tâm linh và vong linh nhập thuần vào long mạch của dòng họ chính là đạo hạnh: thuận tự nhiên, họ có hàng, đạo tự thân, mà đạo không cầu mà có. Trước ta, trong ta, sau ta, theo dòng chảy thời gian, chính là cửu huyền thất tổ; không ngộ được gia đạo cơ bản này thì lấy đâu sinh khí mà tụ khí anh linh.
Tám cung và bốn hướng cho mỗi người
Trong cách xếp hướng đặt mộ của Nguyễn Ngọc Thạch, mỗi người được quy về một trong tám cung gọi là địa cung phục vị. Địa cung phục vị được tra theo năm sinh, trong một bảng lập riêng, và với việc tra bảng này nam và nữ khác nhau. Con số ra là một trong tám số: một, hai, ba, bốn, sáu, bảy, tám, chín, không có số năm. Mỗi con số ứng với một cung trong địa lý phong thủy, và người mang con số ấy được gọi là người của cung đó.
Một, người cung Khảm. Hai, người cung Khôn. Ba, người cung Chấn. Bốn, người cung Tốn. Sáu, người cung Càn. Bảy, người cung Đoài. Tám, người cung Cấn. Chín, người cung Ly. Khi đã biết mình thuộc cung nào, ông nói, thì với nam và nữ như nhau, mỗi người có bốn hướng có thể đặt mộ, mang bốn tên: phục vị, sinh khí, thiên y và diên niên. Ông cho rằng ý nghĩa của từng hướng là hệ quả suy ra từ Kinh Dịch, từ phép biến quẻ của hậu thiên bát quái.
Tám nhóm người, mỗi nhóm bốn hướng ghi trong bảng
Người cung Khảm có thể đặt mộ theo bốn hướng: chính Bắc là phục vị, chính Nam là diên niên, chính Đông là thiên y, còn hướng Đông Nam là sinh khí nhưng bảng ghi là không dùng.
Người cung Khôn có thể đặt theo hướng Tây Nam là phục vị, nhưng bảng ghi không dùng; chính Tây là thiên y; Tây Bắc là diên niên; Đông Bắc là sinh khí.
Người cung Chấn có thể đặt theo chính Đông là phục vị; Đông Nam là diên niên, ghi không dùng; chính Nam là sinh khí; chính Bắc là thiên y.
Người cung Tốn có hướng Đông Nam là phục vị, ghi không dùng; chính Nam là thiên y; chính Đông là diên niên; chính Bắc là sinh khí.
Người cung Càn có hướng Tây Bắc là phục vị, chính Tây là sinh khí, Tây Nam là diên niên, Đông Bắc là thiên y; trong đó ba hướng ở các góc đều được ghi là không dùng, chỉ còn chính Tây dùng được.
Người cung Đoài có chính Tây là phục vị, và ba hướng còn lại là Tây Nam thiên y, Tây Bắc sinh khí, Đông Bắc diên niên, cả ba đều ghi không dùng.
Người cung Cấn có hướng Đông Bắc là phục vị, Tây Bắc là thiên y, Tây Nam là sinh khí, chính Tây là diên niên; hướng Đông Bắc và Tây Nam được ghi không dùng.
Người cung Ly có chính Nam là phục vị, Đông Nam là thiên y, chính Đông là sinh khí, chính Bắc là diên niên; hướng Đông Nam ghi không dùng.
Khu đất quanh nhà thờ: đầu mộ luôn quay về phía nhà thờ
Phần quy hoạch tổng thể lấy nhà thờ làm tâm và đặt đầu mộ hướng về phía nhà thờ. Mỗi người cung nào được chọn một trong bốn khu đất, tương ứng với bốn hướng ở trên.
Người cung Khảm có thể chọn khu phía Nam của nhà thờ, đầu quay Bắc, là phục vị; khu phía Bắc, đầu quay Nam, là diên niên; khu phía Tây, đầu quay Đông, là thiên y; khu Tây Bắc, đầu quay Đông Nam, là sinh khí.
Người cung Khôn chọn khu Đông Bắc, đầu quay Tây Nam, là phục vị; khu phía Đông, đầu quay Tây, là thiên y; khu Đông Nam, đầu quay Tây Bắc, là diên niên; khu Tây Nam, đầu quay Đông Bắc, là sinh khí.
Người cung Chấn chọn khu phía Tây, đầu quay Đông, là phục vị; khu Tây Bắc, đầu quay Đông Nam, là diên niên; khu phía Bắc, đầu quay Nam, là sinh khí; khu phía Nam, đầu quay Bắc, là thiên y.
Người cung Tốn chọn khu Tây Bắc, đầu quay Đông Nam, là phục vị; khu phía Bắc, đầu quay Nam, là thiên y; khu phía Tây, đầu quay Đông, là diên niên; khu phía Nam, đầu quay Bắc, là sinh khí.
Người cung Càn chọn khu Đông Nam, đầu quay Tây Bắc, là phục vị; khu phía Đông, đầu quay Tây, là sinh khí; khu Đông Bắc, đầu quay Tây Nam, là diên niên; khu Tây Nam, đầu quay Đông Bắc, là thiên y.
Người cung Đoài chọn khu phía Đông, đầu quay Tây, là phục vị; khu Đông Bắc, đầu quay Tây Nam, là thiên y; khu Đông Nam, đầu quay Tây Bắc, là sinh khí; khu Tây Nam, đầu quay Đông Bắc, là diên niên.
Người cung Cấn chọn khu Tây Nam, đầu quay Đông Bắc, là phục vị; khu Đông Nam, đầu quay Tây Bắc, là thiên y; khu Đông Bắc, đầu quay Tây Nam, là sinh khí; khu phía Đông, đầu quay Tây, là diên niên.
Người cung Ly chọn khu phía Bắc, đầu quay Nam, là phục vị; khu Tây Bắc, đầu quay Đông Nam, là thiên y; khu phía Tây, đầu quay Đông, là sinh khí; khu phía Nam, đầu quay Bắc, là diên niên.
Những lời dặn khi chọn hướng: một người một huyệt
Ông nhắc rằng việc lấy dương hướng cho chuẩn xác là khó. Người tìm hướng đặt mộ cần dùng la bàn và phải có con mắt nghề phong thủy để nhìn địa hình, địa vật, sao cho phù hợp với bản mệnh của thân chủ, tránh những cung độ xấu và thuận theo quy tắc đặt mộ nói chung. Ví dụ, trong Lục thập Hoa giáp có một ca quyết gọi là phạm huỳnh tuyền, chỉ rõ những phương cần tránh theo từng Can: Đinh và Canh tránh Khôn, Ất và Bính tránh Tốn, Giáp và Quý tránh Cấn, Tân và Nhâm tránh Càn. Dụng cụ định hướng giúp giảm những sai sót rất dễ mắc khi đặt hướng nhà và hướng mộ.
Khuyến cáo thứ nhất của ông là tùy từng người và từng vị trí đất cụ thể, hướng mộ sẽ được điều chỉnh theo hai mươi bốn hướng chuyên biệt, tốt hơn hoặc xấu hơn ở một khía cạnh nào đó. Vì vậy phải chấp nhận rằng trong họa có phúc, trong phúc lại có họa, nếu người đặt mộ không tường tận mọi việc.
Khuyến cáo thứ hai là không phải cặp vợ chồng nào cũng có thể được đặt song huyệt. Nguyên tắc tối thượng của phong thủy cần tôn trọng là thiên sinh nhất nhân, địa sinh nhất huyệt, nghĩa là mỗi người một mộ.
Hình dáng và tỷ lệ mộ phần
Về hình dáng và kích thước, ông cho rằng hình bát giác và hình tròn là phù hợp nhất cho dương phần của ngôi mộ, vì vừa đáp ứng yêu cầu phong thủy vừa hợp thẩm mỹ văn hóa dòng họ đã có từ xa xưa. Có hai phương án: nếu phần đế mộ hình tròn thì phần thân mộ hình bát giác; nếu phần đế mộ hình bát giác thì phần thân hình tròn. Tỷ lệ giữa chiều cao thân mộ và đế mộ là năm trên một, kích thước mà ông cho là luôn cho chữ Lão trong nhiều cách tính.
Ca quyết tính trùng tang cho người đã khuất
Ông cũng ghi một cách tính thiên di, trùng tang và nhập mộ cho người mất. Khi có sự bất tương giữa tam thân thì dẫn tới vấn đề trùng tang và thiên di. Trước hết phải thuộc bàn tay Địa Chi: mỗi chấm đen trên bàn tay là một cung, cung Tý bắt đầu từ đốt ngón đeo nhẫn của bàn tay trái, rồi theo chiều thuận kim đồng hồ đến Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tuổi thọ, tháng, ngày và giờ của người mất rơi vào cung nào thì cung đó cho biết vong linh quy thân ra sao, theo ca quyết sau.
Tý, Ngọ, Mão, Dậu: thiên di. Dần, Thân, Tỵ, Hợi: trùng tang. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: nhập mộ.
Cách tính đi theo thứ tự tuổi thọ, rồi tháng mất, rồi ngày mất, rồi giờ mất. Tuổi thọ ở đây là số năm hưởng dương, bằng năm mất trừ năm sinh rồi cộng một, vì tính cả năm còn nằm trong bụng mẹ. Với nam, khởi tính tuổi thọ từ cung Dần và đi vòng theo chiều thuận kim đồng hồ, tháng, ngày, giờ cũng tính thuận chiều. Với nữ, khởi tính tuổi thọ từ cung Thân và đi ngược chiều kim đồng hồ; lý do, ông cho biết, được minh giải trong thuyết phong thủy thế giới tiền tâm linh.
Ông lấy ví dụ một người đàn ông thọ sáu mươi sáu tuổi, mất ngày mười một tháng ba âm lịch, lúc mười bốn giờ ba mươi tức giờ Mùi. Tuổi thọ kết thúc ở cung Sửu. Từ cung Sửu tính tháng giêng thì tháng ba rơi vào cung Mão. Từ cung Mão tính ngày mùng một thì ngày mười một rơi vào cung Sửu. Từ cung Sửu tính giờ Tý thì giờ Mùi rơi vào cung Thân. Kết luận: tuổi thọ rơi vào cung Sửu là nhập mộ; tháng mất rơi vào cung Mão là thiên di; ngày mất rơi vào cung Sửu là nhập mộ; giờ mất rơi vào cung Thân là trùng tang. Căn cứ vào các biểu hiện ấy, ông viết, các thầy sẽ đưa ra cách hóa giải để vong linh sớm được siêu thoát.
Nguồn: Nguyễn Ngọc Thạch, Hằng Số Luân Hồi – Thái Cực Hoa Giáp.
