Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Hình Thế Đất, Thời Điểm Được Đất, Phương Hướng Và Người Thầy Địa Lý

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch20/09/20269 phút đọc3 lượt đọc
Hình Thế Đất, Thời Điểm Được Đất, Phương Hướng Và Người Thầy Địa Lý

Ngày Canh Thân tháng Sửu, một người xem về địa thế, được quẻ Hàm. Thanh Long trì Thế, Nhật thần lâm Thế, nên lai long đến từ mé tả, vượng mà hữu khí; Long Hổ bao bọc hai bên, Chu Tước Hợi thủy được Nhật thần tương sinh nên có dòng nước ôm vòng chầu đến. Hai hào gián vượng tướng, minh đường rộng rãi. Người xem gật đầu thừa nhận không sai một chỗ nào, rồi hỏi ngay rằng đất ấy có tốt hay không. Dã Hạc lão nhân lại lắc đầu, nói quẻ ấy chỉ vẽ ra được hình thế của huyệt mộ, còn cát hung họa phúc thì tuyệt nhiên không thấy. Vậy một quẻ rốt cuộc xem được bao nhiêu việc, và muốn biết đất ấy có phát hay không thì phải khấn thần linh thế nào?


Hình Thế Đất: Lai Long, Minh Đường, Long Hổ Và Thủy Khẩu Hiện Trong Sáu Hào

Thế vượng gặp Trường Sinh, lai long vươn xa;

Thế suy bị Ứng khắc, án sơn lấn át.

Hai hào gián vượng, minh đường rộng rãi;

Long Hổ suy nhược, phải trái lõm sâu.

Núi tả vượng, chỏm ngọn lởm chởm;

Núi hữu vượng, nanh vuốt phục tàng.

Chu Tước bị hình xung, núi phía trước hỗn loạn;

Huyền Vũ gặp phá tán, mạch phía sau trống không.

Long, Hổ, hào Thế hợp cục, rồng cuộn hổ ngồi;

Thủy thổ Thế Ứng tương hợp, núi ôm sông bọc.

Thủy khẩu không vững, hào thượng chắc chắn Không Vong;

Đường đi quanh co, Đằng Xà ắt gặp phá tán.

Hào Thế đương lệnh, lại gặp Trường Sinh, Đế Vượng tại Nhật thần, là lai long dài mà lớn. Nếu như hào Ứng xung khắc hào Thế, ắt là do núi phía trước quá cao. Hoặc lúc an táng, nhận lầm hướng núi. Nếu hào Ứng bị khắc, thì không đáng ngại, đổi hướng là được. Hai hào gián ở giữa Thế, Ứng tượng trưng cho minh đường, nếu vượng tướng, là minh đường rộng rãi; nếu hưu tù, là minh đường khuyết, lệch. Hào gián ở gần Thế là án sơn, không nên khắc hào Thế. Thanh Long là núi bên tả, Bạch Hổ là núi bên hữu, nếu hai hào này vượng, là có núi bên tả bên hữu bao bọc. Nếu hai hào này suy, thì không có thể bao bọc chở che. Về cơ bản, Thanh Long nên vượng, nên được trợ giúp, thế núi hiên ngang; Bạch Hổ nên suy, nên bị khắc, là tượng nanh vuốt mai phục. Chu Tước bị Hình, Xung, Khắc, Tán, hoặc Phá, Mộ, Tuyệt, Không, là tượng núi phía trước hỗn loạn. Nếu Huyền Vũ gặp phải, tức mạch phía sau thiếu hụt. nếu như Thế, Ứng, Long, Hổ, Tử Tôn hợp thành Tam hợp cục, là thế đất tốt, rồng cuộn hổ ngồi.

Hào thượng tức hào 6, nếu gặp Không Phá, là thủy khẩu không vững vàng; nếu gặp Tuyệt, chủ về nước cạn nguồn khô, đây là nước ở đường sông, chứ không phải bàn về thủy khẩu, cần phải xem hào thủy trong quẻ; nếu hưu tù, bị khắc, là nước dâng nước rút bất thường; nếu gặp sinh, hóa sinh, chủ về nguồn nước sâu xa, dòng chảy trường cửu. Lại gặp Thanh Long, chủ về nguồn nước sâu xa. Đằng Xà tượng trưng cho đường đi, nếu bị xung tán, thì đường nhỏ sẽ nhiều; nếu vượng tướng, ắt sẽ có đường cái quan. Câu Trần tượng trưng cho bờ ruộng, nếu vượng tướng sẽ có, suy, phá sẽ không có.

Ví dụ: Vào ngày Canh Thân tháng Sửu, xem về địa thế, được quẻ Hàm:

Quẻ Trạch Sơn Hàm

Thanh Long trì Thế, Nhật thần lâm Thế, nên lai long đến từ mé tả, vượng mà hữu khí, bên phải bên trái đều không bị thương khắc, Long, Hổ bao bọc. Hướng sơn Mùi thổ gặp Nguyệt phá. Chu Tước Hợi thủy là núi phía trước, được Nhật thần Thân kim tương sinh, nên sẽ có dòng nước chầu đến, hoặc có dòng nước đai lưng ôm vòng, nước có nguồn. Đằng Xà là đường đi, hào thượng là thủy khẩu, đều gặp Nguyệt phá, nên đường nhỏ đan xen, thủy khẩu tán loạn. Hai hào gián vượng tướng, nên minh đường rộng rãi.

Người xem bèn nói: Không sai chỗ nào! Đất này có tốt không?

Ta đáp: Quẻ này chỉ xem về hình thế của huyệt mộ mà thôi, chứ không thể hiện được cát hung họa phúc. Ta cười các bậc tiên hiền chỉ dùng một quẻ mà đoán khắp cả cha con, anh em, vợ con, tiền tài, quan lộc, nên chẳng lẽ lại bắt chước ư? Nếu hỏi về công danh, hãy xem thêm một quẻ nữa, khấn với thần linh rằng: "An táng tại đất này, liệu con có được thành danh không?" Rồi căn cứ vào chương "Quan lộc" để suy đoán. Nếu muốn xem có phát tài không, thì căn cứ vào chương "Cầu tài" để suy đoán. Nếu muốn xem con cháu có vượng phát không? Có tổn hại đến cha mẹ, anh em, thê thiếp không? Đều căn cứ vào chương "Thân mệnh", "Cha mẹ", "Anh em" để suy đoán. Nếu dùng quẻ xem về hình thế để suy đoán về Lục thân hay danh lợi, thì như quẻ này: Huynh Đệ trì Thế, là thần nghèo túng, phá hao, khắc vợ; huống chi Thê Tài Mão mộc lại phục dưới Ngọ hỏa, mộc bị tiết khí, lại bị kim khắc thương. Nếu dùng quẻ này đoán gộp, ắt là điềm tổn hại thê thiếp, thương tổn nô bộc, nghèo khó vất vả, thiếu ăn thiếu mặc. Thử nghĩ xem, đã được thế đất tốt như vậy, làm sao lại đến nỗi gia cảnh nghèo hèn, mất mát người thân như vậy? Nếu thực như thế, thì có thể coi là cát địa được không? Bởi vậy phương pháp chia ra để xem của ta thực sự rất hữu ích, làm khuôn phép bất di bất dịch của ngàn năm.

Có người hỏi rằng: "Câu phú nói hào Phụ không nên vượng, không nên Phụ động hóa Phụ, là thế nào?"

Ta đáp: "Xem về đất cát lấy hào Thế, hào Tử Tôn làm chủ, Phụ động sẽ khắc Tử, sao lại không kỵ?"

Lại hỏi rằng: "Câu phú nói "hóa Khắc hóa Quỷ, Huynh Đệ Thê Tử chớ nên gặp", là như thế nào?"

Ta đáp: "Phàm xem về đất cát, hào Thế và hào Tử Tôn vượng, đất đấy dùng được. Còn về cha mẹ, anh em, thê thiếp, tiền tài, công danh, cần phải xem riêng quẻ khác, không được xem gộp. Nhưng nếu xem về đất mà quẻ hung, không cần đợi xem riêng, thì điềm hung đã hiện trong quẻ. Lục thân hóa Quỷ, Quỷ hóa Lục thân, là đất hình thương."

Nếu Lục thân động hóa Khắc, hóa Quỷ, không cần phải xem suy vượng, Không, Phá, Hình, Xung. Thần mách bảo thiên cơ ở chỗ động, động mà hóa hung, hiển nhiên đã mách bảo rõ cho ta, lẽ nào lại bỏ qua không xem, mà đi xem quẻ khác.

Xem Khi Nào Có Đất: Hào Thế Tĩnh Đợi Xung, Hào Thế Động Đợi Hợp

Hình thế đã rõ trên mặt giấy, chỉ còn chưa biết năm nào tháng nào mảnh đất ấy mới thực sự về tay.

Hào Thế làm Dụng thần.

Nếu tĩnh, đợi đến lúc gặp xung, gặp trực.

Nếu động, đợi đến lúc gặp trực, gặp hợp.

Nếu Không Vong, đợi đến lúc xung thực.

Nếu gặp Nguyệt phá, đợi đến lúc điền thực.

Nếu gặp hợp, nhập Mộ, đợi đến lúc xung khai.

Nếu gặp quẻ độc tĩnh, độc phát, cần đợi đến lúc gặp trực.

Nếu hào Thế hưu tù, cần đợi đến khi vượng tướng.

Nếu hào Thế vượng tướng, cần đợi đến lúc hưu tù.

Hào Thế tượng trưng cho phần mộ, nếu tĩnh, đợi đến năm hoặc tháng gặp xung, gặp trực, sẽ có đất. Ví dụ hào Thế tại Tý thủy, an tĩnh, sẽ ứng nghiệm tại năm, tháng Tý (trực), Ngọ (xung). Nếu hào Thế động, sẽ ứng nghiệm tại năm Tý.

Nếu hào Thế Không, đợi đến năm xung Không, thực Không sẽ ứng nghiệm. Nếu hào Thế gặp Nguyệt phá, cần đợi đến năm thực Phá.

Nếu hào Thế gặp Tam hợp, Lục hợp, hoặc hóa hợp, hoặc gặp Mộ tại Nhật thần, hoặc hóa Mộ, đều ứng vào ngày xung khai.

Nếu trong quẻ có hào độc phát, độc tĩnh, sẽ ứng vào năm trực. Nếu là hào độc phát, sẽ ứng vào khi gặp hợp; nếu là hào độc tĩnh, sẽ ứng vào lúc gặp xung. Ví dụ, trong quẻ hào Tý thủy độc phát, sẽ ứng vào năm Tý, năm Sửu; nếu hào Tý thủy độc tĩnh, sẽ ứng vào năm Tý, Ngọ.

Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Thìn, xem khi nào được đất, được quẻ Phục biến Truân:

Quẻ Địa Lôi Phục
Quẻ biến Thủy Lôi Truân

Đoán rằng: "Hào Tài Hợi thủy độc phát, trợ giúp cho hào Thế, nhưng hóa Tuất thổ hồi đầu khắc. Nay Tuất thổ gặp Nguyệt phá, đến tháng chín thực Phá, Tuất thổ càng vượng, phải đợi đến tháng Lập đông thủy vượng mới được đất." Người xem bèn hỏi: "Sẽ được đất tại phương nào?" Ta đáp: "Xem gì ứng nấy, nếu muốn biết được đất tại phương nào, phải xem thêm một quẻ."

Được Đất Tại Phương Nào: Hào Phụ Mẫu Chỉ Hướng Cho Người Đi Tìm

Kỳ hạn đã có chỗ tính, vẫn còn phải biết quay mặt về phía nào mà tìm.

Dã Hạc nói rằng: Xem khi nào có đất, lấy hào Thế làm Dụng thần. Xem được đất tại phương nào, phải lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần. Sau khi chôn cất, đều lấy hào Phụ làm Dụng thần.

Hào Phụ tại Hợi, Tý: Huyệt tốt tại phương bắc.

Hào Phụ tại Tị, Ngọ: Huyệt tốt tại đông nam.

Hào Phụ tại hào thổ: Được đất tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Hào Phụ tại mộc: Được đất tại đông bắc Dần Mão.

Hào Phụ tại Thân, Dậu: Được đất tại tây nam.

Thi thoảng cũng ứng nghiệm tại phương nhập Mộ, ví dụ hào Phụ Mẫu thuộc mộc, sẽ được đất tại phương Mùi, là phương mộc nhập Mộ; Phụ Mẫu thuộc kim, sẽ được đất tại phương Sửu. Các trường hợp còn lại cũng loại suy từ đó.

Xem Về Thầy Địa Lý: Hào Ứng Sinh Hợp Hào Thế Mới Là Người Có Duyên

Đất nằm ở đâu đã có hào Phụ chỉ lối, còn người cầm la bàn dẫn đường thì lấy hào nào mà đo.

Hào Ứng là Dụng thần, nếu vượng tướng, sinh hợp hào Thế, tuy không giỏi cũng có thể sử dụng.

Nếu hưu tù, xung khắc hào Thế, tuy giỏi giang cũng không nên theo.

Nếu Thế, Ứng đều Không, không nên tìm thầy đó.

Nếu hào Ứng Không, Phá, không phải thầy giỏi.

Nếu hào Ứng vượng tướng, tương sinh tương hợp hào Thế, hoặc cùng Thế hợp thành Tam hợp, bất kể hào Ứng lâm Tài, Quỷ, Huynh, Phụ, tuy là người kém cỏi bất tài, nhưng ta thích thì lại có duyên.

Nếu hào Ứng hưu tù, xung khắc hào Thế, cho dù Ứng tại hào Quan, hào Phụ, tuy là người bác học giỏi giang, nhưng lại sẽ lừa gạt mình.

Nếu hào Thế, hào Ứng đều Không, là ta và người đó vô duyên, không nên tìm.

Nếu hào Ứng Không Phá, là người vô tài vô đức.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch