Bài tổng quan
Chung Thân Tài Phúc: Hào Thế, Tài, Tử Tôn Định Giàu Nghèo Một Đời
Một người nông dân nghèo cả đời cày cấy, tích cóp được chút của cải. Rồi con trai mê cờ bạc, ra tự thú rồi tố cha chứa chấp sòng bạc, khiến ông phải treo cổ tự vẫn, sản nghiệp tiêu tan trong một sớm. Dã Hạc lão nhân chỉ ra: hào Thế bị Nguyệt kiến khắc, bị Nhật thần xung, vốn đã báo trước tai họa từ lúc gieo quẻ. Tăng San Bốc Dịch không xem tài phúc một đời qua một hào duy nhất, mà đặt ba trụ Thế, Tài, Tử Tôn (Phúc) cạnh nhau: vượng suy của từng hào, ai sinh ai khắc ai, sẽ quyết định một người giàu mà yểu, nghèo mà thọ, hay được hưởng phúc mà tay trắng. Ba trụ cột ấy phối hợp ra sao để một đời người hiện rõ trên sáu hào?
Vì sao phải chia lẻ từng việc ra xem, không gộp chung vào một quẻ
Các sách bốc dịch xưa quan niệm, xem về thân mệnh tức gồm các vấn đề như vợ con, tài lộc, chỉ cần một quẻ đã có thể bộc lộ đủ các thông tin, nên dùng kiêm cả sáu hào trong cùng một quẻ để suy đoán. Lý luận như vậy là không biết được rằng, các hào Phụ, Tử, Tài, Huynh Đệ, mỗi hào có chỗ kiêng kỵ, khắc hại khác nhau, nên không thể chỉ dùng một quẻ để suy đoán toàn bộ. Ví dụ được hào Phụ Mẫu vượng tướng, là tượng cha mẹ khoẻ mạnh. Nhưng Phụ vượng sẽ tổn thương đến Tử Tôn, chẳng lẽ những người làm cha mẹ trên đời, đều không có con cái hay sao? Gặp Huynh Đệ thì tài không tụ được, Huynh lại là thần khắc vợ. Nhưng hào Huynh Đệ động, là tượng anh em hòa thuận, thịnh vượng. Vậy nếu hào Huynh Đệ vượng tướng trì Thế phải đoán như thế nào? Là khắc Thê ư? Khắc Tài ư? Anh em hòa thuận ư?
Sách "Dịch lâm bổ di" viết rằng: "Huynh động Thê vong Tài hao tán", nếu theo quan niệm đó, thì những người nghèo khó trên đời đều là những người chết chồng chết vợ ư? Cho đến hào Tài, hào Tử Tôn, cũng đều lý luận theo kiểu đó, ta không rỗi thời gian để bàn luận tỉ mỉ. Nếu muốn kiêm cả mà đoán, thì các bậc tiên hiền vẫn còn đó, mang vấn đề này đi mà hỏi, ta cũng không muốn xen vào.
Giác Tử bàn rằng: Ta nay có được phương pháp là chia ra để xem. Xem về cha mẹ, xem về anh em, mỗi thứ dùng một quẻ riêng. Xem về tiền tài, về công danh một đời, xem vợ chồng có thể chung sống đến bạc đầu hay không, xem về cháu con nối dõi hay tuổi thọ, tất cả đều nên chia ra để xem riêng từng quẻ.
Tài, Phúc, Thế vượng suy phối hợp để định giàu nghèo, thọ yểu
Từ chỗ phải tách riêng từng việc, phú Hoàng Kim Sách bắt đầu định lượng cụ thể ba hào Thế, Tài, Phúc cho một đời giàu nghèo, thọ yểu.
Tài Phúc vượng tướng, chung minh đỉnh thực chi gia.
Tài, Phúc vượng tướng, là nhà phú quý giàu sang.
Sách xưa chú thích rằng: Hào Thế vượng tướng, không bị thương khắc, là tượng đã giàu lại sống thọ.
Giác Tử bàn rằng: Xem về tiền tài thì cần hào Tài vượng, xem về tuổi thọ, cần chú trọng đến hào Thế. Chưa từng thấy hào Tài, hào Phúc không vượng, chỉ có mình hào Thế vượng tướng mà đoán là tượng giàu có sống thọ. Nếu theo đó, thì chẳng lẽ tất cả những người sống thọ trên đời này đều giàu có cả hay sao?
Phàm xem về tài phúc trọn đời, nếu được cả ba hào Thế, hào Tài, hào Tử Tôn đều tốt đẹp trọn vẹn, là tượng gia đình phú quý, phúc lộc lâu dài.
Hào Tài hào Thế vượng tướng, mà Phúc thần (Tử Tôn) không vượng, là người trước giàu sau nghèo. Đó là bởi vì Tử Tôn là gốc của Tài, nước không có nguồn thì trước sau cũng khô cạn. Cho nên có câu: "Tài vượng, Phúc không, vinh hoa bất cửu" (Tài vượng, Tử không, vinh hoa chẳng lâu dài).
Hào Thế và hào Phúc (Tử Tôn) vượng tướng mà hào Tài không vượng, là người được hưởng phúc mà không có tiền tài. Nhưng không có tiền thì làm sao có thể hưởng phúc? Nên người này chắc hẳn đã có sẵn sự nghiệp để hưởng thụ, chỉ biết ngồi mát ăn bát vàng mà không biết phát triển, hoặc tiền của gửi nhờ người khác quản lý, chỉ biết tiêu xài, không phải lo toan vất vả.
Hào Tài, hào Phúc vượng tướng mà hào Thế không vượng, là tượng người nghèo ở nhà đẹp. Giác Tử nói: Khái niệm "không vượng" trên đây bao hàm rất nhiều trường hợp, vô khí, thất hãm, đều là không vượng; đắc địa hữu khí, cũng là không vượng; Không, Phá, Mộ, Tuyệt, cũng là không vượng.
Hào Tài, hào Phúc vượng tướng, hào Thế không vượng nhưng hữu khí, thì về sau đợi đến năm Thế sinh vượng, lại sẽ thành vượng tướng. Cho nên mới có câu: Tài Phúc được quyền, ắt sẽ có ngày vinh hoa.
Hào Tài, hào Phúc vượng tướng mà hào Thế vô khí, là tượng không tốt, tuy cơm áo đủ đầy, nhưng khó tránh khỏi ngây ngô, câm điếc, hoặc bệnh tật, vướng mắc kiện tụng thị phi, hoặc là dạng nhỏ mọn thô bỉ.
Hào Tài, hào Phúc vượng tướng mà hào Thế thất hãm, lại càng hung, tuy có tiền trăm bạc vạn, cũng không được sống thọ.
Theo những suy đoán trên đây, thì hào Tài, hào Phúc dù không vượng tướng, cũng cần phải hữu khí, nếu thất hãm, chắc chắn là điềm xấu. Hào Tài, hào Phúc thất hãm, sẽ phải khuynh gia bại sản. Nhưng nếu động mà gặp Không hoặc Không mà gặp Phá thì không đáng ngại, vì sẽ ứng nghiệm vào năm hoặc tháng thực Không, thực Phá.
Tân bình thích: Câu này rất đúng.
Ví dụ 1: Ngày Bính Tý tháng Dần, nữ đoán vận khí trọn đời, được Trung Phu biến Hoán.


Hào Tài Tý thủy tuy được Nhật phù, nhưng Tử Tôn Không vượng, Tuyệt ở Nguyệt kiến, lại bị khắc thương, vô lực sinh Tài, người nữ này suốt đời nghèo khó, nhờ vào sự giúp đỡ của người thân, bạn bè mà sống qua ngày. Hào Thế Không mà bị khắc, Tử ở Nhật Tuyệt ở Nguyệt, thân thể yếu đuối nhiều bệnh, có chứng động kinh, đau ngực, khối u tử cung,...
Ví dụ 2: Ngày Đinh Hợi tháng Mùi, nam xem chung thân tài phúc, được Đại Hữu biến Ly.


Quan Quỷ ám động sinh Thế, tượng có công danh. Hào Tài Dần mộc Trường Sinh ở Nhật, động đến khắc Thế, Thế lại vượng tướng, là tượng tiền bạc đến gần tôi, tài vận tốt. Người này tốt nghiệp đại học, hiện có mấy trăm vạn.
Tài Thế hưu tù, táo phủ sinh trần chi trạch.
Tài, Thế hưu tù, là tượng bếp, nồi phủ bụi.
Hào Thế, hào Tài, hào Phúc (Tử Tôn) đều vô khí, hoặc gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc động mà biến hung, là người đói ăn thiếu mặc.
Hào Thế đắc địa, mà hào Tài, hào Phúc thất hãm, là người khoẻ mạnh, có sức lực, hoặc có nghề nhỏ tài mọn đủ để sống qua ngày.
Hào Thế, hào Phúc hữu khí, mà hào Tài vô khí, tuy bần hàn, nhưng được vui hưởng phúc lành.
Hào Thế, hào Tài hữu khí, mà hào Phúc vô khí, là người tuy không có của cải tích lũy, nhưng trong tay thường giữ tiền bạc, hoặc giúp người khác quản lý tiền của, nếu được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, cũng có được thành tựu nhỏ.
Ví dụ: Ngày Giáp Thân tháng Mão, xem về tài phúc cả đời, được quẻ Phục biến Di:


Hào 5 Tài Hợi thủy và hào Thế tại hào Tài Tý thủy đều gặp Trường Sinh tại Nhật thần Thân. Tuy không được lệnh (thủy mà xem vào tháng Mão mộc) nhưng được Nhật thần tương sinh. Chỉ hiềm Phúc thần Dậu kim gặp Nguyệt phá mà động hóa Tuyệt. Đây là tượng bình sinh no cơm ấm áo, nhưng khó tích lũy tiền của để dựng nghiệp.
Quả nhiên người này từ năm 37 tuổi trở đi, vào làm chưởng quầy tại hiệu cầm đồ, chủ hiệu trước sau đổi đến ba lần, nhưng người này vẫn giữ nguyên công việc, sống đến năm 71 tuổi, hàng năm vẫn dùng tiền lương nuôi dưỡng gia đình. Điều này ứng với hào Tài trì Thế, lại gặp Trường Sinh. Sinh được bốn trai hai gái. Nếu suy đoán theo phép xem gộp của sách xưa, trong quẻ hào Tử Dậu kim bị Nguyệt phá, lại hóa Tuyệt là tượng không có con.
"Hoàng kim sách" có viết: "Hào Thế hưu tù, không nghèo khổ thì chết non", ta cũng cho là không đúng. Giàu nghèo phải xem hào Tài hào Phúc, yểu thọ chỉ xem hào Thế. Nói "không nghèo thì chết non" là không đúng với lý luận của Dịch.
Thế cư Không vị, chung thân tác sự nan thành;
Hào Thế lâm Không, suốt đời chẳng làm nên sự nghiệp;
Sách xưa chú thích rằng: "Tối kỵ hào Thế lâm Không, chủ về suốt đời sự nghiệp không thành." Ta thấy lý luận này cũng có phần hữu lý, nhưng lại chưa phân biệt các trường hợp vượng, động. Hào Thế vượng mà gặp Không, cũng không bị Không; hào Thế động mà gặp Không, cũng không bị Không, nếu được Nhật thần tương xung, xung Không sẽ hóa thực. Trong quẻ nếu hào Tài, hào Phúc đắc địa, gặp năm xung Không, thực Không, sẽ phát phúc lớn, nên không thể nói là "suốt đời chẳng làm nên sự nghiệp".
Ví dụ: Ngày Tân Hợi tháng Tuất, xem về tài phúc trong cả đời, được quẻ Tỷ biến Quan:


Hào Thế tuy lâm Không, nhưng hợp với Nguyệt kiến, được Nhật thần Hợi tương sinh. Hào Tài Tý thủy động mà sinh Thế, năm Mão nhất định sẽ thành công.
Khi đó triều đình mới lập, Vân Quý chưa bình định. Năm Sửu xem quẻ, đến năm Mão, người này từ Xuyên Trung đem theo vài gánh thuốc phụ tử, hoàng liên đi bán, do đó mà phát tài nhanh chóng, sản nghiệp lên đến vài ngàn lạng vàng, gia nghiệp thành tựu, sung túc lâu dài. Như vậy làm sao có thể cho là "hào Thế lâm Không, suốt đời chẳng nên sự nghiệp".
Lại ví dụ: Ngày Tân Mùi tháng Dậu, xem về tài phúc suối đời, được quẻ Di:

Đoán rằng: Hào Tài trì Thế, tuy được Nhật thần Mùi phò trợ, nhưng hiềm vì gặp Tuần Không. Trong quẻ không có hỏa để sinh Thế, đây là điều tối kỵ khi xem về số mệnh, là tượng khó thành tựu. Người này từ năm 25 tuổi đến 50 tuổi bôn ba tứ xứ, chẳng được việc gì. Sau vì quá nghèo nên đầu quân ra biên ải, không biết sống chết ra sao. Chỉ trong những trường hợp đấy mới nói là "suốt đời chẳng làm nên".
Thân nhập Mộ hương, đáo lão cầu mưu đa lệ.
Thân nhập Tam Mộ, đến già mưu sự vẫn gian nan.
Nếu Hào Thế nhập một trong Tam Mộ, lại hưu tù vô khí, chủ về người đó ngây ngây dại dại, không lanh lợi, tác phong, hành động chậm chạp, làm việc gì cũng không được thành tựu như ý.
Giác Tử bàn rằng: Hào Thế nếu lâm Nhật, Nguyệt hoặc được Nhật, Nguyệt sinh phò, hoặc động mà hóa cát, lại không gặp phải năm xung, năm nhập Mộ, là người mê muội điên đảo. Đợi đến khi Mộ khố xung khai, khác gì mầm non gặp mưa lành. Nếu trong quẻ lại có hào Tài hào Phúc tương sinh, hoặc hào Tài hào Phúc vượng tướng, sẽ giàu có bất ngờ. Nên mới nói: "Người trong Mộ gặp năm xung sẽ phát", sao có thể cho là "đến già mưu sự vẫn gian nan".
Ví dụ: Ngày Bính Tuất tháng Ngọ, xem về tài phúc suốt đời, được quẻ Tiết:

Quẻ trên hào Tài vượng tướng trì Thế, là tượng tay trắng mà được tiền. Lại vì hào Thế nhập Mộ ở ngày Tuất, nên rất đam mê cờ bạc. Sau đến năm Tị, đi đào mỏ chì, đào trúng nhiều chỗ, mà trở nên giàu có nhất vùng.
Dã Hạc bàn rằng: Phép xưa thường cho rằng sẽ ứng nghiệm vào năm xung khai Mộ khố, nhưng trong quẻ này lại ứng với năm xung hào Thế.
Tân bình thích: Chỗ này cũng có nghiệm, có lúc ứng kẻ mê bài bạc, có lúc ứng kẻ nghiện ma túy, có lúc ứng kẻ nát rượu, cũng có lúc ứng kẻ ham chơi.
Quái cung suy nhược căn cơ thiển; hào tượng phong long mệnh vận cao.
Cung quẻ suy nhược căn cơ kém; tượng hào hưng vượng mệnh vận cao.
Tượng hào hưng vượng là một điều kiện rất quan trọng khi xem về thân mệnh. Hào Thế, hào Tài, hào Phúc được sinh phò, vận mệnh tự nhiên sẽ trở nên tốt đẹp.
Còn phần "cung quẻ suy nhược", không thấy ứng nghiệm, thường gặp nhiều người căn cơ mỏng yếu, nhưng cung quẻ lại cực vượng, nên không thể coi đây là chuẩn tắc.
Lục xung, lục hợp và những biến số Mộ khố, Thoái thần quyết định thành bại một đời
Vượng suy ba hào đã có khung, nhưng còn phải xem quẻ gốc biến rơi vào dạng xung hay hợp, động hay tĩnh mới định được nghiệp thành hay bại.
Nhược vấn thành gia, hiềm Lục xung chi vi quái;
Hỏi về thành tựu, kỵ gặp quẻ Lục xung;
Sách xưa chú thích rằng, gặp quẻ Lục xung chủ về sự nghiệp có khởi đầu mà không có kết quả. Quẻ gốc là Lục xung thì 30 năm đầu cuộc sống khó khăn; quẻ biến là Lục xung thì 30 năm sau gia nghiệp lụi tàn.
Ta cho rằng nói như vậy là sai. Nếu chỉ nhìn hai quẻ Lục xung để phán đoán chuyện tốt xấu trong 60 năm, thì các hào Thế, hào Tài, hào Phúc dùng để làm gì? Nếu như các hào Thế, Tài, Phúc vô khí mà lại gặp quẻ Lục xung, mới có kết quả đó.
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Dần, xem về tài phúc, được quẻ Đại Tráng:

Ta thấy quẻ này hào Thế vượng, hào Quan vượng, hào Văn vượng, biết rằng người xem có tài năng, phẩm đức khác thường, bèn hỏi: "Gần đây anh làm việc gì?" Người xem đáp: "Tôi đang đi học, nay vì nhà nghèo muốn theo học y thuật, không biết tài phúc ra sao?"
Ta bèn nói: "Trong quẻ hai hào Quan và Văn đều vượng, nên đến năm Dần sẽ gặp cơ hội, đến năm Ngọ năm Mùi sẽ được đề tên bảng vàng." Người xem nói: "Tôi biết mình không có khả năng, nên không có ý niệm đó." Ta bèn nói: "Tuy anh hỏi về tiền tài, nhưng thần lại mách bảo rằng: trong tương lai sẽ thành danh."
Sau quả nhiên đến năm Dần, vì chữa khỏi bệnh cho một phú ông, nên được chu cấp tiền ăn học, đến năm Ngọ thi đỗ, được phú ông cùng bạn bè giúp đỡ mà được làm huyện lệnh. Đến năm Mùi có tang cha mẹ, sau lại được điền khuyết làm quan, chưa được bao lâu vì mắc lỗi mà mất chức về vườn, công danh chấm dứt.
Sở dĩ ứng vào năm Dần, vì là năm thực Không; ứng vào năm Ngọ phát đạt, vì là năm trực của hào Thế; công danh lên xuống thất thường, là vì gặp quẻ Lục xung. Đường hoạn lộ chấm dứt, là vì hào Tài Tý thủy gặp Tuyệt tại Nhật thần Tị.
An tri sáng nghiệp, hỷ Lục hợp dĩ thành hào.
Muốn biết lập nghiệp, mừng được quẻ Lục hợp.
Sách xưa chú thích rằng: Khi xem về thân mệnh mà được quẻ Lục hợp, chỉ người đó hòa nhã vui vẻ, kết giao được nhiều người tốt, mưu sự đều được như ý. Nếu quẻ gốc là Lục hợp, quẻ biến cũng là Lục hợp, chủ một đời thuận lợi, muôn sự như ý.
Ta cho rằng, nếu cho rằng quẻ này chủ về kết giao bạn tốt, hòa nhã vui vẻ là đúng, nhưng nếu cho là muôn sự như ý thì chưa chắc, cần phải xem xét cả Dụng thần, nếu tượng hào tốt, là đã cát lại càng thêm cát; nếu tượng hào hung, thì gặp hợp cũng vô ích.
Động thân tự vượng, độc lực sanh trì;
Thân động mà tự vượng, một mình dốc sức lập thân;
Sách xưa chú thích rằng: Hào Thế nếu không được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, mà tự cường tự vượng, là tượng tay trắng lập nghiệp. Ta chiêm nghiệm thấy điều này thường ứng nghiệm, nhưng cần phải là hào Tài trì Thế, mà tự cường, tự vượng, thì đa số đều lập nghiệp thành công. Nếu là hào Huynh, hào Phụ, hoặc hào Quan Quỷ trì Thế, chưa hẳn đã thành tựu, mà chỉ miễn cưõng cầm cự mà thôi.
Ví dụ: Ngày Nhâm Tý tháng Thân, xem về tài phúc suốt đời, được quẻ Thái biến Lâm:


Hào Thế Thìn thổ vượng tại ngày Tý, lại không bị hình thương xung khắc, cũng không được sinh phò, nên đây chính là trường hợp tự cường tự vượng, Người này vốn có chút gia nghiệp nhưng vì đánh bạc hết nên ra nghèo khổ, nay đến hỏi xem tương lai còn có cơ hội vượng phát không?
Ta đoán: Hào Huynh trì Thế, nên là tượng vĩnh viễn không có cơ hội làm giàu. Lại thêm hào Thế biến Thoái thần, khó được sống lâu. Người này sau làm đầu mục phu dịch, chết vào năm Sửu.
Suy Thế ngộ phò, nhân nhân sáng lập,
Thế suy được phò trợ, nhờ người mà lập nên nghiệp.
Câu này quả thực có ứng nghiệm. Nếu hào Thế vô khí mà được Nhật thần, Nguyệt kiến hay hào động sinh phò, sẽ gặp được người tốt đề bạt. Nhưng cũng cần phải là hào Tài trì Thế, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến hoặc hào động là hào Tài sinh Thế, mới được người chiếu cố mà lập nên sự nghiệp. Nếu là hào Huynh, hào Phụ trì Thế, chỉ đủ sống qua ngày mà thôi. Thường thấy được Nhật, Nguyệt sinh Thế hoặc Quý Nhân sinh Thế, sẽ được quan trên nâng đỡ.
Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Sửu, xem về tài phúc trong một đời, được quẻ Vị Tế biến Khuê:


Hào Huynh trì Thế là thần hao tài. Tuy được Dần mộc tương sinh, nhưng tài không tụ. Người xem hỏi: Vậy làm việc gì sẽ được thành tựu?
Ta đáp: Mộc sinh hỏa vượng, tượng mộc hỏa thông minh, là tướng linh hoạt khéo léo, vả lại hào Chu Tước tại Phụ Mẫu, theo nghiệp bút nghiên bút có thể sống no đủ.
Về sau người này có chú làm ở nha môn, cho vào làm việc thảo giấy tờ, được lòng quan trên, nên có thể sống đầy đủ qua ngày, nhưng không tích lũy được tiền của. Sở dĩ được chú đề bạt, là ứng vào hào Phụ Dần sinh Thế. Lại nhờ nghiên bút để sinh nhai.
Nhật Thời hợp trợ, nhất sinh thiên đắc tiểu nhân tâm; Tuế Nguyệt khắc xung, bán thế vị triêm quân tử đức.
Ngày giờ cùng giúp, trọn kiếp chỉ được lòng tiểu nhân; năm tháng khắc xung nửa đời chẳng nhận ơn quân tử.
Hào Thế bất luận suy hay vượng, chỉ cần được sinh phò bởi năm, hoặc tháng, hoặc ngày, thì kẻ làm quan sẽ nhận được ân sủng của nhà vua, được người quân tử kết thân, kẻ dưới trung thành kính cẩn; người thường sẽ được quý nhân phò trợ.
Sách lại có viết: Nếu được hào Phụ sinh, sẽ được ơn huệ của bậc cha chú; bị hào Huynh khắc, sẽ bị liên lụy bởi anh em. Điều này thi thoảng mới thấy ứng nghiệm, bởi vậy không nên theo đó.
Hào Thế hữu khí, lại bị Nhật thần hoặc Nguyệt kiến xung khắc, người làm quan sẽ bị cấp trên quở trách, đồng liêu hiềm khích, tiểu nhân bôi xấu. Nếu bị Thái Tuế hay hào 5 xung khắc, sẽ bị thất sủng. Nếu hào Thế hưu tù, lại càng xấu; người thường sẽ bị kẻ quyền quý lăng nhục, bạn bè đố kỵ, người dưới khinh thường, nếu hào Thế hưu tù, lại càng hung.
Tân bình thích: Những cái được nghiệm, Nguyệt kiến và hào 5 là lãnh đạo, Nhật là đồng liêu, hào sơ là bộ hạ (cấp dưới), tiểu nhân.
Ngộ Long Tử nhi vô khí, túng thanh cao diệc thị hàn nho;
Tử gặp Thanh Long mà vô khí, có thanh cao cũng chỉ là kẻ hàn nho;
Điều này quả thực thường xuyên ứng nghiệm. Phàm trong quẻ có hào Tử Tôn trì Thế mà gặp Thanh Long, chủ về ý chí cao cả, không màng phú quý. Cho dù hào Tử Tôn vô khí, cũng chủ về thoát tục siêu phàm, cam tâm chịu nghèo khổ.
Ví dụ: Ngày Quý Sửu tháng Dậu, xem ngoài công danh ra, còn có thể làm việc gì, được quẻ Cấu biến Độn:


Đoán rằng: Tài tinh phục dưới hào 2 lại lâm Không, chính là tượng "nội ngoại không Tài, phục lại Không", là tượng không tụ tài. Nhưng may được hào Tử Tôn độc phát, lại gặp Thanh Long, tuy không trì Thế, cũng chủ về thanh cao, bình sinh không tham của phi nghĩa, không màng đến phú quý.
Người xem hỏi: "Tổ tiên để lại của cải, nhưng đều đã nhường hết cho em trai, nay muốn mang nghề riêng du sơn ngoạn thủy, không biết có được thỏa nguyện hay không?" Ta đáp: "Hào Tử Tôn Hợi thủy biến Quỷ, hào Tài lại lâm Không, là tượng chết con mất vợ, đúng là kẻ thoát tục ly trần."
Người xem nói: "Tôi nay đã 43 tuổi rồi. Năm 21 tuổi vợ chết, không tục huyền, con cái chẳng có." Ta bèn nói rằng: "Quẻ rất trùng hợp, ắt sẽ được như ý."
Sau nghe người này chu du đến các vùng Xuyên, Quảng, Điền, Kiềm, hơn mười năm sau, gửi thư về nhà, rồi bỏ vào Hoa Sơn, không biết sống chết ra sao.
Giác Tử bàn rằng: Ta vì thấy các hào Phụ, Tử, Tài, Huynh có khắc kỵ lẫn nhau, khó có thể chỉ dùng một quẻ mà quyết đoán được, bởi vậy mới nghĩ ra cách chia làm nhiều quẻ để xem. Nhưng cũng có khi không xem về tài phúc, mà trong quẻ lại hiện ra vượng Tài; không xem công danh, mà tượng hào lại hiện ra Quan vượng; trước mắt là tượng hình thê khắc tử, không cần phải xem thêm quẻ khác. Trong quẻ hiện trước ra tượng hình thương, không thể không xem xét cho kỹ càng.
Có người hỏi rằng: "Ông đã bảo nên chia ra để xem, bây giờ tại sao lại bảo là đoán chung?" Ta bèn đáp rằng: "Cái lý này rất khó giải thích cho người thường hiểu rõ. Khi người ta muốn xem về việc gì đó, thì cơ trời đã động, về tình thân của con người, không gì hơn tình máu mủ; về chí hướng của con người, không gì lớn bằng lợi danh. Thần không mách bảo chuyện muốn hỏi, mà mách bảo chuyện chưa hỏi, vì chuyện nào quan trọng hơn sẽ mách bảo trước. Như tại quẻ trên, hào Tử Tôn gặp Thanh Long, là tướng thanh cao. Hào Tử Tôn biến Quỷ, là tượng tuyệt tự. Lại thêm hào Tài phục mà gặp Tuần Không, là tượng thoát tục ly trần. Những việc đó lại hợp với tượng hào Phúc gặp Thanh Long, là người thanh cao. Những quẻ hiển hiện rõ ràng, dễ thấy như thế này, cần gì phải xem thêm quẻ khác. Nếu không, thì với hào Tài như vậy, nên đoán là tượng của tiền trống rỗng, hay là tượng vợ con không có?"
Phùng Hổ Thê nhi vượng, tuy bỉ tục thiên vi phú khách.
Thê gặp Bạch Hổ mà vượng cường, tuy thô bỉ mà trở nên giàu có.
Sách xưa chú rằng: Hào Tài gặp Bạch Hổ, chỉ người này tuy không hiểu lễ nghĩa, nhưng vẫn là phường giàu có. Điều này quả nhiên ứng nghiệm.
Sách lại viết: "Hào Tài vượng mà bị ức chế, thì cũng biết qua về chữ nghĩa", câu này lại là phi lý. Hào Tài vượng mà bị ức chế, thì ứng với việc tương lai sẽ phá gia bại sản, làm sao lại chỉ việc chữ nghĩa văn chương.
Ví dụ: Ngày Bính Tý tháng Ngọ, xem về tài phúc trong một đời, được quẻ Minh Di biến Phong:


Hào Thế lâm Bạch Hổ, hóa thành hào Tài Vượng hồi đầu sinh Thế. Quả nhiên người này một chữ bẻ đôi không biết, hẹp hòi thô bỉ, sống bằng nghề nông, nhà đông người, nuôi nhiều gia súc. Năm Tuất xem quẻ, đến năm Tý đồng ruộng bị nạn châu chấu mất sạch, cả nhà mắc bệnh dịch, gia súc cũng mắc dịch, sở dĩ ứng vào năm Tý, vì khi xem quẻ, Nhật thần Tý xung Tài Ngọ hỏa, nhưng khi đó Ngọ hỏa gặp Nguyệt kiến nên còn chống chọi được. Nay gặp năm Tý, lực xung khắc tăng lên, nên thành phá sản.
Phụ Mẫu trì Thân, tân cần lao lục; Quỷ hào trì Thế, bệnh tật triền miên.
Phụ Mẫu trì Thế, vất vả bận rộn; hào Quỷ trì Thế, bệnh tật liên miên.
Ngộ Huynh tắc Tài mạc năng tụ; Ngộ Tử tắc thân bất phạm hình.
Gặp Huynh thì tiền tài khó tụ; gặp Tử ắt thân chẳng phạm hình.
"Hoàng kim sách" viết rằng: Từ đoạn này trở đi đều phi lý. Hào Phụ Mẫu, Quan Quỷ trì Thế, làm sao lại đoán là vất vả bệnh tật được?
Sách xưa chú thích rằng: Nếu là quý nhân xem quẻ, thì không thể đoán như thế. Người ta xem về thân mệnh, sao biết được là không phải quý nhân. Cho dù thực sự không phải là quý nhân, làm sao biết được tương lai sẽ không hiển quý?
Có người đến xem về tài phúc, ngày Nhâm Thìn tháng Dậu, được quẻ Hằng:

Bèn hỏi rằng: "Khi anh cầu khấn, có hỏi đến công danh không?" Người xem bèn đáp: "Tôi là dân buôn bán, đâu có ý niệm cầu công danh!"
Ta nói: Quẻ này hào Tài sinh Quan vượng, là quẻ hỏi về công danh. Người xem nói: "Cho dù có công danh tự nhiên từ trên trời rơi xuống cũng không đến lượt tôi." Ta bèn bảo người này xem lại, được quẻ Phệ Hạp biến Bĩ:


Ta đoán rằng: Hào Thế là Tài Mùi thổ biến thành hào Quan Thân kim, rõ ràng là dùng Tài đổi lấy Quan. Quẻ trước Tài vượng sinh Quan, hào Thế tại Quan tinh lâm Nguyệt kiến, Nhật thần xung động hào Tài Tuất thổ nên ám động mà sinh Thế, nên tuy đoán là có công danh, nhưng năm tháng không xác định được. Quẻ sau Thế tại Mùi thổ động mà lâm Không, nên đến năm thực Không chắc chắn sẽ ra làm quan.
Quả nhiên đến năm Mão được viện lệ mà tuyển vào nhà giám, đến năm Tị được nắm binh mã, lại bổ chức huyện lệnh, sang năm Mùi thuyên chuyển đến Giang Nam.
Sách xưa chú rằng: "Hào Quỷ trì Thế, bệnh tật triền miên; nếu là quý nhân, sẽ không đoán như vậy". Người này vốn chẳng phải quý nhân, nhưng đâu có thể đoán là "bệnh tật triền miên" được!
Lại ví dụ: Ngày Kỷ Sửu tháng Tị, xem về tài phúc suốt đời, được quẻ Quy Muội biến Lâm:


Ta đoán rằng: "Trong quẻ hào Tài, hào Phúc không vượng, mà hai hào Quan, Văn đều vượng, sao lại nói là không hỏi về công danh?" Người xem nói: "Ý niệm công danh nay đã nguội lạnh."
Ta bèn nói: "Hào Thế lâm Nhật thần, lại được Nguyệt kiến tương sinh, chủ về có người hiển quý tiến cử, đến năm Tị, năm Ngọ, sẽ giàu sang hơn người."
Quả nhiên đến năm Ngọ được tiến cử, tuy không phải xuất thân khoa giáp mà được làm quan về khoa giáp. Như vậy, làm sao có thể cho rằng "Phụ Mẫu trì Thế, vất vả bận rộn"?
Huynh, Quan, Tử Tôn trì Thế: nghèo hèn, họa hoạn hay đường tu hành
Ba hào Thế, Tài, Phúc còn phải gọi tên chính xác hào nào đang trì Thế mới biết vận mệnh nghiêng về phía nào.
Phụ Mẫu lâm thân, lao lục bần hàn chi bối.
Phụ Mẫu tại thân, là bọn nghèo hèn vất vả.
Có người nói rằng: "Hoàng kim sách" là cội nguồn của bốc phệ, chưa từng có chuyện xem về thân mệnh mà đoán gộp cả Tài, Quan, Phụ, Tử. Ta nói: Nếu đã không tin, hãy xem chú giải trong phần Phụ Mẫu trì Thế sẽ rõ.
Xem về thân mệnh, không nên gặp Huynh, Phụ, Quan Quỷ trì Thế. Thế ở hào Phụ thì khắc thương con cái, một đời lao lực, không được an nhàn, như vậy chẳng phải Phụ Mẫu là thần khắc Tử Tôn, lại chủ về một đời vất vả hay sao? Nếu theo lập luận đó, nếu gặp hào Phụ trì Thế, không những lao lực vất vả, mà còn là không con không cái. Như vậy trên đời này, tất cả những người không có con cái đều là hạng vất vả lao lực hay sao?
Giác Tử bàn rằng: Xem về công danh mà được hào Phụ Mẫu trì Thế, chủ về văn thơ chữ nghĩa. Xem về tài phúc gặp hào Phụ Mẫu trì Thế, chủ về vất vả khổ cực. Nếu hào Quan không vượng mà hào Phụ vượng tướng, tuy chẳng được làm quan tại triều đình, nhưng vẫn nổi tiếng về tài văn chương. Suy mà lại bị xung khắc, nếu muốn nương nhờ cửa quan, ắt lành ít dữ nhiều.
Ví dụ: Ngày Ất Mùi tháng Tý, xem về tài phúc trọn đời, được quẻ Đoài:

Đoán rằng: Hào Tài Mão mộc nhập Mộ tại Nhật thần Mùi, hào Quan Tị hỏa hưu tù vô khí, nên danh chẳng thành mà lợi cũng không được. Thật đáng tiếc, hào Phụ vượng lâm Thế, tiền tài càng nhiều, hòa khí càng ít, lại thêm gặp quẻ Lục xung là tượng sự nghiệp không thành. Người này về sau nhiều lần được nhà quyền quý vời đến làm việc, nhưng tài cao khí ngạo, chưa đợi hết nhiệm kỳ đã từ chức bỏ về. Suốt mười mấy năm, cuộc sống bần hàn đạm bạc. Về sau theo người em họ đến nhiệm chức ở Vân Nam, không rõ kết cục ra sao?
Tân bình thích: Ở đây cần phải kiêm xem Tài Quan. Tài vượng Phụ Mẫu trì Thế, Phụ Mẫu không thể nói là vất vả khổ cực. Nếu hào Tài hưu tù Không Phá, lại gặp Phụ Mẫu trì Thế, thì mới có thể nói như vậy.
Ví dụ: Ngày Giáp Dần tháng Ngọ, nữ đoán vận khí trọn đời, được quẻ Đoài.

Ví dụ này và ví dụ ở trên cùng là quẻ Đoài. Quẻ trước Tài được Nguyệt sinh nhưng gặp Không vong, quẻ sau Tài được Nhật phù lại không có Không Vong, đây là chỗ khác nhau của hai quẻ. Hào Thế Mùi thổ chính là Tài khố, người nữ này giúp người ta bán bất động sản, tích góp được rất nhiều tiền. Quẻ cung Đoài, lấy miệng làm nghề, có tài ăn nói, khả năng bán hàng rất tốt.
Lại vào ngày Bính Dần tháng Ngọ, xem về tài phúc trọn đời, được quẻ Phong:

Sách xưa cho rằng, khi xem về tiền tài mà hào Tài khắc Thế là tốt, lý luận như vậy là không biết rằng, nếu xem về tiền tài trước mắt mà hào Tài khắc hào Thế là chắc chắn sẽ được; còn nếu xem về tài phúc trọn đời, mà hào Tài khắc hào Thế là không tốt, vì là tượng bình sinh phải hệ lụy vì tiền tài, bị hại bởi tiền tài. Lại thêm hào Phụ Mẫu trì Thế, là điềm một đời không được yên ổn an nhàn. Hào Phụ Mẫu hưu tù lại bị Nhật thần tương xung, lại gặp Nguyệt phá, như ong làm mật, vất vả khó nhọc nhưng thành quả lại cho người khác hưởng thụ. Quả nhiên, người này vốn là một người nghèo trong nông trại, vất vả cày bừa, tích lũy được chút của cải. Nhưng sau vì con cái hư đốn đi đánh bạc, người con đầu thú rồi tố cáo nhà chứa chấp bạc, khiến người đó treo cổ tự tử, tạo thành án mạng, mà sản nghiệp tiêu tan. Người này uất ức mà chết vào năm Ngọ. Đó là vì hào Thế Thân kim bị Nguyệt kiến Ngọ khắc, bị Nhật thần Dần xung, nên sau lại gặp Ngọ hỏa bị khắc mà chết.
Tân bình thích: Ví dụ phía trên tôi đưa ra cũng là Tài khắc hào Thế, bán bất động sản tuy cũng hơi tốn lời nói, nhưng so với người cày cấy không biết thoải mái hơn mấy chục lần, có thể nói vất vả ư? Hai quẻ khác biệt ở chỗ suy vượng của hào Thế. Tài tuy vượng tướng, nhưng hào Thế là Phụ Mẫu hưu tù, thì cũng có thể nói người đó vất vả khổ cực. Ví dụ này vì con mà chết, chính là do Tử Tôn lâm Nhật xung phá hào Thế.
Huynh hào lâm Thế, tài hao bần hàn chi nhân.
Hào Huynh trì Thế, là kẻ nghèo khó hao tài.
Sách xưa viết: "Gặp hào Huynh thì tiền tài khó tụ", và chú thích rằng, hào Thế gặp hào Huynh sẽ khắc thê thiếp, suốt đời khó tích lũy tiền của, tức vừa coi đó là tượng khắc thê, lại vừa cho tượng hao tài. Nếu theo đó mà luận, thì những người khắc vợ trên đời này đều nghèo khổ cả ư? Vậy những người nghèo mà vợ chồng chung sống đến bạc đầu, những người giàu mà chết vợ, thì phải suy đoán như thế nào? Nên ta cho rằng phép chia ra để xem là hữu lý hơn cả.
Giác Tử bàn rằng: Phàm xem về tài phúc, mà gặp hào Huynh trì Thế, tuy không đoán là sẽ giàu có, nhưng cần phải xem vượng suy. Nếu vượng thì nghèo mà nghĩa khí, suy thì nhiều bệnh tật lại hay gặp thị phi. Nếu được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phò, thì nghèo mà vui vẻ; nếu được Nhật, Nguyệt lâm Tài hợp Thế, thì giàu có mà kiêu ngạo. Nếu vượng mà gặp Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ là phường trộm cướp, gian xảo. Nếu suy mà gặp Câu Trần, Chu Tước, là kẻ khốn cùng gánh gồng khuân vác. Nếu bị khắc bị ức chế, là kẻ tôi tớ hạ đẳng. Nếu được hợp được phò, sẽ có người trên cất nhắc. Tất cả đều dựa vào sự thông biến của người suy đoán, tùy vào mức độ mà đoán.
Quan suy Không Phá, công môn dị thuật tư sinh;
Quan suy mà Không Phá, nha môn thuật lạ sống qua ngày;
Nếu hào Quan Quỷ trì Thế, lại hưu tù vô khí, là kẻ tàn tật hoặc bệnh tật triền miên. Nếu hữu khí, là người làm tại nha môn, hoặc theo các nghề đặc biệt. Nếu được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động, Quý Nhân sinh phò, ắt sẽ được người quyền quý kết thân mà thành tựu được sự nghiệp. Nếu hào Tài vô khí thì chỉ có hư danh mà thôi.
Nhược hữu phù, thương cổ bách công sự nghiệp.
Suy nhược mà được phò, buôn bán, thợ thuyền nên sự nghiệp.
Hào Tài và hào Phúc nếu tự thân vượng tướng, có thể theo nghiệp buôn bán hoặc nghề nông, sẽ được sung túc, được mùa. Nếu hào Tài suy nhược trì Thế, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phò, hiệp trợ, sẽ nhanh chóng hưng vượng, nếu theo nghề nông, thì được mùa sung túc; theo nghề thợ, thì tay nghề tinh xảo.
Mộ đạo tu hành, giai vi Tử Tôn trì Thế;
Mộ đạo tu hành, đều bởi Tử Tôn trì Thế;
Tử Tôn là thần đạm bạc, không màng danh lợi. Tử Tôn trì Thế mà đơn độc không được giúp đỡ, mà hào Tài lại thất hãm, nếu có chí cao thượng thì đoán là làm đạo sĩ, tăng ni. Nếu không có ý xuất gia, thì đừng đoán bậy. Nói thế là không biết rằng, gặp Tử Tôn thì thân không phạm hình thương, nên đoán rằng cuộc đời yên ổn, không phạm quan hình.
Tân bình thích: Tử Tôn tuy là tăng đạo, nhưng chưa hẳn lấy trì Thế mà đoán là làm đạo sĩ, tăng ni, càng không thể bởi vì Tài thất hãm mà đoán như vậy. Người xuất gia cũng có người giàu có, tôi biết một trụ trì lại có mấy trăm triệu nguyên tiền tài sản cá nhân. Ngày xưa người đi tu đa số bởi vì nghèo mà xuất gia, vì vậy mới có lý luận này, đối với người tu đạo thì điều đó càng không thể là khuôn mẫu, tôi thường thấy nhiều người có tiền đam mê tu đạo.
Ví dụ: Ngày Canh Dần tháng Hợi, nữ đoán tu hành, được Đại Tráng biến Bí.


Người nữ này đã có gia đình và cũng rất giàu có, nhưng đam mê tu đạo. Phụ Mẫu trì Thế, tam hợp Phụ Mẫu, lâm Chu Tước, tôi đoán người này hằng ngày đọc kinh, trong nhà cất giữ rất nhiều kinh sách. Hào 6 là miếu vũ, hào Thế nhập Mộ ở hào 6, thường xuyên đến miếu tham bái. Hào Thế Không Vong, không được Quan Quỷ tới sinh, không muốn cùng giường với chồng. Quan Quỷ tương hợp ở Nguyệt kiến, Nguyệt là Tài tinh, Tài là phụ nữ, chồng vụng trộm với người phụ nữ khác. Quẻ được lục xung, biến lục hợp, tâm trạng từ rối loạn đến yên ổn.
Chú thích: Miếu vũ (庙宇) là nơi thờ thần thánh.
Quả nhiên nhất nhất ứng nghiệm.
Gia khuynh danh táng, nãi nhân Quan Quỷ thương thân.
Thân bại danh liệt, chỉ vì Quan Quỷ hại thân.
Nếu gặp hào Quan Quỷ khắc Thế mà hào Thế vượng tướng, thì suốt đời thường gặp quan hình, hoặc bị đố kỵ, bị tiểu nhân ám hại, hoặc đau ốm tàn tật. Nếu Quan Quỷ vượng mà Thế suy, là điềm bại nghiệp hại thân, nên khuyên họ không nên hỏi về tài phúc, mà nhanh chóng tìm cách tránh đi. Nếu hào Thế động biến Quỷ khắc Thế, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến tại hào Quan Quỷ khắc Thế, lại càng hung.
Ví dụ: Ngày Giáp Dần tháng Thìn, xem về tài phúc trọn đời, được quẻ Phong Trạch Trung Phu biến Thủy Trạch Tiết:


Đoán rằng: Hào Thế tại Mùi thổ, được Nhật thần Thìn thổ trợ giúp, nên cũng là hữu khí. Nhưng hiềm vì Nhật thần Dần mộc thương khắc hào Thế, hào thượng Quỷ Mão mộc động biến thành hào Tài Tý thủy, đúng là tượng giúp Quỷ hại thân, không nên đoán về tài phúc, mà nên đoán về tai họa.
Người xem hỏi: "Có thể tránh được không?" Ta đáp: "Tháng chín tháng mười năm nay đừng ra khỏi nhà, có thể tránh được."
Đến tháng chín, người này bị quan sai đi làm việc, phải nhờ người đi thay, giữa đường người đó gặp nạn mà chết. Nên dùng phương pháp này thực sự có thể tránh được nhiều tai họa.
Ví dụ: Vào ngày Quý Mùi tháng Mão, xem về tài phúc trọn đời, được quẻ Cách biến Gia Nhân:


Ở quẻ ngoại, hào Thế cùng Nhật thần, Nguyệt kiến tạo thành tam hợp, nên đây là quẻ tốt. Nhưng hiềm vì hào Thế hóa Quỷ hồi đầu khắc, lại bị hào 6 Mùi thổ tương khắc, trước mắt tuy chưa đáng ngại, nhưng đến tháng Sửu năm nay xung khai tam hợp, hoặc đến tháng Dậu xung khai Mão mộc, cần đề phòng bất trắc. Quả nhiên đến tháng Tị mọc nhọt độc, đến tháng Dậu thì chết.
Tài hóa Thoái hề, bất lợi ư kỷ;
Tài hóa Thoái thần, bất lợi cho ta;
Hào Tài trì Thế, hóa Tiến thần, hoặc động mà sinh Thế, thì sự nghiệp bắt đầu thăng tiến, gia đạo cũng từ đó hanh thông. Nếu hóa Thoái thần, là tượng sự nghiệp bắt đầu suy bại dần cho đến tàn lụi. Nếu hào Thế lại bị hình xung khắc hại, sẽ không phải là sa sút dần dà, mà sẽ nhanh chóng gặp họa lớn khiến cho khuynh gia bại sản.
Thế phùng hợp trú, thụ chế ư nhân.
Hào Thế gặp hợp, bị người khống chế.
Hào Thế lâm Tài hoặc bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hợp, tuy được cơm no áo ấm, nhưng bị người khống chế, mọi việc không được chủ động.
Hào Thế lâm Phụ Mẫu hoặc Huynh Đệ, mà bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hợp, chỉ đủ sống qua ngày, khó được đủ đầy no ấm.
Hào Thế vô khí mà bị hợp, hào Tài hào Phúc cũng vô khí, hào Huynh động trong quẻ, là kẻ hèn mọn bị khống chế, phục vụ người khác.
Tân bình thích: Hào Thế nhập Mộ cũng là bị người khống chế.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
