Bài tổng quan
Tiến Thần Và Thoái Thần: Thế Tiến Lùi Của Hào Động Khi Hóa Biến
Nhận được thư cha báo đang trên đường nhậm chức, người con muốn đi đón, gieo được quẻ Kiển biến Lữ. Hào Phụ Mẫu Tuất thổ hóa Mùi là hóa Thoái thần: cha đã quay về. Hào Thế Thân kim hóa Dậu là hóa Tiến thần: con đang muốn đi. Phụ lại sinh Thế, nên đến ngày Mùi hai cha con gặp nhau. Dần hóa Mão là tiến, như cây mùa xuân. Mão hóa Dần là thoái, như cỏ mùa thu. Sách xưa dạy hào động hóa Không, hóa Phá thì không tiến được. Dã Hạc lão nhân đem hơn hai mươi quẻ thi cử, cầu con, hôn nhân, bệnh tật ra thử, thấy tiến vẫn là tiến, thoái vẫn phải thoái. Vậy hóa thoái lành hay dữ, khi người này nhờ hào Tử Tôn lui mà được chức, người kia theo hào Thế lui mà kiệt dần?
Mục lục · 8 phần
- 01Tiến thần, Thoái thần: hào động biến ra thế tiến hay thế lùi
- 02Hóa Tiến thần gặp Không, Phá vẫn tiến: thi hương, cầu con, hôn nhân
- 03Tiến vẫn là tiến, thoái vẫn phải thoái: quẻ Sư biến Minh Di, Kiển biến Lữ, Tiết biến Nhu
- 04Hào khắc hóa thoái thì hết sức khắc: quẻ Đồng Nhân biến Cách, Quải biến Đại Tráng
- 05Tiến thần, Thoái thần trong các quẻ xem bệnh
- 06Hào động gặp Phá, gặp Tán mà hóa Nhật Nguyệt: xuất hành, người về, thăng chức, thi đậu
- 07Bốn loại Tiến thần và bốn loại Thoái thần
- 08Lý Ngã Bình bàn về chỗ sai của sách Dịch mạo
Tiến thần, Thoái thần: hào động biến ra thế tiến hay thế lùi
Tiến thần và Thoái thần đều là do hào động biến ra. Biến thành Tiến thần hay Thoái thần, nên tốt hay nên xấu, cần phải căn cứ vào sự việc cần xem. Nếu xem về việc tốt, nên hóa thành Tiến thần; nếu xem về việc xấu, nên hóa thành Thoái thần.
Tiến thần: Hợi biến thành Tý, Dần biến thành Mão, Tị biến thành Ngọ, Thân biến thành Dậu, Sửu biến thành Thìn, Thìn biến thành Mùi, Mùi biến thành Tuất.
Thoái thần: Tý biến thành Hợi, Mão biến thành Dần, Ngọ biến thành Tị, Dậu biến thành Thân, Thìn biến thành Sửu, Mùi biến thành Thìn, Tuất biến thành Mùi.
Tiến thần, là thừa thế mà tiến lên, tựa như cây mùa xuân tốt tươi, như nguồn nước tràn đầy, là tượng lâu dài, tiến bộ.
Thoái thần, là bắt đầu thụt lùi, tựa như cây cỏ mùa thu dần dà héo úa.
Hóa Tiến thần gặp Không, Phá vẫn tiến: thi hương, cầu con, hôn nhân
Định nghĩa đã rõ, chỗ cần thử là lời sách xưa rằng hóa Không, hóa Phá thì không tiến được.
Ví dụ: Vào ngày Quý Mão tháng Thân, xem về kỳ thi hương, được quẻ Hằng biến Đại Quá:


Ta đoán rằng: Quan tinh Dậu kim trì Thế, vượng tướng đương thời, bị Nhật thần Mão xung mà ám động. Lại được hào 5 là Quan Quỷ hóa Tiến thần trợ giúp, nâng đỡ. Không những mùa thu năm đó trúng tuyển, mà đến mùa xuân năm sau chắc chắn sẽ đỗ đầu bảng. Quả nhiên dự thi, tin vui liên tiếp.
Lại ví dụ: Ngày Canh Tuất tháng Dậu, xem năm nào sinh con trai, được quẻ Truân biến Tiết:


Hào Tử Tôn Dần mộc trì Thế, hóa Tiến thần. Dần mộc gặp Tuần Không, Mão mộc Không mà lại Phá. Nên đoán là đến năm Dần năm Mão, điền thực được Không, Phá, nhất định sẽ sinh nhiều con trai. Người này tuổi chưa đến ba mươi, vợ không sinh nở được, có rất nhiều nàng hầu. Xem vào năm Tý, đến năm Dần, năm Mão, vợ và nàng hầu đều sinh con. Từ năm 31 đến năm 35 tuổi, sinh liền chín con trai.
Sách xưa cho rằng, hào động, Nhật thần, Nguyệt kiến mà hóa Không hóa Phá, thì không tiến được. Trong quẻ này hào Tuần Không biến thành Không, Phá, nhưng vẫn được tiến.
Lại ví dụ: Ngày Ất Sửu tháng Mão, xem việc hôn nhân có thành không, được quẻ Phệ Hạp biến Tỷ:


Hào Tài trì Thế hóa thành Tiến thần; hào Tử Tị hỏa động mà sinh hào Thế. Nhưng vì Tị hỏa hóa Tý thủy hồi đầu khắc, cần phải đợi đến ngày Ngọ xung mất Tý thủy. Ngọ hỏa lại hợp với hào Thế, nên hôn sự ắt thành. Quả nhiên vào ngày Ngọ, hôn sự được chấp thuận.
Có người hỏi: "Còn có hào Quỷ Dậu kim động, chẳng lẽ không gây trở ngại ư?" Ta bèn đáp rằng: "Hào Quỷ động hóa thành Thoái thần, nên tuy có cản trở, nhưng cũng không đủ sức."
Quẻ này hào Thế tại Tài Mùi thổ động mà hóa Tuần Không, nếu theo phép xem cổ, thì hào Tài hóa Tuần Không, thuộc trường hợp hào động, Nhật thần, Nguyệt kiến hóa Không, không tiến được. Nhưng ở đây động tán hóa Không, vẫn có thể tiến được.
Tiến vẫn là tiến, thoái vẫn phải thoái: quẻ Sư biến Minh Di, Kiển biến Lữ, Tiết biến Nhu
Cùng một quẻ có khi hào này tiến, hào kia thoái, và mỗi hướng đều ứng đúng phần việc của nó.
Lại ví dụ: Ngày Giáp Thìn tháng Dậu, có người bị luận tội, xem tự biện tội có kết quả không, được quẻ Sư biến Minh Di:


Ta bèn đoán rằng: Hào Thế hóa hồi đầu khắc, hào Quan hóa thành Thoái thần, hào Tử Tôn hóa thành Tiến thần, ba hào động này đều không phải là điềm tốt, nên là tượng đại hung. Quả nhiên vào tháng hai năm sau, bị cách chức bắt hỏi tội.
Theo phép xưa, Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hóa Không Phá, là không bị thoái. Trong quẻ này, hào Quan động gặp Nhật thần. Sách xưa lại nói: Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hóa Không Phá, là không tiến. Trong quẻ này, hào Tử Tôn động, hưu tù, lại hóa Không, Phá, nhưng tiến vẫn là tiến, mà thoái vẫn phải thoái.
Lại ví dụ: Vào ngày Bính Tuất tháng Sửu, có người nhận được thư của cha báo đang trên đường nhậm chức, anh ta muốn đi đón, xem có gặp được hay không, được quẻ Kiển biến Lữ:


Hào Phụ hóa Thoái thần, tức cha đã trở về. Hào Thế hóa Tiến thần, chỉ bản thân mình muốn đi. Hào Phụ sinh hào Thế, chắc chắn cha con sẽ được gặp nhau vào ngày Mùi. Sau quả nhiên gặp cha vào ngày Mùi. Sở dĩ ứng nghiệm vào ngày Mùi, là vì hào Tuất Phụ biến thành Mùi, vừa gặp Phá vừa gặp Không; ngày Mùi là ngày điền thực được Không và Phá. Nếu chiếu theo phương pháp cổ, Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hóa Không hóa Phá, là không thoái, thì làm sao người cha lại có thể quay về?
Lại ví dụ: Vào ngày Quý Tị tháng Tuất, xem mùa đông năm đấy có nhận được chức quan sai hay không, được quẻ Thủy Trạch Tiết biến Nhu:


Hào Quan Sửu thổ động mà hóa Tiến thần, nên đoán vào tháng Sửu sẽ được chức quan, sau quả nhiên đúng như vậy. Theo phép xưa, cho rằng Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hóa Phá hóa Không thì không thể tiến. Thế nhưng trong quẻ này, hào động không gặp Nhật thần, Nguyệt kiến lại hóa Phá, nhưng vẫn có thể tiến.
Hào khắc hóa thoái thì hết sức khắc: quẻ Đồng Nhân biến Cách, Quải biến Đại Tráng
Thoái thần không chỉ nói chuyện người về, nó còn tước đi sức khắc của hào đang động.
Lại ví dụ: Vào ngày Đinh Mão tháng Mùi, xem về công danh, xem có được ra làm quan hay không. Được quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân biến Cách:


Ta bèn đoán rằng: Nếu đoán theo phép cũ, thì hào Tử Tôn động mà khắc hào Quan, tức suốt đời không được làm quan. Thế nhưng theo cách suy đoán của ta, thì đến năm Thìn sẽ được làm quan. Tại sao lại như vậy? Vì hào Tuất thổ Tử Tôn tuy động, nhưng lại hóa thành Thoái thần, nên không thể khắc được Quan. Đến năm Thìn xung mất Tuất thổ, nên ta mới đoán vào năm Thìn. Quả nhiên đến năm Thìn được trúng tuyển làm quan. Như vậy sao có thể cho rằng hào động gặp Không, hóa Nhật hóa Nguyệt thì không thoái?
Tân bình thích: Quan Quỷ trì Thế là có tượng quan, Tử Tôn động mà khắc Quan, hóa thoái tuy là không khắc, nhưng bởi vì Tử Tôn hợp Nhật mà không thoái, năm Thìn xung khai cái hợp này thì Tử Tôn được thoái, vì vậy năm Thìn được quan. Ở đây lấy tượng pháp mà luận, không lấy Quan Quỷ suy vượng mà luận. Nếu lấy vượng suy để luận thì Quan Quỷ hưu tù là suốt đời không có quan. Tử Tôn động hợp Nhật chính là thông tin để xác định ứng kỳ.
Lại ví dụ: Vào ngày Tân Mão tháng Thân, xem về bệnh tật, được quẻ Trạch Thiên Quải biến Đại Tráng:


Người này đang mắc bệnh nặng. Ta nói rằng: Hào Tử Tôn trì Thế, nên giờ Thìn ngày mai sẽ gặp được lương y. Quả nhiên vào hôm sau, được người châm cứu mà khỏi bệnh. Có người hỏi rằng: "Hào Tử Tôn biến thành Thoái thần, tại sao lại khỏi bệnh được." Ta bèn đáp rằng: "Hào động hào biến đều thuộc thu kim, đương quyền, đắc lệnh, nên xem về chuyện gần, sao có thể cho là thoái được. Nếu như xem về việc lâu dài, đợi đến lúc hưu tù ắt sẽ thoái."
Phép xem cũ cho rằng hào động phá tán mà biến thành Nhật thần, Nguyệt kiến là tượng cùng đường, như vậy là sai lầm.
Tiến thần, Thoái thần trong các quẻ xem bệnh
Với người bệnh, tiến hay thoái phải hỏi xem hào ấy là Dụng thần, Kỵ thần hay chính hào Thế.
Ví dụ: Vào ngày Quý Mão tháng Sửu, xem bệnh của vợ uống thuốc có khỏi được không, được quẻ Lâm biến Thái:


Ta đoán rằng: Hào Huynh Đệ động mà hóa Tiến thần, dù có thuốc tiên cũng khó cứu, người vợ ắt sẽ chết vào ngày Giáp Thìn. Trong quẻ này hào Huynh Đệ động, gặp Nguyệt kiến mà hóa Tuần Không, nhưng cũng không thể cho rằng là không tiến.
Ví dụ: Ngày Quý Mùi tháng Tuất, xem về bệnh tật, được quẻ Càn biến Quải:


Ta bèn đoán rằng: Bệnh lâu ngày gặp xung cũng không chữa được, ở đây lại là hào Phụ trì Thế, thuốc thần cũng khó chữa. Tuy hào Thế hóa Thoái thần, nhưng không phải là điềm báo bệnh lui, mà là tượng trưng cho tinh thần, sinh mệnh dần dần tiêu hao kiệt quệ. Cần đề phòng tháng Thổ xung phá Mùi thổ, mà thành tuyệt mệnh. Sau quả nhiên chết vào tháng Sửu.
Lại ví dụ: Ngày Kỷ Mão tháng Tuất, xem cho mẹ bị chứng băng huyết đã hơn một năm, được quẻ Đồng Nhân biến Giải:


Hào Phụ Mẫu Mão mộc gặp Nhật kiến, hào thượng Tuất thổ động mà sinh Thân kim, kim sinh Hợi thủy. Nếu Sửu thổ không hóa Tiến thần để chặn thủy, thì hào Phụ Mẫu sẽ được thủy tiếp tục tương sinh, bệnh tuy hiểm nghèo nhưng không đáng ngại. Nay hào mộc Phụ Mẫu không được thủy nuôi dưỡng, lại hóa ra Thoái thần, tinh huyết bại hoại. Đến tháng Sửu, Thổ vượng sẽ lấp nghẽn nguồn nước, cần đề phòng nguy hiểm. Sau người mẹ quả nhiên mất vào tháng Sửu. Như vậy, hào Phụ gặp Nhật kiến, không hóa thành Không thành Phá, vẫn là thoái.
Lại ví dụ: Vào ngày Quý Dậu tháng Mão, xem về bệnh gần của cha, được quẻ Tụy hóa Bĩ:


Hào Mùi thổ Phụ Mẫu động hóa thành Tiến thần, Tuất gặp Tuần Không, bệnh gần gặp Không sẽ đỡ, nên đoán đến hôm sau sẽ tai qua nạn khỏi. Quả nhiên vào ngày Giáp Tuất xuất Không bệnh khỏi. Trong quẻ này hào Phụ hưu tù mà lại hóa Không, nếu theo phép cũ, Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hóa Không hóa Phá là không tiến được. Nhưng nay hào Phụ hưu tù mà lại hóa Không, bệnh vẫn khỏi.
Lại ví dụ: Ngày Quý Sửu tháng Thìn, xem lưu niên, được quẻ Khốn biến Giải:


Ta đoán rằng: Hào Thế Dần mộc gặp Tuần Không, Kỵ thần là Dậu kim động tại hào 5, sách xưa gọi là "tị Không" (tránh được Không). Nay ta không đoán theo cách đó, cho rằng khi xuất Không chắc chắn sẽ gặp tổn hại. Sau người đó chết vào tháng sáu. Sở dĩ ứng vào tháng Mùi, là vì hào thượng Mùi thổ là nơi hào Thế nhập Mộ, bị ngày Sửu xung khai, nên gọi là mở cửa mộ chờ sẵn. Bị khắc mà lại nhập Mộ, lẽ nào lại không chết? Có người hỏi rằng: "Dậu kim biến thành Thoái thần, tại sao còn khắc được mộc?" Ta bèn đáp rằng: "Ba thổ sinh Dậu kim, nên vượng mà không thoái được."
Lại ví dụ: Ngày Ất Sửu tháng Thìn, xem bệnh của mẹ vợ, được quẻ Tùy biến Bĩ:


Ta bèn đoán rằng: Hào Phụ Tý thủy biến thành Mùi thổ hồi đầu khắc Phụ. Lại thêm hào thượng Mùi thổ lại hóa thành Tiến thần mà khắc Phụ. Nên đề phòng ngày Tuất. Sau quả nhiên chết vào ngày Giáp Tuất, tức ngày Tuất thổ xuất Không. Theo phép xem cũ, gặp tán cũng như không, trong quẻ này, Mùi thổ bị Nhật thần xung, lại hóa thành Tuần Không, Nguyệt phá, nhưng vẫn không hề bị tán.
Hào động gặp Phá, gặp Tán mà hóa Nhật Nguyệt: xuất hành, người về, thăng chức, thi đậu
Sách cũ gọi hào động phá tán hóa Nhật thần, Nguyệt kiến là cùng đường, song quẻ nghiệm cho thấy chỉ là chưa tới ngày.
Lại ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Thân, xem xuất hành, được quẻ Truân hóa Tiết:


Ta bèn đoán rằng: Hào Thế Dần mộc hóa Tiến thần, có thể xuất hành. Nhưng gặp Nguyệt phá nên trước mắt vẫn chưa khởi hành được, nên đợi ngoài tháng hãy đi. Người này đợi đến tháng Hợi xuất hành, đến tháng tám năm sau mới quay về. Ta bèn hỏi: "Đi đường có được bình an không?" Anh ta đáp: "Chuyến đi lần này rất yên ổn." Ta thấy trong quẻ có hào Tử Tôn động hóa Tiến thần, biết rằng anh ta đi đường bình an nên mới hỏi như vậy. Ứng vào tháng Hợi vì là tháng Nguyệt phá gặp hợp. Như vậy là hào động gặp Phá, hóa thành Nhật thần Nguyệt kiến, làm sao có thể cho rằng gặp trường hợp này thì không thể tiến?
Ví dụ: Ngày Kỷ Mùi tháng Thìn, xem anh lúc nào về, được quẻ Lý biến Đoài:


Hào Huynh động hóa Thoái thần là người anh có ý quay về. Nhưng Tuất gặp Nguyệt phá, mọi việc ở ngoài không được như ý, đến tháng sáu mới mong được trở về. Sau quả nhiên người anh đến tháng Tuất mới về, vì đấy là tháng Nguyệt phá được điền thực. Đây là trường hợp hào động gặp Phá mà biến thành Nhật thần, Nguyệt kiến (trong quẻ này hào Huynh Tuất động biến Nhật thần Mùi thổ), nhưng sao có thể cho là không thoái?
Ví dụ: Ngày Ất Mùi tháng Thìn, xem về bệnh của con, được Đại Hữu biến Khuê:


Người ông cũng xem một quẻ cho cháu, được quẻ tương tự, tựa như từ một bàn tay sắp ra. Hào Phụ Mẫu gặp Nguyệt kiến, động hóa Thoái thần, đứa bé chết vào hôm sau.
Tân bình thích: Tôi đã gặp một vài trường hợp Dụng thần suy cực, khi gặp Trường Sinh thì hung. Ví dụ này Dụng thần vô khí, ngày hôm sau được Trường Sinh mà chết.
Lại ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Mão, nha dịch xem có lên chức không, được quẻ Giải biến Khốn:


Hào Quan động hóa Tiến thần, đến mùa thu Thân kim đương lệnh ắt được thăng chức. Sau nhận được tin thăng chức vào tháng Tị. Ứng vào tháng Tị, là do vào tháng này hào động gặp hợp, Thân kim lại gặp Trường Sinh ở Tị. Đây cũng thuộc trường hợp hào động Nhật thần, Nguyệt kiến hóa Không hóa Phá, nhưng Tiến thần vẫn được tiến.
Ví dụ: Ngày Ất Sửu tháng Dậu xem có thi đậu không, được quẻ Đoài biến Tụng:


Ta đoán rằng: Hào Mùi Phụ động hóa Tiến thần, Tị hỏa là Quan tinh sinh Thế, hiển nhiên là điềm tốt, cứ yên tâm chờ tin. Quả nhiên đến ngày Dần yết bảng, được đậu thứ tám. Nếu theo phép cũ, cho rằng hào động Phá (hào động gặp Nguyệt phá), động tán (hào động hưu tù bị Nhật thần xung), hóa thành Nhật thần, Nguyệt kiến thì không thể tiến được, nhưng trong quẻ này hào động tán (hào Mùi vượng bị ngày Sửu xung) hóa Không, nhưng vẫn được tiến mà thi đỗ.
Lại ví dụ: Ngày Đinh Sửu tháng Mùi, xem mẹ đang ở xa lúc nào trở về, được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu biến Tỉnh:


Hào sơ Tý thủy động hóa Phụ Mẫu Sửu thổ. Tý hợp với Sửu, bị hợp thì không về được. Hào Mùi Phụ động hóa Tiến thần cũng là tượng không quay về. May có hào Mùi thổ động mà sinh khởi ra hào Dậu kim Huynh Đệ; hào Huynh động hóa Thoái thần mà hợp với hào Thế, tuy mẹ không về nhưng anh em sẽ về. Người này nói: Tôi chỉ có em gái, không có em trai. Quả nhiên đến tháng ba năm sau thì em gái về đến nhà. Như vậy, hào Huynh Đệ gặp Không (Dậu) hóa Không (Thân) mà vẫn thoái.
Lại ví dụ: Ngày Tân Sửu tháng Mùi, xem về việc mở cửa hàng vàng bạc, được quẻ Phệ Hạp biến Truân:


Hào Tài trì Thế hóa Tiến thần là tượng phồn thịnh lâu dài. Ta bèn nói: Ta giúp anh chọn ngày Giáp Tuất làm ngày khai trương, chắc chắn làm ăn đại phát. Người này bèn khai trương vào ngày Tuất, đến nay vẫn buôn bán nhộn nhịp. Trong quẻ này, hào Tài động gặp Nguyệt kiến lại gặp Không (Thìn), nhưng Tiến vẫn là tiến.
Bốn loại Tiến thần và bốn loại Thoái thần
Từ ngần ấy quẻ nghiệm, Dã Hạc lão nhân rút lại thành tám điều về thời điểm tiến và thoái.
Dã Hạc lão nhân nói rằng: Tiến thần có bốn loại:
Thứ nhất, hào động vượng tướng hóa thành vượng tướng, thừa thế mà tiến.
Thứ hai, hào động hưu tù hóa thành hưu tù, đợi thời mà tiến.
Thứ ba, hào động và hào biến, nếu một trong hai hào hưu tù, cần đợi đến ngày vượng tướng sẽ tiến.
Thứ tư, hào động và hào biến, nếu một trong hai hào gặp Không, Phá, cần đợi lúc điền thực sẽ tiến.
Thoái thần cũng gồm bốn loại:
Thứ nhất, hào động vượng tướng, hóa thành vượng tướng hoặc được hào động, Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phò, nếu xem về việc gần, sẽ được thời mà không thoái.
Thứ hai, hào động hưu tù, hóa thành hưu tù, đến lúc sẽ thoái.
Thứ ba, hào động và hào biến, nếu một trong hai hào vượng tướng, thì đến lúc hưu tù sẽ phải thoái.
Thứ tư, hào động và hào biến, nếu một trong hai hào gặp Không, Phá, thì đợi đến lúc điền thực sẽ phải thoái.
Lý Ngã Bình bàn về chỗ sai của sách Dịch mạo
Lý Ngã Bình bàn rằng: Trước đây đọc "Dịch mạo" thấy có viết về đại tiến, không tiến, không thể tiến, cho là có thể chấp nhận. Nhưng sau thấy viết rằng, hào động gặp Nhật thần, Nguyệt kiến mà hóa Không, hóa Phá, là tượng cùng đường nên không tiến được, thì biết rằng sách đó viết sai. Hào động gặp Nhật thần, Nguyệt kiến, dù gặp Tuần Không cũng không bị Không, gặp Nguyệt phá cũng không bị Phá, nữa là chỉ biến thành Không thành Phá.
Nhật thần, Nguyệt kiến cũng như trời, tuy hóa Không hóa Phá, cũng chỉ như bầu trời bị mây che, đến lúc thực Không, thực Phá thì mây mù sẽ tiêu tan. Lúc đương lệnh đương quyền, thì sao có thể cho là không tiến được. Trong sách đó lại viết: Hào động gặp Phá gặp Tán mà biến thành Nhật thần, Nguyệt kiến, là mất ngôi vị, nên không tiến được. Thực không hiểu rằng, hào động gặp Phá, vẫn có ngày thực Phá; hào động mà tán, vẫn có ngày điền thực. Huống chi là hóa thành Nhật thần, Nguyệt kiến, chính là hóa vượng, đợi đến ngày điền thực, sẽ càng nên vượng nên cường, sao lại cho rằng không tiến được? Trong sách có chép một quẻ như sau:
Vào ngày Mão tháng Thân, xem về anh em, được quẻ Đoài biến Phong:


Hào Huynh Đệ Dậu bị Nhật thần Mão xung tán, tuy hóa thành Thân kim là Nguyệt kiến, là không kịp thoái. Nói không kịp thoái là sai. Trong chương "Nguyệt tướng" của sách đó có viết, hào gặp Nhật thần, Nguyệt kiến, tuy gặp tán cũng không bị tán. Tháng bảy, Dậu kim tuy không phải là Nguyệt tướng, nhưng vẫn là vượng. Lại thêm hóa thành Nguyệt kiến, hào động hào biến đều thuộc kim vượng, nâng đỡ trợ giúp, thế vững như núi, thì Nhật kiến Mão làm sao có thể xung tán được. Các chương khác đều có phần chiêm nghiệm, riêng chương này ta biết là viết bừa đoán ẩu, chứ không phải đúc rút từ kinh nghiệm.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
