Bài tổng quan
Chương Cầu Danh Và Sĩ Hoạn: Xem Thi Cử, Công Danh Và Quan Lộ
Con đường khoa cử và làm quan được Lục Hào xem xét qua hai phép Cầu Danh và Sĩ Hoạn. Cầu Danh khởi đầu bằng mười câu phú về đường công danh, khoa cử và quan lộ qua Phụ Mẫu, Quan Quỷ, Huynh Đệ, Thê Tài, Tử Tôn, rồi luận sâu về thi cử, đậu đạt, kèm nhiều điển tích khoa bảng. Sĩ Hoạn nhìn thẳng vào đời sống quan trường, xét việc bổ nhiệm, thăng giáng, bổng lộc và tai họa qua Thế Ứng, Quan Quỷ, Phụ Mẫu, Thái Tuế và Nguyệt Kiến. Trong khi Cầu Danh hỏi chuyện đỗ đạt, Sĩ Hoạn hỏi chuyện giữ và thăng chức vị, nên cùng một hệ Lục Thân được đọc theo hai nhu cầu. Với người làm quan có một quy tắc dứt khoát: hào Phụ Mẫu lâm Không thì đừng mong có sắc phong.
Mục lục · 3 phần
Cầu Danh: câu 1–11
Cầu Danh — xem đường công danh, khoa cử, quan lộ qua sáu hào của quẻ Bốc Dịch.
Xem công danh
讀書五車故欲置身于廊廟 - 胸藏萬卷肯甘遯跡于丘園
要將國家當詳易卦 - 父交旺相其文擲地金聲 - 鬼位興隆家報泥金捷喜Độc thư ngũ xa, cố dục trí thân vu lang miếu
Hung tàng vạn quyển, khẳng cam độn tích vu khâu viên
Yếu tướng quốc gia - Đương tường Dịch quái
Phụ hào vượng tướng, kỳ văn trịch địa kim thanh
Quỷ vị hưng long, gia báo nê kim tiệp hỉ
Sách đọc năm xe, nên muốn dấn thân vào lang miếu. Lòng thông vạn cuốn, sao lại cam chịu ở ruộng vườn. Muốn giúp nước nhà - Cần rành quẻ Dịch. Phụ hào vượng tướng, nổi tiếng văn chương. Quỷ hào hưng long, tin mừng đậu đạt.
Phàm xem công danh, lấy hào Phụ làm văn chương, Quỷ làm quan chức. Hai hào này là chủ trong quẻ, một hào bị thương thì không thành. Nếu hào Phụ vượng tướng, văn chương tất hay; hào Quan đắc địa, công danh có cơ hội. "Nê kim báo hỷ" nói chung là có nghĩa "đề danh ở bảng vàng", công thành danh tựu. Chẳng phải lấy Quỷ làm tin tức đến, người học nên biết rõ.
1.
財若交重休望青錢之中選 - 福如發動難期金榜之題名
Tài nhược giao trùng, hưu vọng thanh tiền chi trúng tuyển
Phúc như phát động, nan kỳ kim bảng chi đề danh
Tài giao trùng đừng mong trúng tuyển. Phúc phát động khó có lúc bảng đề danh.
(Nguyên bản không có đoạn giải thích cho câu này.)
2.
兄弟同經乃奪標之惡客
Huynh Đệ đồng kinh, nãi đoạt tiêu chi ác khách
Huynh Đệ cùng hàng là đoạt ác khách đoạt đích của ta.
Cùng loại với ta là Huynh Đệ, cầu danh mà gặp là người cùng đi với ta. Nếu Huynh Đệ phát động, hoặc Nguyệt kiến, Nhật thần đều là Huynh Đệ, tất người đồng hành quá đông, thì có thể đoạt đích đến của ta. Nếu đại tượng có thể thành tựu, thì danh cũng tụt hậu.
3.
日辰輔德實勷駕之良朋
Nhật thần phụ đức, thực nhương giá chi lương bằng
Nhật thần phụ đức, tất có bạn tốt trợ giúp.
Nếu Phụ Mẫu, Quan Quỷ vô khí, lại được Nhật thần phò khởi chủ có bạn hữu trợ giúp của cải, phí tổn trên đường cầu danh của mình.
(Tức Nhật thần sinh làm cho vượng động được.)
4.
兩用相冲題目生疏而不熟
Lưỡng Dụng tương xung, đề mục sinh sơ nhi bất thục
Hai Dụng bị xung, đề bài đơn sơ mà không thuộc.
Lấy hào Quan làm Dụng thần, thích hợp mà không thích bị xung. Nếu bị hào Quan xung, chủ đề ra trúc trắc, nên không thuộc.
5.
六爻競發功名恍惚以難成
Lục hào cạnh phát, công danh hoảng hốt dĩ nan thành
Sáu hào đều động, công danh mờ mịt khó thành tựu.
Sáu hào đều thích an tĩnh, chỉ cần Phụ Mẫu, Quan Quỷ hữu khí đừng lâm Không. Nguyệt kiến, Nhật thần đừng thương khắc Quan, Phụ, thì tốt. Phàm động tắc biến, hào biến cũng có thể Mộ Tuyệt Không, hoặc hình khắc, tất là xấu. Cho nên gặp quẻ loạn động, có thể biết đại khái là không tốt.
6.
月剋文書程式背而不中
Nguyệt khắc Văn thư, trình thức bối nhi bất trúng
Nguyệt kiến khắc Văn thư, bài làm trái thể thức không trúng với thầy.
Phụ vượng mà được động hào, Nhật thần sinh hợp, bài văn gấm hoa từng chữ một. Bị Thê Tài thương khắc, tất bài làm nhiều sơ hở. Nguyệt kiến xung khắc tất bài làm không đúng thể thức của quan trường.
7.
世傷官鬼仕途窒而不通
Thế thương Quan Quỷ, sĩ đồ trất nhi bất thông
Thế thương khắc Quan Quỷ, thì hoạn lộ trắc trở không thông.
Thế là kẻ cầu danh, nếu trì Quan Quỷ hoặc được Quan Quỷ sinh hợp, công danh có triển vọng. Nếu lâm Tử Tôn, tất khắc chế Quan Quỷ thì quan lộ không thông, mưu cầu cũng không được.
8.
妻財助鬼父交空可圖僥倖
Thê Tài trợ Quỷ, Phụ hào Không, khả đồ kiểu hãnh
Thê Tài giúp Quan Quỷ, Phụ hào lâm Không, mưu cầu nhờ may mắn.
Phụ Mẫu lâm Không, nếu được hào Tài phát động sinh phò Quan Quỷ, do may mắn mà được. Nếu cả Tài Quan đều động mà hào Phụ lâm Không, thì ngược lại không tốt, hào Phụ bất Không mới hy vọng.
9.
福德變官身位合亦叨科名
Phúc Đức biến Quan, Thân vị hợp, diệc thao khoa danh
Phúc Đức biến Quan Quỷ hợp với Thế, cũng được công danh kém.
Chánh quái không có Quan Quỷ, nếu được Tử Tôn biến thành Quan Quỷ mà sinh hợp với hào Thế mà hào Phụ có khí, công danh cũng có hy vọng, nhưng không thể đậu cao.
10.
出現無情難遂青雲之志
Xuất hiện vô tình, nan toại thanh vân chi chí
Xuất hiện mà vô tình thì cũng khó đạt chí thanh vân.
Trong quẻ nếu hào Quan không lâm trì Thế thân, ngược lại đi lâm hào khác, hoặc phát động mà đi sinh hào khác, không sinh hợp Thế thân, hoặc bị Phá, Mộ, Tuyệt đều gọi là xuất hiện vô tình, tuy có trong quẻ mà đối với ta cũng vô ích, nên khó đạt được chí cao của ta.
(Thanh vân có nghĩa "đạt đến địa vị cao".)
11.
伏藏有用終辭白屋
Phục tàng hữu dụng, chung từ bạch ốc chi nhân
Phục tàng mà hữu dụng, cuối cùng cũng từ giã cảnh nghèo hèn.
Quan Quỷ không xuất hiện, nhưng xem phục tại hào nào, nếu hào Quan này hữu dụng thì chờ đến gặp đúng năm thì sẽ từ giã cảnh nghèo hèn.
Cầu Danh: câu 12–26
12.
月建剋身當被責 - 財如生世必幫糧
Nguyệt kiến khắc Thân đương bị trách,
Tài như sinh Thế tất bang lương
Nguyệt kiến khắc Thế bị trách phạt. Tài hào sinh Thế được giúp lương.
Nguyệt kiến nếu khắc hào Thế mà hào Quan thất thời, tất bị trách phạt. Trong quẻ hào Quan trì Thế mà hào Tài phát động sinh hợp hào Thế, tất mừng được trợ giúp lương tiền.
13.
父官三合相逢連科及第
Phụ Quan tam hợp tương phùng, liên khoa cập đệ
Tam hợp với Phụ và Quan, đậu đạt liên tiếp.
Trong quẻ tam hợp thành Quan cục, tất chủ đậu liên khoa; hợp thành Phụ cục cũng tốt.
14.
龍虎二交俱動一舉成名
Long Hổ nhị hào câu động, nhất cử thành danh
Hai hào Long - Hổ đều động, một lần thi đã thành danh.
Thanh Long, Bạch Hổ đều ở trong quẻ, động sinh hợp hào Thế, tất đậu thủ khoa. Nếu ở Quan, Phụ hoặc Thế thân cũng tốt.
15.
殺化生身之鬼恐發青衣
Sát hóa sinh Thân chi Quỷ, khủng phát thanh y
Sát hóa Quỷ sinh Thế, e rằng chỉ đạt được học sinh.
Lấy Tử Tôn làm Sát, vượng phát động tất bị loại. Nếu Tử Tôn hóa Quỷ hào sinh Thế, cuối cùng chẳng thoát được nghèo hèn, chẳng qua chỉ đạt đến bậc học sinh mà thôi. Quẻ có Tài động hợp với Tử Tôn, có thể dùng tiền mà mưu cầu chức vụ cũ.
(Ngày trước quan lại muốn đi thi phải xin thôi chức, nếu hỏng lại không cho giữ chức vụ cũ nữa, vì cho rằng kém mà đi thi cầu may.)
16.
歲加有氣之官終登黃甲
Tuế gia hữu khí chi Quan, chung đăng hoàng giáp
Thái Tuế lại thêm khí lực cho Quan Quỷ, cuối cùng cũng đậu đạt.
Rất cần được hào Thái Tuế hữu tình. Nếu Thái Tuế lâm Quan Quỷ, là tượng bề tôi diện kiến quân vương, nên được sinh vượng, hữu khí, tất nêu cao danh tính.
17.
病阻試期無故空臨于世位
Bệnh trở thí kỳ vô cố, Không lâm vu Thế vị
Bệnh bất ngờ ngăn cản không thi được vì hào Thế lâm Không.
Động hào, Nhật thần đến thương khắc Thế mà Thế lại lạc Không vong là tượng đại hung. Xem trước khi thi thì đi cũng không thành, miễn cưỡng mà đi cuối cùng bất lợi.
18.
喜添場屋有情龍合于身交
Hỉ thiêm trường ốc hữu tình, Long hợp vu Thân hào
Mừng được hữu tình về việc thi cử là do Long hợp với hào Thế.
Nếu quẻ có đại tượng tốt, lại được Long động sinh hợp Thân Thế, không những chi danh thành mà có nỗi mừng riêng. Nếu lâm Không động tất đợi ngày tháng xuất Không sẽ thấy vui mừng.
19.
財伏逢空行糧必乏
Tài phục phùng Không, hành lương tất phạp
Tài hào phục mà lâm Không, thiếu lương ăn trên đường đi.
Trong 6 hào của quẻ không có hào Tài, Tài phục mà lại lâm Không tất thiếu lương ăn đi đường.
20.
身興變鬼來試方成
Thân hưng biến Quỷ, lai thí phương thành
Thế động hóa Quỷ, đi thi tất đạt.
Quẻ có mòi không thành, nhưng được Thế hào động hóa Quỷ hữu khí mà Phụ Mẫu không bị chế, thì có thể đậu được.
21.
卦值六冲此去難題雁塔 - 交逢六合這回必占鰲頭
Quái trị Lục xung, thử khứ nan đề nhạn tháp
Hào phùng Lục hợp, giá hồi tất chiếm ngao đầu
Gặp quẻ Lục xung, lần đi này khó đậu được. Gặp quẻ Lục hợp, lần này tức đậu đầu.
Xem công danh gặp quẻ Lục xung tất khó thành, được quẻ Lục hợp tất dễ đậu.
22.
父旺官衰可惜劉賁之下第 - 父衰官旺堪嗟張爽之登科
Phụ vượng Quan suy, khả tích Lưu Quí chi hạ đệ
Phụ suy Quan vượng, kham ta Trương Sảng chi đăng khoa
Phụ vượng Quan suy, Lưu Quí hỏng thật đáng tiếc. Phụ suy Quan vượng… than ôi Trương Sảng lại đậu.
Phụ Mẫu, Quan Quỷ nên hữu lực, chớ bị chế thì công danh có thể thành. Nếu Phụ Mẫu vượng tướng mà Quan Quỷ lâm Không hoặc không hiện trên quẻ, bài làm tốt mà không được đậu, như Lưu Quí văn chương xuất sắc mà không đậu được. Nếu hào Phụ suy nhược, được hào Quan vượng động phù khởi Văn thư thì văn chương tuy bình thường nhưng có thể thành danh, như Trương Sảng văn chương không xuất sắc mà đậu cao.
23.
應合日生必資鴉薦 - 動傷日剋還守雞窗
Ứng hợp Nhật sinh tất tư nha tiến,
Động thương Nhật khắc hoàn thủ kê song
Hào Ứng hợp, Nhật thần sinh tất được tiến cử. Hào động thương, Nhật thần khắc vẫn còn phải học.
Phụ Quan hóa Tuyệt, danh tất khó thành. Nếu hào Ứng, động hào hoặc Nguyệt kiến, Nhật thần phù khởi Quan Quỷ, tất phải có người tiến cử, hoặc dùng tiền của cầu danh tất được.
24.
世動化空用旺則豹變翻成蝴蝶
Thế động hóa Không, Dụng vượng tắc báo biến phiên thành hồ điệp
Thế động hóa Không, Dụng thần vượng thì hiển danh trở thành mộng ảo.
Nếu được quẻ sẽ đậu đạt, nhưng Thế hào động nhập Mộ Tuyệt, sợ sau khi thành danh không được hưởng phước. Gặp quẻ Du hồn thì chết dọc đường, Qui hồn thì đến nhà mới chết, hào Mộ Tuyệt là Thái Tuế thì qua năm mới chết.
25.
身官化鬼月扶則鵬程連步蟾宮
Thân Quan hóa Quỷ, Nguyệt phù, tắc bằng trình liên bộ thiềm cung
Thân ở Quan hóa Quỷ được Nguyệt kiến phò, tắc đường công danh đạt đến cung trăng.
Quái Thân là sự thể, nên hợp với công danh, sợ lâm Tài Phúc. Nếu Quan hào ở đấy thì có danh vọng, lại nếu phát động hóa Quan mà được Nguyệt kiến sinh hợp, tất chủ đậu đạt liên tiếp.
26.
更詳本主之交神方論其人之命運
Cánh tường bản chủ chi hào thần, phương luận kỳ nhân chi mệnh vận
Lại phải rõ hào bản chủ, mới luận được mệnh vận của người xem.
Bản chủ là hào chủ của người xem. Tự xem thì lấy hào Thế mà luận, xem cho con thì xem hào Tử Tôn chẳng hạn. Hào chủ này sợ bị khắc chế, và hung xấu. Tùy hào này mà hung cát sẽ ứng.
Lời kết Chương 10
雖賦數言總論窮通之得失 - 再將八卦重推致用之吉凶
Tuy phú số ngôn, tổng luận cùng thông chi đắc thất
Tái tương bát quái, trùng suy chí dụng chi cát hung
Tuy vài câu phú mà luận chung cùng thông đắc thất. Lại đem bát quái, suy thêm xem hung hay cát.
Sĩ Hoạn
Sĩ Hoạn (làm quan) — xem việc bổ nhiệm, thăng giáng, bổng lộc, tai họa quan trường qua sáu hào của quẻ Bốc Dịch.
1.
為國求賢治民為本 - 置身輔相祿養為先
旺相妻財必得千鐘之粟 - 興隆官鬼定居一品之尊Vị quốc cầu hiền trị dân vi bản
Trí thân phụ tướng lộc dưỡng vi tiên
Vượng tướng Thê Tài tất đắc thiên chung chi túc
Hưng long Quan Quỷ định cư nhất phẩm chi tôn
Vì nước cầu hiền là gốc việc trị dân. Đem thân làm quan lấy lộc làm đầu. Thê Tài vượng tướng tất được gạo lúa ngàn chung. Quan Quỷ hưng vượng địa vị tôn quí nhất phẩm.
Mạt sĩ cầu danh thì không cần có hào Tài, quí nhân đã ra làm quan cần có hào Tài, vì có tước tất có lộc, chưa hề làm quan mà không có bổng lộc. Cho nên xem về quan chức được hào Tài vượng tướng tất bổng lộc nhiều. Nếu hào Tài hưu tù hoặc Không hoặc phục thì chưa có bổng lộc. Tài hào bị xung thì có sự cố mà giảm bổng. Nếu Nhật thần, Nguyệt kiến xung Tài, mà hình hại Thế hào, Quan hào e bị ngưng bổng giảm chức. Quan Quỷ vượng tướng chức cao tước lớn, hưu tù Tử Tuyệt thì chức nhỏ tước kém, nếu phát động sinh hợp Thế hào, được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phò tất được đề bạt.
2.
子若交重當慮剝官削職
Tử nhược giao trùng, đương lự tước quan bác chức
Tử Tôn nếu động, phải lo bị tước quan cách chức.
Trong quẻ nếu Tử Tôn phát động, mưu cầu tất không toại lòng. Nếu đã có chức vụ e bị họa cách tước chức.
3.
兄如發動須防減俸除糧
Huynh như phát động, tu phòng giảm bổng trừ lương
Huynh Đệ nếu phát động, cần phòng cắt trừ lương bổng.
Huynh Đệ phát động, không tránh khỏi hao nhiều tiền của mà bị chê bai. Nếu Tử Tôn cùng động, hoặc Huynh Đệ hóa Tử Tôn, tất có việc giảm trừ lương bổng. Huynh trì Thân, lâm Thế đều bất lợi.
4.
父母空亡休望差除宣敕
Phụ Mẫu Không vong, hưu vọng sai trừ tuyên sắc
Phụ Mẫu lâm Không, đừng mong có được sắc phong.
Hào Phụ Mẫu là ấn tín, văn thư, cáo mệnh, sắc phong, tấu thư, biểu chương, không thể thiếu ở trong quẻ. Hào Phụ cần vượng tướng, không nên suy. Nếu phò Thế là tốt nhất, như hữu khí trì Thái Tuế mà sinh hợp với hào Thế chủ có chiếu ban của triều đình. Nếu là Nguyệt kiến tất quan trên khen thưởng chẳng hạn… Nếu hào Phụ lâm Không thì đừng mong tưởng.
(Tức những loại văn thư này: Tấu thư là sớ tấu lên vua, cáo mệnh là "lệnh vua ban", sắc phong là "giấy phong chức hàm", biểu chương là "văn thư dâng lên".)
5.
官交隱伏莫思爵位升遷
Quan hào ẩn phục, mạc tư tước vị thăng thiên
Hào Quan ẩn phục, chớ mong tước vị thăng tiến.
Quan hào lâm trì Thế Thân, hoặc động sinh hợp hào Thế, không bị Nguyệt kiến, Nhật thần xung khắc, mọi điều mưu cầu có thể hợp ý.
6.
月建生身當際風雲之會
Nguyệt kiến sinh Thân, đương tế phong vân chi hội
Tuế quân hợp Thế, tất thừa vũ lộ chi ân
Nguyệt kiến sinh Thân, đang thời gặp hội rồng mây. Thái Tuế hợp Thế, tất hưởng ân mưa móc.
Thái Tuế tượng quân vương, Nguyệt kiến là quan cầm quyền. Nếu Thái Tuế, Nguyệt kiến sinh hợp Thế Thân, tất có điều tốt. Chỉ sợ xung khắc Thế Thân tất bị biếm trích. Nếu Nguyệt kiến sinh phò Quan hào, Thế hào tất có chức về pháp luật. Thái Tuế ở hào Phụ phò hào Quan hoặc hào Thế tất có ân vua, nếu hào Quan sinh vượng càng tốt.
(Biếm trích: cách chức đổi đi.)
7.
世動逢空居官不久
Thế động phùng Không, cư Quan bất cửu
Thế động lâm Không thì làm quan không lâu.
Nếu là quan tuần tra bên ngoài, Thế động lâm Không thì ngược lại là tốt cho mình. Gặp Nhật thần, động hào tương xung tất làm quan không lâu.
8.
身空無救命盡當危
Thân Không vô cứu, Mệnh tận đương nguy
Thân lâm Không mà không thể cứu giải, tất mệnh vận nguy hiểm.
Thế lâm Không mà không cứu giải được, không kể chức mới nhận hay nhận lâu rồi, cũng gặp đại nạn đến mất mệnh. Nếu xem mưu cầu chuyện gì thì sẽ không thành.
9.
鬼化福冲當代職
Quỷ hóa Phúc xung đương đại chức
Quỷ hóa Tử Tôn thì bị thay chức.
Qua tuần tra nên Quỷ động, quan điều hành nên Quỷ an tĩnh. Nếu Quan động hóa Tử tất có quan khác đến thay thế.
10.
財臨福動必憂丁
Tài lâm Phúc động tất ưu đinh
Tài lâm, Phúc động tất có tang chế.
Xem về việc quan không thể thiếu hào Tài, mà cũng không nên Tài động. Nếu Quan vô khí mà được Tài động phò khởi, tất nên dùng tiền mà mưu cầu quan chức, mới được thăng tiến. Nếu cha mẹ yếu mà gặp hào Tài này lâm Bạch Hổ, vượng động tất có tang cha mẹ.
11.
日辰冲剋定然誹謗之多招
Nhật thần xung khắc, định nhiên phỉ báng chi đa chiêu
Nhật thần xung khắc tất bị chê bai nhiều.
Nhật thần hình xung khắc Thế, tất bị chê bai. Theo lục thân mà suy, như ở Huynh Đệ tất vì hối lộ hoặc bức bách thu thế; ở Thê Tài thì vì tiền thuế không thu được; ở Tử Tôn vì rượu chè mà bỏ bê việc quan; ở Phụ Mẫu vì việc quan nhiều không lo liệu hết; ở Quan Quỷ thì nếu không bị hình trượng, sẽ bị quan cùng triều không hợp tác. Nếu Thế ở Nguyệt kiến thì tuy bị chê bai cũng không có cớ.
12.
鬼煞傷身因見災殃之不免
Quỷ sát thương Thân, nhân kiến tai ương chi bất miễn
Quỷ sát thương Thân, không khỏi bị tai ương.
Quan Quỷ động mà sinh hợp Thế là Dụng thần; động mà khắc thương hào Thế là Quỷ sát. Sinh phò hợp Thế là điềm tiến thủ; hình xung khắc Thế là hung họa.
13.
兄交化鬼無情同僚不協
Huynh hào hóa Quỷ vô tình, đồng liêu bất hiệp
Huynh hào hóa Quỷ mà vô tình thì quan đồng liêu không hợp sức.
Trong quẻ Quỷ động hóa xuất Huynh Đệ, xung khắc hào Thế chủ bất hòa với đồng liêu. Hoặc Huynh Đệ hình hại thương khắc Thế cũng như vậy. Thế khắc hào Huynh là ta xem thường người.
14.
太歲加刑不順貶謫難逃
Thái Tuế gia hình bất thuận, biếm trích nan đào
Thái Tuế có thêm hình mà không thuận, khó tránh bị cách chức đổi đi.
Thái Tuế động thương khắc Thế hào, tất bị biếm trích, lại gia thêm hình hại Xà Hổ tất bị nỗi nhục gông cùm.
15.
卦靜世空退休之兆 - 身空煞動避禍之徵
Quái tĩnh, Thế Không thoái hưu chi triệu
Thân Không, Sát động tị họa chi trưng
Quẻ tĩnh, Thế lâm Không là điềm lui về. Thân lâm Không, Sát lại động nên tránh họa.
Đã làm quan mà Thế hào lâm Không, nếu sáu hào an tĩnh, Nhật Nguyệt thương khắc Thế là điềm về hưu. Nếu Quỷ động cùng Nhật Nguyệt, Thái Tuế thương khắc Thế hào, mà Thế hào lâm Không, tức cần tránh gấp khó tránh được họa.
16.
身邊伏鬼若非空頭上烏紗終不脫
Thân biên phục Quỷ nhược phi Không, đầu thượng ô sa chung bất thoát
Quỷ phục bên Thân nếu không lâm Không, thì cuối cùng không cởi mũ ô sa trên đầu.
Được Quỷ hào lâm Thân trì Thế, hoặc Quỷ phục dưới hào Thế tuy bị trách phạt nhưng vẫn còn quan chức. Nếu Quan hào không lâm trì Thế thân, hoặc không phục dưới hào Thế, hoặc tuy phục dưới hào Thế nhưng lâm Không, tất bị cách chức.
17.
財空鬼動聲名震而囊篋空虛
Tài Không, Quỷ động, thanh danh chấn nhi nang khiếp không hư
Tài lâm Không, Quỷ động, tiếng tăm vang dội mà túi thì rỗng không.
Phàm được Quan động sinh hợp hào Thế, Nhật Nguyệt, động hào lại không xung khắc thì làm quan có thanh danh, nếu được Tài hào sinh phò hợp trợ thì tuy bên trong tham lam hối lộ mà bên ngoài không mất danh. Nếu Thế hào Không phục, Tài hào Tử Tuyệt, tuy có thanh danh nhưng không ăn của hối lộ.
18.
官旺父衰職任高而衙門冷落
Quan vượng Phụ suy, chức nhậm cao nhi nha môn lãnh lạc
Quan vượng, Phụ suy thì chức cao mà nơi làm việc quan thì vắng vẻ.
Hào Phụ vượng tất cửa quan to lớn, hưu tù thì cửa quan bé nhỏ. Nếu Quan vượng Phụ suy thì chẳng phải chức nhỏ nhưng cửa quan an nhàn và vắng vẻ. Quan Phụ đều suy thì chức nhỏ mà cửa quan bé.
19.
職居風憲皆因月值官交
Chức cư phong hiến giai nhân Nguyệt trị Quan hào
Giữ chức về phong hiến là do Nguyệt kiến trị ở hào Quan.
Quan Quỷ không lâm Nguyệt kiến thì chắc chắn không giữ chức vụ về phong hiến. Nếu lâm Nguyệt kiến lại phù trợ cho hào Thế, chắc chắn giữ chức vụ về phong hiến, mà không phải là quan ở huyện ở châu. Nếu có Bạch Hổ ở hào hình thế chủ trấn thủ ở biên thùy, nắm giữ binh quyền.
(Phong hiến: chỉ chức vụ coi về phép tắc, về giáo hóa dân chúng.)
20.
官在二司只為鬼臨傍位
Quan tại nhị ti, chỉ vi Quỷ lâm bàng vị
Quan ở cơ quan nhỏ chỉ vì Quỷ ở bàng hào.
Quan ở Tí Ngọ Mão Dậu là quan chính ấn. Quan ở Dần Thân Tị Hợi là chức quan phụ tá. Quan ở Thìn Tuất Sửu Mùi là quan tạp chức. Nếu lâm ở Nhật thần Nguyệt kiến là nắm ấn.
21.
撫綏百性兄動則難化愚頑
Phủ tuy bách tính, Huynh động tắc nan hóa ngu ngoan
Quan cai trị vỗ về dân chúng nếu có Huynh động thì khó giáo hóa vì ngu muội.
Phàm quan chăn dân thì cần Tài hào vượng mà bất động, Phụ Mẫu phù trợ mà chẳng Không thì mới tốt. Nếu Tài hào Không Tuyệt, Phụ hào bị Hình thì đất đai khô cằn dân nghèo hèn. Phụ Mẫu động lâm Thế việc chính sự quá bê bối. Huynh Đệ trì Thế thì tiền bạc không vượng, hoặc dân nghèo khó trị.
22.
巡察四方路空則多憂驚怪
Tuần sát tứ phương, lộ Không tắc đa ưu kinh quái
Quan đi tuần sát bốn phương, hào lộ gặp Không vong thì nhiều âu lo kinh sợ.
Quan khâm sai đi tuần sợ Thế hào gặp Không. Nếu Thế ở hào ngũ lâm Không, sợ bị Nhật Nguyệt hình khắc, e bị họa hại tai ách giữa đường.
23.
出征剿捕福德興而寇賊殲亡
Xuất chinh tiễu bổ, Phúc Đức hưng nhi khấu tặc tiêm vong
Đem quân đánh dẹp, Phúc Đức vượng thì giặc bị tiêu diệt.
Phàm nhận chức tướng soái, hoặc quan võ đi đánh giặc, bình thường bói không nên Tử Tôn phát động vì sẽ bị giáng chức đổi đi. Nếu như gặp việc mà bói thì mừng được Tử Tôn phát động, tất tiễu trừ giặc có công lớn. Thế khắc Ứng cũng tốt.
24.
鎮守邊陲卦爻靜而華夷安泰
Trấn thủ biên thùy, quái hào tĩnh nhi Hoa di an thái
Giữ gìn biên thùy, hào trong quẻ an tĩnh thì định yên các rợ.
Không kể quan chức văn hay võ trấn thủ ở địa phương đều nên sáu hào an tĩnh, không bị Nhật Nguyệt xung khắc thì yên ổn không lo. Nếu gặp Quan Quỷ phát động, Thế Ứng xung khắc tất bị quấy phá. Cần biến hóa mà suy ra.
25.
奏陳諫諍那堪太歲肸刑
Tấu trần gián tránh, na kham Thái Tuế xung hình
Tâu trình can gián nào chịu được Thái Tuế hình xung.
Phàm gặp việc dâng sớ tâu trình, can gián cùng diện kiến vua, đều kỵ bị động hào xung khắc, cùng kỵ Thái Tuế hình khắc hào Thế. Nếu được Thái Tuế, Nguyệt kiến sinh hợp với Thế hào tất được chấp thuận. Nếu xung khắc cần phòng tai họa bất trắc.
26.
僧道醫官豈可文書發動
Tăng đạo y quan, khởi khả Văn thư phát động?
Với tăng đạo, thầy thuốc há Văn thư có thể động sao?
Với tăng đạo, quan ngự y đều lấy Tử Tôn làm Dụng thần. Nếu Phụ động tất khắc tăng đạo y quan, dùng thuốc không linh nghiệm mà trái lại kết quả không tốt, nếu bị khắc xung cần phòng thị phi.
Lời kết Chương 11
但隨職分之推詳 - 可識仕途之否泰
Đãn tùy chức phận chi suy tường
Khả thức sĩ đồ chi bỉ thái
Nhưng tùy theo chức phận mà suy rõ. Là có thể biết hung cát trên đường làm quan.
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
